Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ứng dụng Marketing mix vào hoạt động kinh doanh tại Bưu cục Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội. - Pdf 20

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế thị trường đã được quốc tế hoá
rộng rãi, với nước ta trong những thập niên gần đây nhất là khi đã gia nhập
WTO đã có những chuyển biến tích cực: ta đã chuyển từ cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
thì sự hiểu biết và hoạt động trong lĩnh vực marketing - mix là rất cần thiết
cho tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực Bưu chính.
Bên cạnh đó, xét về mặt tương đối thì thế độc quyền trong lĩnh vực
Bưu chính đã bị phá vỡ bằng sự ra đời của hàng loạt các Công ty Bưu chính
trong đó có Công ty Bưu chính Viettel. Sự ra đời của các doanh nghiệp này
thực sự là giải pháp hữu hiệu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu
cầu trao đổi hàng hoá, tài liệu với nhau. Tuy nhiên sự ra đời đó đã làm cho thị
trường Bưu chính trở nên cạnh tranh gay gắt hơn đặc biệt là khi Việt Nam gia
nhập WTO khi đó có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài cũng
tham gia vào lĩnh vực Bưu chính thì thị trường càng trở nên gay gắt hơn nữa.
Khi đó thị trường sẽ là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp, Công ty
Bưu chính Viettel cũng không thể tránh khỏi quy luật cạnh tranh đó, vì vậy
Công ty Bưu chính Viettel cũng như Bưu cục Hai Bà Trưng cần phải tăng
cường ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động kinh doanh là một điều hết
sức cần thiết. Chính vì vậy em xin lựa chọn đề tài: “Thực trạng và các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ứng dụng Marketing - mix vào
hoạt động kinh doanh tại Bưu cục Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội.”
làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
1
CHƯƠNG I : HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
BƯU CHÍNH VÀ VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG MARKETING - MIX VÀO
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH
1.1.Tầm quan trọng của việc ứng dụng Marketing - mix vào hoạt động
kinh doanh ở các doanh nghiệp Bưu chính
1.1.1.Marketing - mix là gì ?
* Các khái niệm về marketing:

• Marketing gắn liền với tổ chức quản lý doanh nghiệp đảm bảo cho cơ cấu
tổ chức của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thay đổi của sản phẩm, đổi
mới sản phẩm, luôn luôn bảo đảm cho doanh nghiệp chiếm được vị trí
thống trị trên thị trường.
* Khái Niệm về marketing- mix :Marketing mix là một bộ phận của
marketing, đó là một tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của
marketing mà Công ty sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ
phía thị trường mục tiêu.
Marketing- mix là một trong những khái niệm chủ yếu của marketing
hiện đại. Đó là tập hợp các yếu tố biến động có thể kiểm soát được của
marketing mà công ty phối hợp để tạo ra sự đáp ứng theo mong muốn của thị
trường mục tiêu.
Marketing - mix bao gồm tất cả những gì mà Công ty có thể vận dụng
để tác động lên nhu cầu về sản phẩm của mình. Có thể hợp nhất rất nhiều khả
năng thành bốn nhóm cơ bản gọi là 4 P: Sản phẩm ( Product), giá cả (Price) ,
phân phối (Place) và khuyến mãi ( Promotion).
3
Bốn P của Marketing- mix
Sản phẩm (Product): đó là tập hợp “ sản phẩm và dịch vụ” mà Công
ty cung ứng cho thị trường mục tiêu. Đối với doanh nghiệp Bưu chính thì sản
phẩm là những dịch vụ mà Công ty cung ứng trên thị trường như: chuyển phát
nhanh, điện hoa, phát hành báo, chuyển tiền nhanh, phát thư theo địa chỉ…tùy
thuộc quy mô kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Giá cả (Price): Là biểu hiện bằng tiền của giá trị, đó là tổng số tiền mà
người tiêu dùng phải chi trả để được sử dụng dịch vụ. Giá cả do Công ty được
xác định phải tương xứng với giá trị của dịch vụ , nếu không khách hàng sẽ sử
dụng dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.
Giá cả của sản phẩm bao gồm: cước phí chính, chiết khấu, hoa hồng và
các khoản trả chậm.
4

