Trờng đại học ngoại thơng
Khoa kinh tế ngoại thơng
Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh vận tải của Vosco
Giáo viên hớng dẫn : PGS-TS Nguyễn Nh Tiến Sinh
viên thực hiện : Nguyễn Thị Thanh Tâm
Lớp : Nhật 3 - K37
Hà Nội - 2002
Lời mở đầu
Xu thế toàn cầu hoá kinh tế và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế đang
diễn ra mạnh mẽ. Cùng với xu thế đó mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt
Nam và các nớc ngày càng mở rộng và phát triển. Điều này kéo theo sự phát
triển của ngành vận tải biển và đến lợt nó vận tải biển phát triển sẽ tạo đà cho
nền kinh tế Việt Nam phát triển, hoà nhập với khu vực và thế giới.
Song song với sự phát triển của ngành vận tải biển là sự ra đời một loạt
các công ty vận tải biển, tạo ra một môi trờng cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực
kinh doanh vận tải biển. Công ty vận tải biển Việt Nam (viết tắt là VOSCO) là
một trong những công ty hàng đầu của ngành Hàng hải Việt Nam song không
vì thế mà không chịu sự ảnh hởng của sự cạnh tranh đó. Để công ty có thể
đứng vững và phát triển ngày một lớn mạnh trên thị trờng vận tải trong nớc và
từng bớc mở rộng ra khu vực thị trờng thế giới, việc nghiên cứu và phân tích
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty để đa ra các giải pháp nâng cao
hiệu quả kinh doanh vận tải của công ty là điều cần thiết. Với nhận thức đó em
đã lựa chọn để tài "Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh vận tải của VOSCO" để làm khoá luận tốt nghiệp.
Nội dung chủ yếu đợc đề cập đến trong đề tài là phân tích tình hình sản
xuất kinh doanh của VOSCO, từ đó đa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh vận tải trong điều kiện tiềm lực tài chính, năng lực kinh
doanh của công ty.
kỳ Việt Nam cập bến cảng Tokyo ( Nhật Bản).
Ngày 30/04/1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc đã giành đợc
thắng lợi vẻ vang, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, đất n-
ớc ta lại liền một dải. Ngành Hàng hải Việt Nam thực hiện nhiệm vụ khẩn tr-
ơng xây dựng ngành trong điều kiện mới. Ngày 28/11/1978, Chính phủ đã ra
3
Quyết định số 300 thành lập Tổng Cục đờng biển Việt Nam, trực thuộc Bộ
Giao thông Vận tải. Tổng Cục đờng biển ra đời với chức năng tổ chức quản lý
kinh doanh chuyên ngành, hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh tế, bao gồm
các tổ chức, liên hiệp các xí nghiệp, xí nghiệp sản xuất, sửa chữa, đại lý tầu
biển Việt Nam trên phạm vi cả nớc.
Từ đây với tổ chức Tổng Cục, ngành Hàng hải Việt Nam chuyển sang
thời kỳ phát triển mới. Toàn ngành hoạt động theo cơ chế liên hiệp các xí
nghiệp trong các lĩnh vực vận tải bốc xếp, sửa chữa, đại lý tàu biển, bảo đảm
hàng hải. Tính đến thời điểm này, ngành có bốn công ty vận tải biển: Vosco,
Vietcoship, Sovosco, Vitaco và 13 công ty đại lý tàu biển khác cùng với các
cảng biển quốc gia và quốc tế: Hải Phòng, Sài Gòn, Bến Thuỷ, Bình Trị Thiên,
Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Quảng Ninh. Đến giữa thập kỷ 80, Việt Nam
đã có một đội tàu biển với hơn 400.000 DWT, khá đa dạng về chủng loại và
khoảng 3000 sĩ quan, thuyền viên lành nghề. Tuy vậy, vận tải đờng biển năm
1980 mới chỉ đạt đợc 48,6% tổng khối lợng hàng hoá tuyến Bắc-Nam, năm
1981: 65,7%, năm 1982: 71,35%, năm 1983: 77,5% tổng khối lợng vận
chuyển. Nguyên nhân là do sự phát triển và quy hoạch đội tàu thiếu một cơ chế
hợp lý về cả vốn, tài chính và pháp luật nên đã có lúc bị sa vào tình trạng tự
phát, manh mún. Mặc dù đợc hởng chế độ bao cấp độc quyền trong một số
lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng nhất, đội tàu vẫn hoạt động kém hiệu
quả trong cơ chế quản lý nặng nề, t duy kinh tế cha năng động.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đội tàu đã đợc sắp xếp lại nhằm
phát huy tính năng động và khả năng tự chủ của các doanh nghiệp. Một số
thành quả ban đầu đã đạt đợc nh trong năm 1989, số lợng vận tải đạt 2,12 triệu
các lĩnh vực: xây dựng chiến lợc dài hạn phát triển ngành Hàng hải Việt Nam;
xây dựng các dự án luật, pháp luật, các văn bản dới luật trình cấp có thẩm
quyền ban hành, tham gia các Công ớc, Tổ chức quốc tế về Hàng hải, quản lý
quy hoạch hệ thống cảng biển và hoạt động của tàu thuyền, dịch vụ hàng hải,
cho phép tàu thuyền nớc ngoài ra vào, hoạt động trên vùng biển Việt Nam...
