Quản lý hoạt động đánh giá nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ 5 tuổi tại Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
_____________

______________
NGUYỄN THỊ THANH LOAN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ NHẰM
TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG SẴN SÀNG ĐI HỌC
CỦA TRẺ 5 TUỔI TẠI QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG THỊ THANH HUYỀN

HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn Ban lãnh đạo, các
giảng viên Học viện quản lý giáo dục - Bộ GD&ĐT đã tận tình giảng dạy, hướng
dẫn và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại lớp Cao học
khóa 2012- 2014, chuyên ngành Quản lý giáo dục.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo phòng GD&ĐT quận Hai Bà
Trưng, các đồng chí chuyên viên tổ mầm non phòng GD&ĐT, các bậc phụ huynh,
đội ngũ hiệu trưởng hiệu phó, giáo viên lớp mẫu giáo 5 tuổi các trường mầm non
trong quá trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS
Đặng Thị Thanh Huyền- Người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn tác giả
trong quá trình hoàn thành bản luận văn này.
Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do điều kiện và năng lực bản thân còn hạn chế nên
bản luận văn này vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự chỉ dẫn góp ý của
Quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.

6. Phạm vi nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
8. Đóng góp của luận văn 4
9. Bố cục luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TRẺ MẪU GIÁO
5 TUỔI 5
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Các khái niệm cơ bản 6
1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ và một số đặc trưng của ngành học Mầm non 10
1.4. Yêu cầu phát triển của trẻ 5 tuổi và hoạt động đánh giá trẻ 5 tuổi 15
1.4.1. Các yêu cầu phát triển của trẻ 5 tuổi 15
1.4.2 Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 16
1.4.3. Hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 17
1.5. Hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi của giáo viên 19
1.6. Nội dung quản lý hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong nhà trường
của hiệu trưởng trường mầm non 21
1.6.1 Việc xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5
tuổi trong nhà trường 21
1.6.2 Tổ chức hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 22
1.6.3 Chỉ đạo hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 23
1.6.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đánh giá trẻ của giáo viên 23
1.7. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5
tuổi 25
1.7.1. Nhận thức của CBQL, GV trường mầm non và cha mẹ trẻ về hoạt động
đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 25
1.7.2. Yếu tố về chất lượng đội ngũ giáo viên ảnh hưởng đến hoạt động đánh
giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 25
1.7.3. Sự quan tâm của cha mẹ trẻ mầm non 26
1.7.4. Vai trò của Hiệu trưởng trường mầm non 26
Tiểu kết chương 1 27

trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường mầm non 62
2.6. Đánh giá chung về thực trạng 63
2.6.1. Những mặt mạnh 63
2.6.2. Những mặt hạn chế 64
2.6.3. Nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan 65
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TRẺ NHẰM
TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG SẴN SÀNG ĐI HỌC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 TUỔI TẠI
CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP QUẬN HAI BÀ TRƯNG, 68
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68
3.1 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất biện pháp 68
3.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 68
3.1.2 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 69
3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá trẻ nhằm tăng cường khả
năng sẵn sàng đi học cho trẻ 5 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận Hai Bà
Trưng 69
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá trẻ mẫu
giáo 5 tuổi một cách chặt chẽ, khoa học, sáng tạo đáp ứng yêu cầu mới 71
3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về hoạt
động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho
trẻ 74
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường chỉ đạo xây dựng bộ công cụ đánh giá trẻ mẫu
giáo 5 tuổi có chất lượng nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ 78
3.2.5 Biện pháp 5: Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường trong công
tác đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ.
81
3.2.6. Biện pháp 6: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên trong hoạt
động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho
trẻ 84
3.3. Khảo nghiệm về tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp 86

Bảng 2.14. Ý kiến của giáo viên về Bộ công cụ kiểm tra xác xuất của CBQL tại các trường
mầm non Quận Hai Bà Trưng 59
Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá của GV và cha mẹ trẻ về việc phối hợp giữa nhà trường và phụ
huynh trong hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 60
Bảng 2.16 Nhận thức của CBQL,GV và cha mẹ trẻ 62
về hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 62
Bảng 2.17 Ý kiến của giáo viên về nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên về hoạt động đánh giá
trẻ mẫu giáo 5 tuổi 75
Bảng 3.1. Ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp tăng cường quản lý hoạt
động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ của
hiệu trưởng trường mầm non 87
Bảng 3.2. Ý kiến đánh giá về tính khả thi của các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động
đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ của hiệu
trưởng trường mầm non 88
Đồng chí hãy cho biết nhận thức của mình về hoạt động đánh giá 19
trẻ mẫu giáo 5 tuổi 19
Đồng chí hãy cho biết nhận thức của mình về hoạt động đánh giá 22
trẻ mẫu giáo 5 tuổi 22
Ý kiến đánh giá của cha mẹ trẻ về việc phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong hoạt
động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi 29
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Số lượng trẻ Nhà trẻ và Mẫu giáo trong 4 năm học 32
Biểu đồ 2.2: Quy mô trường, lớp mầm non công lập 33
Biểu đồ 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động đánh giá trẻ
mẫu giáo 5 tuổi nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ của hiệu trưởng trường
mầm non 87
Biểu đồ 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động đánh giá trẻ
mẫu giáo 5 tuổi nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ của hiệu trưởng trường
mầm non 88