PriceProduct PromotionPrace
mục tiêu, chọn được chiến lược và chương trình hoạt động cụ thể để chiếm
lĩnh thị trường.
+ Marketing chính là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng
+ Marketing giúp dung hoà tốt hệ thống các mục tiêu của doanh
nghiệp.
+Marketing là biện pháp cụ thể hoá kế hoạch kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Chức năng của Marketing:
Ngày nay Marketing đã phát triển đến một trình độ rất cao. Nó không
còn giới hạn ở riêng một lĩnh vực, một ngành của cuộc sống xã hội mà mở
rộng ra tất cả các phạm vi. Nhưng bất kỳ hoàn cảnh nào nó cũng đảm nhận
bốn chức năng cơ bản sau:
• Nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng, hướng dẫn
việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng. Đây là chức năng cơ bản và
quan trọng, là tiền đề của Marketing.
• Đảm bảo sự thích ứng trong hoạt động của Công ty so với những
biến động của thị trường.
• Thoả mãn nhu cầu tiêu dùng bằng cách tổ chức lưu thông đưa
sản phẩm dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng.
• Nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động bằng nhiều cách khác
nhau, trong đó có việc tổ chức sản xuất, lưu thông, tiêu thụ, định
giá sản phẩm.
1.1.2.Tầm quan trọng của việc ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động
kinh doanh ở các doanh nghiệp Bưu chính
a. Đặc điểm của ngành Bưu điện:
* Bưu chính là kinh tế hạ tầng cơ sở, có mạng lưới thống nhất toàn quốc, có
vị trí độc quyền, tuy nhiên đã xuất hiện sự cạnh tranh dưới hai dạng sau:
6
- Cạnh tranh nội bộ: Giữa Bưu và Điện, giữa các dịch vụ có khả năng thay thế

doanh lại không tìm mọi cách gắn kinh doanh của mình với thị trường vì chỉ
có như vậy doanh nghiệp mới hi vọng tồn tại và phát triển trong cơ chế thị
trường. Mọi doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp Bưu chính cũng
không là ngoại lệ. Doanh nghiệp Bưu chính cũng là một chủ thể kinh doanh,
một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với
môi trường bên ngoài ( thị trường) Quá trình trao đổi chất đó càng diễn ra
thường xuyên, liên tục, với quy mô càng lớn thì cơ thể đó càng khoẻ mạnh.
Doanh nghiệp Bưu chính cũng như các doanh nghiệp khác, muốn tồn tại thì
dứt khoát phải có các hoạt động như kinh doanh, tài chính, quản trị nhân
lực… Nhưng trong nền kinh tế thị trường, chức năng quản lý kinh doanh,
chức năng quản lý tài chính, chức năng quản lý nhân sự chưa đủ đảm bảo cho
các doanh nghiệp Bưu chính tồn tại, và lại càng không có gì đảm bảo chắc
chắn cho sự phát triển của các doanh nghiệp Bưu chính, nếu tách rời nó khỏi
một chức năng khác- chức năng kết nối mọi hoạt động của doanh nghiệp với
thị trường. Chức năng này thuộc lĩnh vực quản lý khác- quản lý Marketing.
Chính Marketing ( trong đó có marketing mix) đã kết nối hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp Bưu chính với thị trường, đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp này hướng theo thị trường, biết bám
lấy thị trường , lấy nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững
chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh của mình.
1.2.Nội dung của công tác ứng dụng marketing - mix vào hoạt động kinh
doanh ở các doanh nghiệp Bưu chính
1.2.1.Tham số sản phẩm (Product)
8
Sản phẩm theo quan điểm marketing là tất cả những cái, những yếu tố
có thể thoả mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường
với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.
Ba cấp độ cấu thành nên sản phẩm:
- Cấp độ cơ bản nhất là sản phẩm theo ý tưởng: Sản phẩm theo ý tưởng
trả lới câu hỏi về thực chất sản phẩm này thoả mãn những điểm lợi ích cốt