Cùng với chức năng và nhiệm vụ mới, vấn đề tổ chức cũng thay đổi.
Cuối năm 1995 Thủ tớng Chính phủ ra Quyết định thành lập Tổng công ty
Hàng hải Việt Nam, trên cơ sở chuyển dịch phần lớn các doanh nghiệp hàng
hải từ Cục Hàng hải Việt Nam về Tổng công ty, tạo điều kiện cho Cục tập
5
trung vào nhiệm vụ quản lý nhà nớc chuyên ngành của mình. Từ đó đến nay,
ngành Hàng hải Việt Nam đã có những bớc tiến lớn mạnh không ngừng, từng
bớc khẳng định vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới.
II/ Các công ty kinh doanh vận tải biển ở Việt
Nam
Cùng với những thay đổi đó của ngành hàng hải, thị trờng kinh doanh
vận tải biển Việt Nam cũng có nhiều biến động. Đội tàu biển quốc gia có 770
chiếc với tổng trọng tải 1.932.517 DWT. Đội ngũ chủ tàu khá đông đảo, tính
đến hết tháng 3/2002, cả nớc có đến 242 chủ tàu, tập trung tại 3 khu vực: miền
Bắc có 146 chủ tàu, miền Trung có 24 chủ tàu và miền Nam có 72 chủ tàu,
trong đó phải kể đến các công ty hàng đầu nh Vinalines, Vosco, Vinaship,
Vietfracht, Vitranschart, Falcon,.... Tham gia vào đội ngũ chủ tàu này có
không ít chủ tàu t nhân. Đội ngũ này đã góp phần đáng kể trong việc huy động
vốn phát triển đội tàu và tham gia chia sẻ thị trờng vận tải biển, đáp ứng nhu
cầu vận chuyển của quốc gia.
Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VINALINES) đợc thành lập và chính
thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1996 với t cách là một doanh nghiệp nhà
nớc kinh doanh trong các lĩnh vực vận tải biển, khai thác cảng, dịch vụ hàng
hải. Sự ra đời của Vinalines nh thổi một luồng gió mới vào ngành Hàng hải
Việt Nam, mở ra một hớng đi mới cho ngành vận tải biển nớc ta. Tại thời điểm
sách cũng tăng từ 8-22%. Thị phần chiếm lĩnh của đội tàu Tổng công ty ngày
càng lớn. Giai đoạn mới thành lập thị phần này nhìn chung cha đến 5%, đến
năm 2001 đã vơn lên tỉ lệ 16% đối với mặt hàng phân bón, 24% đối với mặt
hàng gạo và 25% đối với container xuất nhập khẩu. Từ năm 1999 trở lại đây,
với biện pháp xuất khẩu dịch vụ hàng hải nên đa phần tàu sắm mới của Tổng
công ty đều cho nớc ngoài thuê định hạn do đó đã làm tăng lợng xuất khẩu tàu
và lao động. Các tàu chở hàng khô và tàu dầu đẩy nhanh lợng tham gia thị tr-
ờng khu vực một số nớc nh Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia... Hiện nay Tổng
công ty có hơn 40 doanh nghiệp thành viên trong đó có 6 doanh nghiệp liên
doanh vơí nớc ngoài có tỷ lệ đóng góp là 51%, 13 doanh nghiệp cổ phần có
vốn đóng góp của nhà nớc là 30%.