động đánh giá trẻ, chỉ dừng lại ở mức độ hoàn thành công việc mà chưa có sự đầu
tư về thời gian và công sức trong hoạt động đánh giá, điều này sẽ tạo nên sự tác
động không phù hợp đối với trẻ, ảnh hưởng đến sự phát triển hài hòa, cân đối của
trẻ. Việc chỉ đạo hoạt động đánh giá trẻ đối với giáo viên mới chỉ mang tính hình
thức, bề ngoài, chưa có chiến lược rõ ràng, chưa xác định được tầm quan trọng cũng
như nội dung chưa phù hợp, các biện pháp chỉ đạo chưa đồng bộ và chưa mang tính
chủ động.
Với mong muốn góp một phần công sức của mình vào việc nghiên cứu thực
trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá trẻ 5 tuổi trong trường
mầm non, góp phần nâng cao chất lượng trẻ, nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi
học của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại các trường công lập Quận Hai Bà Trưng, Thành phố
Hà Nội. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài luận văn “ Quản lý hoạt
động đánh giá nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ 5 tuổi tại
Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý về hoạt động đánh giá trẻ
mẫu giáo 5 tuổi, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động đánh giá trẻ để nâng cao chất lượng trẻ, tăng cường khả năng sẵn sàng đi
học của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại các trường công lập quận Hai Bà Trưng góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
3. Giả thuyết khoa học
Trong 3 năm học vừa qua, công tác quản lý hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo
5 tuổi của các trường công lập quận Hai Bà Trưng đã đạt được kết quả nhất định
tuy nhiên còn 1 số vấn đề cần giải quyết như: việc xây dựng kế hoạch chỉ đạo đánh
giá, tổ chức các hoạt động đánh giá,việc thiết kế các bài tập để đánh giá trẻ, phối kết
hợp giữa gia đình và nhà trường
Nếu thực hiện đồng bộ các biện pháp do tác giả đề xuất thì chất lượng quản
lý hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi chắc chắn sẽ được nâng cao.
2
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.

động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại một số trường công lập quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu định tính:
- Phỏng vấn sâu: Chuyên viên tổ mầm non Phòng GD & ĐT, CBQL các
trường mầm non nhằm tìm hiểu sâu hơn về quản lý hoạt động đánh giá trẻ mẫu
giáo 5 tuổi tại một số trường công lập quận Hai Bà Trưng.
- Trò chuyện, thảo luận nhóm giáo viên lớp mẫu giáo 5 tuổi nhằm tìm hiểu
thêm về nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, thực trạng hoạt động đánh giá trẻ mẫu
giáo 5 tuổi.
- Phỏng vấn cha mẹ trẻ nhằm khai thác thông tin về sự phối hợp giữa nhà
trường và cha mẹ trẻ trong hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại 1 số trường
công lập Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà nội
8. Đóng góp của luận văn
Phát hiện những vấn đề trong hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại các
trường mầm non công lập quận Hai Bà Trưng cần ưu tiên giải quyết. Từ đó, đề xuất
biện pháp quản lí hoạt động đánh giá trẻ nhằm nâng cao chất lượng trẻ, tăng cường
khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại các trường công lập Quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
9. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
trình bày qua 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi
Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động đánh giá trẻ nhằm tăng cường
khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá trẻ nhằm tăng
cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội
4
Chương 1