phẩm bổ sung của ngành bưu chính có thể là thái độ phục vụ chuyên nghiệp
của nhân viên bưu chính, là sự kịp thời về thời gian, sự an toàn về tài liệu,
hàng hoá được gửi.
Từ sự phân tích trên ta thấy sản phẩm của các doanh nghiệp Bưu chính
là các sản phẩm vô hình ( sản phẩm dịch vụ, các sản phẩm phi vật chất). Các
doanh nghiệp Bưu chính kinh doanh các sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu
trao đổi thư từ, hàng hoá giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước
cũng như quốc tế.Khi khách hàng sử dụng dịch vụ Bưu chính thì họ không chỉ
mong muốn thư từ, hàng hoá của họ được chuyển đến đúng địa chỉ người
nhận mà họ còn mong muốn đảm bảo được sự an toàn, thuận tiện, nhanh
chóng, nhiều khách hàng còn có nhu cầu nhân viên bưu chính đến tại cơ quan,
nhà để phục vụ nhu cầu trao đổi hàng hoá, thư từ của họ, đó là điều mà hiện
nay nhiều doanh nghiệp Bưu chính chưa làm được hoặc có làm được nhưng
chưa thực sự được tốt, chưa thoả mãn được đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
1.2.2.Tham số giá cả (Price)
Giá cả có thể được định nghĩa theo nhiều giác độ khác nhau.
- Với hoạt động trao đổi: giá cả là mối tương quan trao đổi trên thị
trường. Giá cả là biểu tượng giá trị của sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động
10
trao đổi. Trao đổi qua giá cả là trao đổi dựa trên giá trị của những thứ đem
trao đổi.
- Với người mua: giá cả của một sản phẩm, dịch vụ là khoản tiền mà
người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm
hay dịch vụ đó. Đối với khách hàng của ngành Bưu chính thì giá cả chính là
những khoản tiền mà họ bỏ ra để được sử dụng các dịch vụ Bưu chính, gọi
chung là cước phí cho các dịch vụ.
- Với người bán: Giá của một sản phẩm, dịch vụ là khoản thu nhập mà
người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó.
Các doanh nghiệp Bưu chính hiện nay định giá theo các mức giá khác
nhau nhằm tạo ra sự cạnh tranh về giá. Bởi vì giá cả là biến số duy nhất của

phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa sản phẩm từ nhà cung ứng tới
người tiêu dùng.
Kênh phân phối là con đường mà sản phẩm được lưu thông từ nhà cung
ứng đến người tiêu dùng. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục
được những khác biệt về thời gian, địa điểm, và quyền sở hữu giữa người
cung ứng với người tiêu dùng các dịch vụ.
Đối với các doanh nghiệp Bưu chính kinh doanh trong lĩnh vực dịch
vụ, sản phẩm dịch vụ của họ được thực hiện thông qua hệ thống các Bưu điện,
Bưu cục. Hệ thống các Bưu cục, bưu điện là các đơn vị trực tiếp thực hiện
việc kinh doanh của doanh nghiệp, tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, các
nhân viên Bưu chính làm việc tại các Bưu cục, Bưu điện trực tiếp cung ứng
12
dịch vụ của Công ty. họ có thể cung cấp dịch vụ tại Bưu cục, bưu điện; hoặc
có thể họ sẽ đến tận cơ qua, nhà ở, công ty hay bất kỳ địa điểm nào mà khách
hàng yêu cầu. Mạng lưới các Bưu cục, Bưu điện càng rộng bán kính kinh
doanh càng được thu hẹp, khả năng phục vụ nhu cầu của khách hàng càng
được tốt hơn. Chính vì vậy các doanh nghiệp Bưu chính đang nỗ lực phát
triển mạng lưới các Bưu cục, Bưu điện của mình đến các vùng miền để phát
triển thị trường, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.
Ví dụ:
1.2.4.Tham số xúc tiến (Promotion)
Hoạt động marketing hiện đại rất quan tâm đến các chiến lược xúc tiến
hỗn hợp. Đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu của Marketing- mix mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của các hoạt động xúc tiến
13
Bưu Cục cấp
Huyện/Bưu cục
cấp 2
VNPT