7
Là một doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam,
Công ty vận tải biển Việt Nam (Vosco) đợc coi nh là "con chim đầu đàn"
của ngành vận tải biển Việt Nam. Đợc thành lập ngày 1/7/1970, công ty là sự
hợp nhất ba đội tàu Tự Lực, Giải Phóng và Quyết Thắng. Từ một cơ sở vật chất
kỹ thuật nghèo nàn, chủ yếu là các tàu trọng tải nhỏ ( có tới 217 tàu nhng tổng
trọng tải chỉ có 34.245 tấn), chạy ven biển với lực lợng sĩ quan thuyền viên đa
số không đợc đào tạo chính quy mà trởng thành qua thực tế, đến nay công ty
đã không ngừng phát triển và hiện có đội tàu hiện đại, đa dạng hoá về chủng
loại và trọng tải. Hiện đội tàu của công ty đã có 26 chiếc với tổng trọng tải là
341.092 DWT, chiếm 38,2% tổng trọng tải của Vinalines và 17,65% tổng
trọng tải cả nớc cùng đội ngũ sĩ quan thuyền viên đợc đào tạo chính quy, có
trình độ. Đội tàu của Vosco đợc các tổ chức đăng kiểm quốc tế và quốc gia có
uy tín phân cấp nh NKK, DNV, GL, ABS và VR. Công ty hoạt động trong các
lĩnh vực quản lý khai thác tàu, đại lý môi giới tàu, đại lý giao nhận vận tải đa
phơng thức quốc tế đờng không và đờng biển, cung ứng thuyền viên cho chủ
tàu nớc ngoài. Vosco có mạng lới đại lý tại nhiều nớc ở Châu á, Châu Âu,
Châu Phi và Châu Mỹ. Sản lợng vận tải của Vosco năm 1995 là 1,737 triệu tấn
nhng đến năm 2000 là 3,313 triệu tấn, tăng 90,7%. Năm 2001, sản lợng vận tải
tải tàu của Vinalines. Công ty hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá trên các
tuyến nội địa và hàng hoá xuất nhập khẩu giữa các nớc trong khu vực Đông
Nam á, Đông Bắc á và Trung Đông.
Trong lĩnh vực dịch vụ vận tải dầu khí, nổi bật có Công ty vận tải dầu
khí Việt Nam (FALCON). Falcon là doanh nghiệp nhà nớc ở thành phố Hồ
Chí Minh, trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, đợc thành lập theo
Quyết định số 638/QĐ/TCCB-LĐ ngày 28/2/1995 của Bộ Giao thông vận tải.
Công ty có hoạt động kinh doanh khá rộng trong các lĩnh vực vận tải dầu thô,
dầu sản phẩm, xăng, khí hoá lỏng, hàng bách hoá và cung cấp các dịch vụ
khác phục vụ khai thác dầu khí. Falcon chuyên vận tải dầu thô xuất khẩu từ
Việt Nam đi Nhật Bản và chở thuê cho nớc ngoài trên các tuyến quốc tế. Công
ty còn mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực quản lý, khai thác cảng, sửa chữa
tàu biển, cứu hộ. Hiện nay Falcon có đội tàu gồm 11 chiếc trong đó có 8 tàu
9
chở hàng khô và 3 tàu chở dầu với tổng trọng tải 128.561 DWT, chiếm 14,38%
tổng trọng tải của Vinalines. Đặc biệt Falcon có 1 tàu chở dầu có trọng tải
60.600 tấn.
Ngoài ra ở Việt Nam còn có nhiều công ty vận tải biển tên tuổi khác nh
Công ty vận tải và thuê tàu VIETFRACHT, Công ty vận tải biển Sài Gòn
(SSC), Công ty cổ phần dịch vụ hàng hải (MACS), Công ty vận tải Thuỷ Bắc
(NOSCO),... và nhiều công ty vận tải địa phơng nh Công ty vận tải biển và th-
ơng mại Hà Tĩnh.... Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, trên thị trờng kinh
doanh vận tải biển của Việt Nam xuất hiện nhiều công ty liên doanh vận tải
biển. Hiện nay có khoảng 30 hãng tàu lớn nớc ngoài hoạt động thờng xuyên
trên các tuyến vận tải đến Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực vận tải container.