5
1.2. Các khái niệm cơ bản
Mầm non: là mầm cây non mới mọc. Còn theo nghĩa khác mầm non thường
được dùng để nói về lứa tuổi nhi đồng, thế hệ mầm non là tương lai của đất nước.
Tuổi mẫu giáo là gì? Theo bác sĩ Trần Di Ái dịch (chủ biên) trong tác phẩm
“ Những con đường của tâm lý học” tập 3 thì: “tuổi mẫu giáo là độ tuổi từ 3-6 tuổi,
thuộc thời kỳ “ thời trẻ em” trong cuộc đời mỗi con người” (tr 3)
Giai đoạn phát triển ở lứa tuổi từ 0-6 tuổi là nền tảng cho sự phát triển toàn diện
của trẻ. Các công trình nghiên cứu về giáo dục sớm đều cho rằng: giai đoạn từ 0-6 tuổi,
giai đoạn não bộ phát triển nhanh nhất, đó là“ giai đoạn vàng”, “ cửa sổ của cơ hội” do
vậy đây là thời điểm có thể giúp trẻ khám phá và phát huy những tố chất vượt trội, nhằm
giúp bé phát triển một cách toàn diện trong những năm đầu đời.
Trường mầm non: là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, là
trường được liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo. Trường mầm non có chức năng thu
nhận để chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nhằm giúp trẻ hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1. Trường
mầm non có các lớp mẫu giáo và các nhóm trẻ. Trường do một BGH, có hiệu
trưởng phụ trách.
Trường mẫu giáo: là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, có
chức năng thu nhận để chăm sóc giáo dục trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, chuẩn bị cho trẻ
vào lớp 1. Trường mẫu giáo gồm có các lớp mẫu giáo và có thể có cả nhóm trẻ.
Trường do một BGH, có hiệu trưởng phụ trách.
Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi: Bộ chuẩn gồm 4 lĩnh vực (phát triển thể
chất, tình cảm quan hệ và xã hội, phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, nhận thức ) gồm
28 chuẩn với 120 chỉ số. Theo định hướng chung, Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
hướng trẻ tới kiến thức, kỹ năng nên biết và có thể làm được thông qua giáo dục; là
cơ sở hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non nhằm nâng cao chất lượng
chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em 5 tuổi vào lớp 1. Đây cũng là cơ sở
để các nhà trường thực hiện hoạt động đánh giá trẻ, xây dựng bộ công cụ đánh giá
6

năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình GD mầm non sẽ là nền tảng cho việc
học tập và thành công sau này của trẻ. Do vậy, phát triển GD mầm non, tăng cường
khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Quản lý:
Có nhiều định nghĩa về quản lý theo những quan điểm khác nhau:
Theo Taylor nhà quản lý người Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật, biết rõ chính
xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất
[7;89].
Theo Harold Koontz thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm. Mục tiêu của
nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục
đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách
thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là khoa học”
[7; 138].
Theo từ điển tiếng Việt thì quản lý là: trông coi và giữ gìn; là tổ chức và điều
khiển các hoạt động các hoạt động theo những yêu cầu nhất định (tr 540)
Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong tác phẩm "Những vấn đề cốt yếu
trong quản lý” (1987) quan niệm rằng: "Quản lý là một quá trình có định hướng,
quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống
nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng
thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn" [22, tr 17 ].
Từ các cách tiếp cận nêu trên, ta thấy có những điểm chung khi quan niệm
về quản lý là: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích, có kế hoạch của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trên cơ sở bỉết sử dụng có hiệu quả các tiềm
năng nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Hiện nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa rõ hơn “ Quản lý là quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra”
8

9
có tác động qua lại với môi trường đó. Theo GS.TSKH Phạm Minh Hạc: “Quản lý
nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi của mình, đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu
đào tạo đối với ngành GD&ĐT, đối với thế hệ trẻ và các học sinh” [10, tr 27 ].
Quản lý trường mầm non là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên để chính họ tác động trực
tiếp đến quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với
từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học.
Chuẩn phát triển trẻ em là những mong đợi về những gì trẻ nên biết và có
thể làm được dưới tác động của giáo dục.
Đánh giá sự phát triển trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có
hệ thống, phân tích và đối chiếu với mục tiêu của chương trình giáo dục, nhằm theo
dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc,giáo dục trẻ, đảm bảo sự
phát triển của trẻ phù hợp với mục tiêu giáo dục. Đánh giá sự phát triển của trẻ là
hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng để tăng cường khả năng sẵn sàng đi học
cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi.
Thang đo sự phát triển của trẻ: Ba yếu tố then chốt để đánh giá sự phát
triển của trẻ một cách toàn diện bao gồm:
- Thể chất: Cân nặng, chiều cao, các số đo khác (vòng bụng, chiều dài chi…).
- Tâm thần: Khả năng nhận biết các yếu tố xung quanh, các biểu hiện về cảm
xúc, phát âm…
- Vận động: Các động tác di chuyển cơ thể (nằm, trở mình, lật, ngồi, đứng,
đi), các cử động tay chân (chỉ trỏ, cầm nắm…), độ chính xác của động tác.
Chỉ khi ba yếu tố thể chất - tâm thần - vận động phát triển tương đồng với
nhau, trẻ mới được đánh giá là phát triển đúng với tuổi của mình.
1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ và một số đặc trưng của ngành học Mầm non
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ em vào lớp 1.