đơn vị kinh doanh bằng cách đưa ra những tin tức có ý nghĩa thương mại về
chúng trên các ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng và miễn phí.
Hiện nay nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính đã thực
hiện rất tốt các mối quan hệ với công chúng ví dụ như Viettel , VNPT… Họ
thực hiện bằng cách tài trợ cho các chương trình giao lưu mang tính từ thiện,
ủng hộ người nghèo, giúp đỡ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn…
qua các hoạt động này hình ảnh của họ càng được nâng cao trong trong tâm
trí khách hàng.
- Bán hàng cá nhân: Là sự giới thiệu bằng miệng về sản phẩm và dịch
vụ của người bán hàng qua cuộc đối thoại với một hay nhiều khách hàng tiềm
14
năng nhằm mục đích bán hàng, cung ứng dịch vụ. Ở các doanh nghiệp bưu
chính, các nhân viên Bưu cục, bưu điện, bưu tá… có thể trực tiếp giới thiệu
về sản phẩm của Công ty để thu hút , lôi cuốn khách hàng tiềm năng sử dụng
dịch vụ.
- Marketing trực tiếp: Là việc sử dụng một hay nhiều công cụ truyền
thông marketing để ảnh hưởng đến quyết định mua trực tiếp của khách hàng
và tạo nên các giao dịch kinh doanh ở mọi địa điểm. Ở các doanh nghiệp Bưu
chính, hình thức marketing trực tiếp chủ yếu được thực hiện qua các catalog,
bằng thư trực tiếp do nhân viên marketing của Công ty trực tiếp đem đến cho
khách hàng.
1.2.5.Tham số con người:Yếu tố con người ở đây bao gồm cả nhân viên
công ty và người tiêu dùng ( khách hàng)
Trong kinh doanh dịch vụ, con người là yếu tố vô cùng quan trọng
trong sự thành công của doanh nghiệp. Chính con người làm nên thương hiệu
cho dịch vụ. Đến cuối năm 2004 tổng lao động làm việc trong lĩnh vực bưu
chính khoảng 45.000 người, trong đó chủ yếu là của Tổng công ty BCVT Việt
nam (42.330 người).
Trong những năm qua đội ngũ những người làm bưu chính của Tổng
công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các doanh nghiệp kinh doanh

người tiêu dùng. Một loạt các Công ty hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính
được ra đời cung cấp các dịch vụ Bưu chính trên lãnh thổ Việt Nam với mạng
lưới rộng lớn trên toàn quốc. Thị trường kinh doanh về dịch vụ Bưu chính nói
riêng đã diễn ra sự cạnh tranh gay gắt để giành thị phần, thị trường Bưu chính
không còn độc quyền như trước.
16
Ngày nay hành vi mua sắm của người tiêu dùng đã có sự thay đổi so với
trước đây, mua sắm nagỳ nay không chỉ đấp ứng được nhu cầu hàng hoá cho
tiêu dùng mà còn là nhu cầu về giải trí, tiện lợi, người tiêu dùng ở các thàng phố
lớn đã quen mua sắm hàng hoá trong các siêu thị, hệ thống các siêu thị và hệ
thống bán lẻ trên mạng đã kinh doanh rất thành công với chiến lược phát triển
rộng mạng lưới phân phối và đi kèm theo là các dịch vụ giải trí. Khi tiêu dùng
của Chính phủ và của người dân tăng lên thì hệ thống các Ngân hàng cũng phát
triển theo để đáp ứng các nhu cầu tiết kiệm, giao dịch, vốn đầu tư…
Kinh tế phát triển có nghĩa là các doanh nghiệp trong khu vực đang
trong giai đoạn thịnh vượng cho nên các nhu cầu về giao thương giữa các
doanh nghiệp cũng tăng. Công nghẹ hiện đại của Bưu chính viễn thông với
dịch vụ Internet, dịch vụ điện thoại đường dài (VOIP) , dịch vụ điện thoại di
động , dich vụ chuyển phát nhanh toàn cầu đã đáp ứng được nhu cầu trên cho
các doanh nghiệp. Doanh thu của các ngành dịch vụ Bưu chính - Viễn thông
là khổng lồ va có rất nhiều doanh nghiệp muốn nhảy vào thị trường Bưu
chính - Viễn thông trong giai đoạn hiện nay.
Cung - cầu là quy luật của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của khách
hàng tăng đòi hỏi các hãng cung ứng dịch vụ phải nahy cảm nắm bắt nhu cầu
của khách hàng để cung cấp dịch vụ nhằm thoả mãn một cách tối đa các nhu
cầu đó của khách hàng. Vì vậy nghiên cứu để nắm bắt được các nhu cầu của
người tiêu dùng là một yếu tố quan trọng trong phân tích marketing – mix.
Sự phát triển ổn định nền kinh tế cùng với tỷ lệ lạm phát bình quân
5.8% và tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong những năm qua tương đối ổn
định. Cùng với sự tăng trưởng của GDP trong những năm qua là sự tăng

độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
Pháp lệnh Bưu chính viễn thông ra đời ngày 25/05/2002 là cơ sở cho
các doanh nghiệp tham gia vào thị trường Bưu chính, với pháp lệnh này tạo
thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh trong lĩnh vực bưu
chính được thuận lợi hơn, các doanh nghiệp dễ dàng áp dụng chính sách
marketing-mix vào hoạt động kinh doanh của mình.
Trong điều kiện chúng ta hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu
vực cũng như thế giới, chúng ta sẽ có rất nhiều cơ hội để phát triển, tranh thủ
được các nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế, đó là mục tiêu
của Việt Nam trong giai đoạn phát triển nèn kinh tế, Các doanh nghiệp nói
chung cũng như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Bưu chính nói riêng đang
chạy đua nhau để nâng cao chất lượng dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm, và mở
rộng thị trường tiêu thụ, tìm các đối tác để liên doanh, liên kết… Các doanh
nghiệp chỉ tồn tại và phát triển nếu có bước đi đúng trong điều kiện chúng ta
đã gia nhập WTO, hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Để tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài tập trung đầu tư vào Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay Chính phủ đã tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Phát triển mạnh các dịch vụ như: Bưu chính - Viễn thông, giao thông vận
tải, bảo hiểm, y tế… Bên cạnh đó từng bước hạ giá dịch vụ viễn thông để có
mức giá ngang bằng với các nước trong khu vực, bởi vì so với các nước trong
khu vực giá cước viễn thông của chúng ta hiện nay là rất cao.
- Đổi mới mô hình hoạt động cảu các doanh nghiệp Nhà Nước, Công ty
mẹ- Công ty con. Cổ phần hoá doanh nghiệp.
- Hướng tới giải quyết lao động dư thừa do yếu tố cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong quá trình hội nhập klinh tế quốc tế.
19
Những ưu tiên cua Chính phủ sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ phát triển mạnh hơn, và thị trường cung cấp dich vụ sẽ sôi động
hơn trong tương lai.

- Dành điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển
1.1.3 Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký vào tháng 7/2000. Sau khi
quốc hội hai nước phê chuẩn, Hiệp định đã chính thức có hiệu lực từ ngày
10/12/2001.
Các nội dung cơ bản cua Hiệp định về thương mại hàng hoá ( trừ hàng
dệt may và sản phẩm có hiệp định riêng) hai bên dành cho nhau ngay lập tức
và vô điều kiện quy chế đối xử tối huệ quốc cho hàng hoá có xuất xứ tại hoặc
được xuất khẩu từ lãnh thổ Bên kia, Về thương mại dịch vụ không hạn chế
việc cung cấp dịch vụ từ lãnh thổ bên này sang bên kia của mọi pháp nhân và
cá nhân.
Về quan hệ đầu tư không hạn chế ( trừ một số lĩnh vực được bảo lưu
đối với Việt Nam và Hoa Kỳ) và trong vòng 2-9 năm tạo điều kiện cho các
nhà đầu tư Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam theo thủ tục đăng ký cấp giấy phép
đầu tư.
Về sở hữu trí tuệ, bảo hộ cho nhau và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại
hai nước và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh.
Qua một số chính sách thương mại ta thấy nội dung chủ yếu :
- Các biện pháp tự do hoá thương mại hàng hoá , thương mại dịch vụ và đầu
tư:
21
+ Chế độ cắt giảm thuế quan, bãi bỏ, hạn chế mậu dịch phi thuế quan.
+ Tạo sự thông thoáng về đầu tư
+ Các loại phí XNK, hải quan chi thu đủ để chi phí cho dịch vụ đó.
- Thương mại không có sự phân biệt đối xử : áp dụng quy chế đối xử tối huệ
quốc , đối xử quốc gia, mở cửa thị trường trong nước cho hàng hoá các nước
tham gia tổ chức kinh tế - thương mại.
- Luật lệ phải minh bạch, rõ ràng công khai với các tiêu chí cụ thể , dễ
hiểu và dễ thực hiện.
1.2 Những tác động của vấn đề hội nhập nền kinh tế quốc tế đến