Một số khác tuy không trực tiếp đầu t vào khai thác tại thị trờng Việt Nam nh-
ng thông qua việc sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp đại lý vận chuyển,
môi giới tìm hàng của Việt Nam làm đại diện cho họ gián tiếp khai thác thị tr-
ờng vận tải biển Việt Nam dới nhiều hình thức. Ngay từ năm 1989, khi công ty
vận tải biển GEMATRANS ( liên doanh giữa Liên hiệp hàng hải Việt Nam và
Đơn vị : nghìn tấn
Năm 2005 2010
Hàng hoá 1 2 1 2
Tổng hàng xuất khẩu 49500 64474 69000 99756
Tổng hàng nhập khẩu 27500 35714 45129 65138
Nguồn: Viện chiến lợc và phát triển giao thông vận tải
Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam có thể kể đến nh gạo,
cà phê, chè, cao su, hàng dệt may, dầu thô, hạt điều.... Đặc biệt Việt Nam là n-
ớc xuất khẩu gạo lớn, đứng thứ 2 thế giới, sau Thái Lan và ấn Độ. Xuất khẩu
gạo của Việt Nam năm 2001 đạt 3,5 triệu tấn. Thêm vào đó Việt Nam là nớc
xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới. Hạt tiêu Việt Nam đã xuất sang hơn 40 n-
ớc trên thế giới trong đó có Singapo, Hà Lan, Lào, Trung Quốc.... Theo dự báo
của Bộ Thơng mại, kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam đang có cơ hội
tăng mạnh. Ngoài thị trờng Trung Quốc, từ đầu năm 2002 đến nay, xuất khẩu
11
cao su của Việt Nam tới hầu hết các thị trờng đều gặp thuận lợi về giá. Lợng
cao su xuất sang các nớc Singapo, Nhật Bản, Mỹ, Malaixia, Italia và Đài Loan
đang tăng. Lợng xuất khẩu những mặt hàng chè, lạc, than, thủ công-mỹ nghệ,..
cũng đang tăng rất nhanh. Do Việt Nam là một nớc có nền kinh tế đang phát
triển nên kim ngạch nhập khẩu rất lớn. Mặt hàng nhập khẩu chính của Việt
Nam là máy móc thiết bị, phân bón, xăng dầu,... phục vụ cho sản xuất mà
trong nớc không thể sản xuất đợc.
Nh vậy, với lợng hàng xuất nhập khẩu khá lớn thì nhu cầu vận chuyển
hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng rất lớn, trong đó hơn 80% đợc
vận chuyển bằng đờng biển. Trong khi đội tàu của Việt Nam mới chỉ đảm
nhận đợc khoảng 25%-30% nhu cầu vận chuyển, còn thực tế chỉ vận chuyển đ-
ợc khoảng 13% vào năm 1998, 17% vào năm 2000. Năm 2001 tổng sản lợng
vận tải của đội tàu biển quốc gia đạt 19,359 triệu tấn, vận chuyển đợc 13,5
triệu tấn trong tổng số 65,37% triệu tấn hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam,
chiếm gần 20% thị phần vận tải. Nhng đến năm 2002, theo số thống kê của
của đội tàu khá lạc hậu, ít đợc bảo dỡng thờng xuyên, thiếu tài liệu hớng dẫn
khai thác an toàn dẫn đến năng lực vận tải bị hạn chế, khả năng đảm nhận nhu
cầu vận chuyển của quốc gia thấp. Khi IMO ban hành Công ớc ISM CODE có
hiệu lực từ ngày 01/07/1998 thì nhiều đội tàu trên thế giới trong đó có đội tàu
của Việt Nam trở nên chao đảo về khả năng đi biển. Trong hai năm qua, lợng
tàu biển của ta bị lu giữ ở cảng biển nớc ngoài tăng nhanh. Chỉ trong vòng 2
năm từ năm 2000 đến năm 2001, Việt Nam có 58 lợt tàu bị lu giữ, chiếm tỉ lệ
cao nhất trong khu vực và trên thế giới. 6 tháng đầu năm 2002 có thêm 6 tàu bị
lu giữ, ngay cả những chủ tàu "xịn" nh Vinalines, Vosco, Vitranschart cũng
có. Thêm vào đó một bộ phận đội ngũ thuyền viên cha có ý thức nên gây thiệt
hại về tài chính và uy tín cho từng chủ tàu, gây tổn hại nghiêm trọng đến uy tín
của đội tàu Việt Nam, làm giảm khả năng cạnh tranh của đội tàu Việt Nam
trên thị trờng hàng hải.