nhưng cũng đồng thời phải quyết đoán để có những quyết định đứng đắn, kịp thời
nhằm phát huy những mặt mạnh, mặt yếu còn tồn tại trong tập thể nữ.
Chương trình giáo dục mầm non mới
Chương trình GD Mầm non mới do Bộ GD&ĐT ban hành được biên soạn
theo hướng chương trình khung cấp quốc gia, phù hợp với từng độ tuổi nhà trẻ và
mẫu giáo.
Mục tiêu chương trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi xây dựng theo các lĩnh vực phát
triển gồm: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm - xã hội , thẩm mĩ nhằm hình
thành, phát triển tối đa tiềm năng vốn có ở trẻ và hình thành những giá trị, những kĩ
năng sống cần thiết, phù hợp với yêu cầu của gia đình, cộng đồng, xã hội, chuẩn bị
tâm thế cho trẻ 5 tuổi sẵn sàng đi học lớp 1.
Nội dung chương trình gồm 2 phần chính: nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe và
giáo dục trẻ theo độ tuổi. Kết quả mong đợi là trẻ 5-6 tuổi sau khi hoàn thành
chương trình GD Mầm non sẽ có đầy đủ điều kiện về thể lực, trí tuệ, ngôn ngữ, tâm
lý để bước vào học tập ở trường phổ thông. Hoạt động GD gồm có hoạt động chơi,
hoạt động học, hoạt động lao động, hoạt động ăn ngủ, vệ sinh cá nhân. Hình thức
giáo dục trẻ theo mục đích và nội dung giáo dục, vị trí không gian, theo số lượng
trẻ. Phương pháp giáo dục gồm có 5 phương pháp: thực hành, trải nghiệm, trực
quan minh họa, dùng lời nói, tình cảm khích lệ, nêu gương đánh giá. Tổ chức môi
trường cho trẻ hoạt động chú ý đến môi trường cho trẻ hoạt động trong phòng, lớp
và môi trường xã hội. Việc đánh giá sự phát triển của trẻ sẽ được thực hiện hàng
ngày, đánh giá trẻ tại cuối mỗi chủ đề và theo giai đoạn.
Quản lý giáo dục mầm non:
Giáo dục mầm non là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lý
GD tại các cấp đều nhằm mục đích tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các cơ sở
giáo dục thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục.
Nhà trường là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục được thành lập theo quy
hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, được tổ chức
theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục. Trường mầm non là đơn vị
12

ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên và trẻ em gửi vào trường. Quản lý sử dụng đất đai,
trường sở, trang thiết bị, tài chính của nhà trường theo qui định của pháp luật. Kết
hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức xã hội và các cá nhân trong hoạt động chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ em Nhiệm vụ của trường mầm non không chỉ thực hiện
chăm sóc, nuôi dưỡng mà còn giáo dục trẻ phát triển toàn diện.
Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến lĩnh vực
GD&ĐT với nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng chỉ đạo các ngành, các cấp triển
khai các nhiệm vụ cụ thể nhằm thực hiện chủ trương giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức đoàn thể nhân dân cần quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo: Phổ cập giáo dục
là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo nền tảng dân trí vững chắc để
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thực hiện thành công một trong
ba khâu đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020.
Mục tiêu chung của quan điểm chỉ đạo là: Chăm lo giáo dục cho toàn dân,
xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các đoàn thể, của mọi
gia đình và toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh huy động mọi nguồn lực cho giáo dục,
trong đó Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo.Nâng cao trình độ dân trí một cách toàn
diện, mở rộng giáo dục, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi.
Mục tiêu cụ thể: Năm 2015, huy động 80% trẻ từ 3 đến 5 tuổi vào học mẫu
giáo; phấn đấu cả nước hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi.
Với mục tiêu đó, ngày 9/2/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 239/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015: Bổ sung và hoàn thiện chính sách và bảo đảm các
điều kiện cần thiết hỗ trợ phát triển bền vững; nâng dần tỉ lệ huy động trẻ từ 3 đến 5
tuổi được học mẫu giáo, thực hiện 2 buổi/ngày; hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo
dục trẻ 5 tuổi vào năm 2015. “Bảo đảm hầu hết trẻ em 5 tuổi ở mọi vùng miền được
đến lớp để thực hiện 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất,
trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, Tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất
14

Trích đoạn Ngày thỏng năm sinh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status