chính Viễn thông mang tính độc quyền.
- Chú ý hơn đến yếu tố khuyếch trương sản phẩm dịch vụ: tăng chi phí
quảng cáo, khuyến mãi, chăm sóc khách hàng, coi trọng thương hiệu của các
sản phẩm dịch vụ Bưu chính.
- Coi trọng hơn đến việc áp dụng những kiến thức mới về marketing để
áp dụng vào tình hình thực tế đó là hàng loạt các chương trình đào tạo MB
quản trị marketing, quản trị thương hiệu, giám đốc nhãn hiệu… được các
doanh nghiệp quan tâm.
Ngoài những yếu tố chính sách kinh tế, vấn đề về chính trị cũng ảnh
hưởng lớn tới sự phát triển ổnn điịnh cua ngành dịch vụ Bưu chính. Trong
tình hình nhiều nước trong khu vực và trên thế giới bị đe doạ trước nguy cơ
khủng bố chiến tranh, thì Việt Nam được đánh giá là quốc gia an toàn nhất
trên thế giới. Đây là một yếu tố rất thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam
có thể tranh thủ thời cơ để phát triển và thu hút đầu tư.
23
c. Công nghệ- nghệ kỹ thuật
Với tốc độ phát triển về công nghệ - kỹ thuât như vũ bão hiện nay đã
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp đó là năng suất
lao động cao, giá thành sản phẩm thấp, lao động thủ công, chân tay được thay
thế bằng máy móc… Đặc biệt là dịch vụ Internet là cự phát triển tột bậc về
công nghệ thông tin trong giai đoạn hiện nay, các nhà cung cấp dịch vụ
Internet như: VDC, Sài Gòn Post, Viettel, FPT…cũng cạnh tranh nhau để đưa
ra mức giá hấp dẫn và sản phẩm dịch vụ được cải tiến liên tục đó là dịch vụ
Internet tốc độ cao ADSL nhanh hơn các truy nhập thông thường 140 lần.
Công nghệ tin học góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm của dịch vụ
Bưu chính, giúp cho các giao dịch diễn ra nhanh chóng hơn, chính xác hơn.
Công nghệ thông tin phát triển giúp trao đổi và khai thác thông tin của
các doanh nghiệp và người dân được dễ dàng hơn, nó góp phần phát triển trí
thức và văn hoá, người tiêu dùng không còn phải chịu mức cước phí sử dụng
dịch vụ Internet và dịch vụ điện thoại đường dài cao như trước đây. Với công

người nhận một cách an toàn và bảo mật.
Bên cạnh sự phát triển của công nghệ thông tin đó là sự phát triển kỹ
thuật hiện đại của phương tiện giao thông. Công nghệ chế tạo máy bay hiện
đại cho ra đời các loại phương tiện tốc độ cao như máy bay siêu tốc, tàu điện
từ trường, các loại xe hơi sang trọng , tiện nghi đến các loại xe chất lượng giá
vừa phải… các hãng hàng không trong nước hiện nay như Việt Nam Airline,
Pacfic Airline đã tăng cường chuyến bay và mở rộng đường bay, các phương
tiện vận tải đường bộ như tàu hoả chạy Bắc- Nam đã giảm xuống còn 32h-
36h/chuyến, bên cạnh đó là sự ra đời hàng loạt các hãng taxi mới…
25

Trích đoạn Tham số truyền thông marketing chiêu thị: Tham số về con người: Giải pháp về marketing của Bưu cục Giải pháp về thị trường Giải pháp về cạnh tranh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status