Thứ ba là đội tàu Việt Nam có quy mô nhỏ và cơ cấu bất hợp lý cả về
chủng loại cũng nh trọng tải, đặc biệt là thiếu nhiều tàu chuyên dụng và tàu
trọng tải lớn, dẫn đến sự thua thiệt khi cạnh tranh trên thị trờng, đồng thời hạn
chế năng lực vận tải của đội tàu Việt Nam.
13
Một nguyên nhân quan trọng nữa là tình hình thị trờng vận tải có nhiều
biến động. Chủng loại hàng đội tàu quốc gia tham gia vận chuyển tập trung
chủ yếu vào các loại hàng có tỉ trọng lớn nh xi măng, than, xăng dầu,
container. Nhng từ năm 2001, thị trờng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu và nội
địa của Việt Nam đã và đang có nguy cơ thu hẹp bởi chủ trơng khép kín hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành hàng. Rõ rệt nhất là sản lợng
vận chuyển dầu thô xuất khẩu chỉ đạt 50% so với thực hiện năm 2000. Thêm
vào đó là nhu cầu vận tải nội địa giảm nhiều do nhà nớc cho phép nhập khẩu
trực tiếp clinker vào khu vực phía Nam, các nhà sản xuất, đầu t lại tìm kiếm
xây dựng nhà máy xí nghiệp ở cả hai khu vực chính Bắc và Nam. Vì vậy nhu
cầu vận chuyển nội địa các mặt hàng chủ yếu nh xi măng, clinker, sắt,
thép...giữa hai miền giảm mạnh.
4 Hàng quá cảnh 9.626.847 5
Nguồn: Tạp chí Hàng hải, 2002
Trong sáu tháng đầu năm 2002 sản lợng hàng hoá thông qua cảng tiếp
tục tăng, đạt 48 triệu tấn, tăng 11,47% so với cùng kỳ năm 2001. Theo dự báo
của Cục Hàng hải Việt Nam thì lợng hàng hoá thông qua các cảng biển Việt
Nam giai đoạn 2002-2020 nh sau:
Đơn vị: triệu tấn
Các cảng Năm 2005 Năm 2010 Năm 2020
Miền Bắc 19 40 92
Miền Trung 9,7 37 85
Miền Nam 34,4 73 140
Cảng dầu thô không bến 21 30 40
Tổng 84 180 357
Nguồn: Tạp chí Hàng hải 2001
Đáng chú ý là khối lợng hàng hóa vận chuyển bằng container sẽ tăng
nhanh và đến năm 2010 có thể đạt 6,5-7,5 triệu TEU ( khoảng 130-150 triệu
tấn ). Theo tính toán của các nhà chuyên môn thì tỉ lệ vận chuyển bằng
15
container đối với hàng xuất nhập khẩu (hàng khô) sẽ là 26,15% và tốc độ tăng
hàng năm sẽ là 25,5%.
* Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu
Dự kiến xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng nhanh vào các thị trờng Mỹ,
Anh, Pháp, Hàn Quốc, Indonexia, Campuchia, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển....
Những mặt hàng xuất khẩu có thể tăng mạnh là than đá, hàng nông sản nh cao
su, chè, lạc, hạt điều, gạo..., hàng thuỷ sản và các loại hàng tổng hợp đóng
trong container nh hàng may mặc, giày dép. Sản lợng dầu thô hiện tại giảm
song sẽ tăng trong những năm tới và dự kiến đến năm 2010 chúng ta sẽ xuất
khẩu khoảng 30 triệu tấn. Khối lợng than đá và gạo xuất khẩu tăng ổn định,
đến năm 2005 chúng ta sẽ xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn than sạch và 3,5-4
triệu tấn gạo. Năm 2002 Trung Quốc dự kiến nhập khẩu gạo tăng 10 lần so với
II. Hàng nhập khẩu 45 30,2 15 84 40,4 34
1. Hàng khô 15 26,6 4 16 40 6,4
2. Container 20 35 7 38 40 15
3. Xăng dầu 10 30 3 30 42 12,6
Tổng 96 28 29 170 40 68
Nguồn: Tạp chí Hàng hải, 2001
Dự kiến riêng năm 2005 nhu cầu vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu
bằng đờng biển khoảng 69 triệu tấn. Trong đó đội tàu biển Việt Nam có thể
đảm nhận vận chuyển từ 15 đến 18 triệu tấn, chiếm khoảng 21-28% thị phần
vận tải.
* Đối với hàng hoá nội địa
Cùng với nhu cầu vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu thì nhu cầu vận
chuyển hàng hoá trong nớc cũng rất lớn. Song nh đã đề cập ở mục 1 phần II
chơng này, nhu cầu vận tải biển nội địa giảm do nhà nớc cho phép nhập khẩu
trực tiếp clinker vào khu vực phía Nam. Đồng thời các nhà sản xuất, đầu t lại
tìm cách xây dựng nhà máy, xí nghiệp ở cả hai khu vực chính Bắc và Nam.
Nhng theo dự báo "Quy hoạch phát triển giao thông vận tải 2000-2010" của Bộ
Giao thông vận tải thì vận tải hàng hoá bằng đờng biển sẽ chiếm 40-45% tổng
số hàng hoá vận chuyển của nền kinh tế trong đó vận tải nội địa chiếm
15-20%. Năm 2005, dự kiến nhu cầu vận tải nội địa sẽ là khoảng 14 triệu tấn.
Dới đây là bảng dự báo khối lợng và luồng hàng vận tải biển nội địa:
Đơn vị: nghìn tấn
Loại hàng 1997 2005 2010 2020
17
Than 300 500 600 1000
Lơng thực 200 400 400 500
Xi măng 1100 2000 4000 9000
Dầu thô 0 0 6000 12000
Xăng dầu 500 3580 4000 9000
Phân lân 120 120 120 120
gần nh chúng ta trích dẫn từ các điều khoản của các Công ớc quốc tế về Hàng
hải nh một số điều khoản chơng V, chơng X, chơng XIII, chơng XIV....
Nh vậy các điều khoản quy định trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam về cơ
bản không khác nhiều so với luật tơng tự của các nớc cũng nh các Công ớc
quốc tế về hàng hải hiện nay. Điều đó có nghĩa là trong quá trình hội nhập,
những xung đột về pháp luật Hàng hải giữa Việt Nam và các nớc trong khu
vực và trên thế giới sẽ hạn chế đi rất nhiều.
Hệ thống văn bản quy phạm dới luật là hàng chục nghị định, quy định
của Chính phủ về quản lý hàng hải, khu vực hàng hải, đăng ký tàu biển, thuyền
viên, mua bán tàu biển, kinh doanh vận tải biển, dịch vụ hàng hải, về xử lý tài
sản chìm đắm ở biển, xử lý hàng hoá do ngời vận chuyển đờng biển lu giữ tại
Việt Nam, về tổ chức hoạt động, ... kèm theo đó là hàng loạt thông t hớng dẫn
của Bộ, liên Bộ và các văn bản tổ chức thực hiện của Cục Hàng hải Việt Nam.
Bên cạnh đó còn có 7 Công ớc quốc tế và 14 Hiệp định Hàng hải mà Chính
phủ đã ký kết hoặc tham gia. Nh vậy ngành Hàng hải Việt Nam đã có một hệ
thống văn bản pháp luật khá đầy đủ làm tăng hiệu lực quản lý của Nhà nớc đối
với các hoạt động hàng hải trong phạm vi cả nớc, góp phần đẩy nhanh sự
nghiệp phát triển, tăng cờng hội nhập và nâng cao vị thế của ngành hàng hải
Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành Hàng hải thế giới, sự ra đời
của nhiều luật tại Việt Nam và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã phát sinh
những vấn đề mới nên một số điều khoản của Bộ luật đã không còn phù hợp,
cần phải đợc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung kịp thời. Ví dụ, phạm vi áp dụng
của Bộ luật còn hạn chế, chỉ áp dụng đối với tàu biển Việt Nam và đối với từng
19
trờng hợp cụ thể thì mới áp dụng đối với tàu nớc ngoài; Quy định về vận đơn
cha đầy đủ và rõ ràng, thiếu quy định về vận đơn đa phơng thức; Quy định về
bắt giữ tàu biển cha phù hợp với thông lệ hàng hải quốc tế; Quy định về trách
nhiệm dân sự chủ tàu có nhiều điểm mâu thuẫn và không khả thi...
Ngoài ra, do Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Hàng hải
1/ Sơ lợc sự hình thành và phát triển
Công ty vận tải biển Việt Nam (tên giao dịch là Vietnam Ocean
Shipping Company, viết tắt là Vosco) đợc thành lập theo quyết định của Bộ
Giao thông vận tải ngày 01/01/1970 trên cơ sở hợp nhất 3 đội tàu Giải Phóng,
Tự Lực, Quyết Thắng và một xởng vật t. Việc thành lập công ty là chuyển sự
hoạt động riêng rẽ của các đội tàu hạch toán kinh tế nội bộ do Cục đờng biển
trực tiếp quản lý thành một đơn vị thống nhất hạch toán kinh tế độc lập, quản
lý một cấp của Cục đờng biển.
Đợc thành lập vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nớc - thời kỳ Đế quốc Mỹ tập trung tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần
thứ 2 đối với miền Bắc với qui mô không hạn chế và mức độ cực kỳ ác liệt,
công ty có cơ sở vật chất, kỹ thuật yếu kém. Về phơng tiện vận tải tuy công ty
có tới 217 chiếc nhng tổng trọng tải chỉ có 34.245 tấn, trong đó một tàu lớn
nhất 3500 tấn, 1 tàu 2500 tấn, 7 tàu từ 750-1500 tấn, còn lại là các tàu có trọng
tải từ 50-300 tấn. Công ty có số lao động là 2775 ngời nhng đa số không đợc
đào tạo chính qui, hầu hết thông qua thực tế sản xuất, chiến đấu mà trởng
thành từ các phơng tiện nhỏ, thậm chí có một bộ phận thuyền viên của xí
nghiệp đánh cá thô sơ chuyển làm công tác vận tải cơ giới. Nhiệm vụ chủ yếu
của công ty trong giai đoạn này là đảm bảo các mạch máu giao thông trên biển
thông suốt, liên tục vận chuyển hàng hoá phục vụ kịp thời yêu cầu chi viện cho
chiến trờng miền Nam, tiếp nhận vận chuyển xăng dầu đờng sông đồng thời
từng bớc ổn định công tác quản lý sản xuất để nâng cao chất lợng, hiệu quả
phục vụ. Tuyến vận tải nội địa trọng tâm là từ Hải Phòng vào khu IV, hàng chủ
yếu là gỗ cây. Ngoài ra công ty còn kết hợp tổ chức vận tải hàng xuất nhập
21
khẩu, trớc hết khai thác tuyến Hải Phòng - Hồng Kông, Hải Phòng - Quảng
Châu.
Trải qua hoạt động trong thời chiến, đại bộ phận các phơng tiện bị h
hỏng, cũ nát, thêm vào đó hệ thống cầu cảng bị bom Mỹ phá hoại, cha kịp
phục hồi, phần lớn phải bốc xếp ở các bến bãi dã chiến, hạn chế năng suất vận
biển không đáp ứng đủ, công ty đã thực hiện cả vận tải trong nớc.
Trong thời kỳ 1975-1985, công ty đã đạt đợc những thành quả nhất
định: vận chuyển đợc 6,9 triệu tấn hàng trong đó vận chuyển nớc ngoài đạt 1,8
triệu tấn. Đội tàu của công ty đã lớn mạnh gồm 22 tàu với tổng trọng tải là
260.000 tấn, tăng 9 lần so với khi mới thành lập. Số tàu tăng thêm gồm nhiều
loại: tàu dầu, tàu chở hàng rời, hàng khô, tàu Ro-Ro, tàu kết hợp chở
container...Hầu hết các tàu đều có trọng tải lớn từ 10.000-20.000 tấn đợc trang
bị hiện đại phù hợp với tốc độ phát triển của ngành hàng hải, tuổi bình quân là
11. Số lao động của công ty đã tăng lên 2200 ngời trong đó có hơn 600 sĩ quan
đợc bồi dỡng đào tạo và đề bạt qua thực tế.
Thời kỳ từ 1986-1995, công ty luôn phải đối mặt với những thử thách
phức tạp, là thời kỳ trong nớc, trên thế giới đang gặp những biến động lớn. Đất
nớc vừa tiếp tục hàn gắn vết thơng chiến tranh vừa thực hiện cải cách đổi mới
nền kinh tế, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu sang cơ chế thị trờng. Hệ
thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, khối lợng hàng hoá vận chuyển từ các nớc xã
hội chủ nghĩa giảm mạnh trong khi đó thị trờng hàng hải quốc tế đang đứng tr-
ớc tình trạng khủng hoảng và cạnh tranh quyết liệt. Nguồn hàng vận tải biến
động, các hợp đồng mua bán xuất nhập khẩu của ta cha giành hàng cho đội tàu
trong nớc theo tập quán quốc tế.... Công ty phải tự tìm hàng cho tàu chở, do cơ
chế chính sách cha đồng bộ nên đối với các chủ hàng lớn trong nớc nh gạo,
phân bón, than cũng chỉ ký đợc hợp đồng chuyến. Nửa đầu thập kỷ 90 cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực đã tác động trực tiếp đến vận tải.
Kết quả là năm 1994 là điểm thấp nhất trong hoạt động kinh doanh vận tải của
công ty kể từ năm 1986. Công ty đã bộc lộ nhiều điểm yếu kém, cha đáp ứng
kịp thời với sự chuyển hớng hoạt động theo yêu cầu đổi mới. Khả năng cạnh
tranh trên thị trờng còn hạn chế, vốn đầu t trong nớc cha thoả mãn đợc yêu cầu
phát triển.
23
Năm 1995, Tổng công ty Hàng hải ra đời và Vosco trở thành đơn vị
thành viên trực thuộc Tổng công ty. Công ty đã từng bớc điều chỉnh mô hình
tài sản cố định của công ty đã lên tới 1061,8 tỉ đồng. Riêng số d gấp gần 7 lần
tổng giá trị tài sản năm 1975.
Vốn bằng tiền mặt tính đến đầu năm 2002 là 20,9 tỉ đồng trong đó tiền
mặt tại quỹ chiếm 2,8%, còn lại là tiền gửi ngân hàng. Nguồn vốn kinh doanh
là 510,7 tỉ , chiếm 96,2% nguồn vốn chủ sở hữu, vốn đầu t phát triển là 12,911
tỉ chiếm 2,4%.
Nếu so sánh với các công ty vận tải biển trong nớc thì vốn của Vosco là
rất lớn. Chỉ tính riêng giá trị đội tàu thì trong nớc không có công ty vận tải
biển nào có đội tàu vợt của Vosco. Song nếu so sánh với các hãng tàu trong
khu vực và trên thế giới nh MAERSK LINE (Đan Mạch), SEA-LAND (Mỹ),
COSCO (Trung Quốc), OOCL (Hồng Kông)... thì vẫn còn quá nhỏ bé. Với số
vốn còn quá nhỏ bé là một thách thức lớn đối với Vosco trong hiện tại cũng
nh trong tơng lai để phát triển kinh doanh trên thơng trờng quốc tế. Đặc biệt là
đã hạn chế rất nhiều tới đầu t phát triển đội tàu, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng
và khả năng mở rộng ra khu vực thị trờng thế giới. Do đó việc tìm ra những
giải pháp để khắc phục khó khăn, nâng cao nguồn vốn là một trong những vấn
để nan giải của công ty.
3/ Đội tàu
Khi Bộ Giao thông vận tải quyết định tách một bộ phận lớn phơng tiện
và lao động của công ty để thành lập Công ty vận tải ven biển vào tháng
3/1975, Vosco chỉ giữ lại 8 tàu với tổng trọng tải 36.174 DWT. Sau 27 năm
phát triển và trởng thành công ty đã có một đội tàu buôn hùng hậu, lớn nhất
trong các đội tàu của các công ty vận tải biển Việt Nam.
Để theo kịp xu hớng phát triển của ngành Hàng hải Việt Nam nói riêng
và của ngành Hàng hải thế giới nói chung, đáp ứng đợc nhu cầu vận chuyển
của các khách hàng trong và ngoài nớc, trong những năm qua công ty vận tải
biển Việt Nam luôn chú trọng phát triển đội tàu: bán, chuyển nhợng những tàu
đã cũ có tuổi thọ cao, trọng tải nhỏ, mua tàu mới, trọng tải lớn. Từ năm 1986
đến năm 1990 số tàu của công ty đã giảm 20 tàu với tổng trọng tải 215.714
25