ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ XUÂN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TAND
QUA THỰC TIỄN HUYỆN ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG
NAM
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Phương Lan
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.2.
MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỊNH HƢỚNG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI
LY HÔN.............................................................................................. 19
1.2.1. Tôn trọng sự thoả thuận hợp lý của vợ chồng .................................... 20
1.2.2. Đảm bảo sự bình đẳng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng........... 21
1.2.3. Đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ, chồng trong sản xuất, nghề nghiệp..... 22
1.2.4. Đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của vợ, con chƣa thành niên,
con đã thành niên không có khả năng lao động.................................. 23
1.2.5. Chia tài sản bằng hiện vật hoặc giá trị ................................................ 25
1.3.
Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN...................................................... 27
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BÀN, TỈNH
QUẢNG NAM ................................................................................... 30
2.1.
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN TRANH CHẤP TRONG VỤ ÁN LY HÔN.......32
2.1.1. Đối tƣợng tài sản tranh chấp ............................................................... 32
2.1.2. Giá trị tài sản tranh chấp ..................................................................... 34
2.1.3. Tranh chấp giữa vợ chồng về các nghĩa vụ tài sản phát sinh trong
3.1.6. Vấn đề thủ tục tố tụng......................................................................... 88
3.2.
NHỮNG ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT ........................................................................... 93
3.3.
MỘT SỐ ĐIỂM HẠN CHẾ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TOÀ ÁN ............................................ 102
3.4.
M Ộ T S Ố K I Ế N NG H Ị N H ẰM N ÂNG C AO HI Ệ U QUẢ
H O Ạ T Đ Ộ N G X ÉT XỬ C ÁC TR AN H C H ẤP T ÀI S Ả N
GIỮA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN ................................................ 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 115
BẢNG VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
BLTTDS
PT
: phúc thẩm
ST
: sơ thẩm
TAND
: Tòa án nhân dân
Tp.
Thành phố
UBND
: Ủy ban nhân dân
:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Để xây
dựng gia đình tốt thì nền tảng hôn nhân phải bền vững, ngoài việc đƣợc hình
thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một
trong những điều kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là điều kiện vật chất, cơ sở
kinh tế cho hôn nhân tồn tại bền vững. Vì vậy, các nhà làm luật đã quan tâm
c h ấ t l à m c h o n h ữn g t r a n h c h ấ p v ề t à i s ả n g i ữa v ợ v à c h ồ n g t r o n g c á c v ụ á n l y
h ô n c ó t í n h q u yế t l i ệ t , c ă n g t h ẳ n g h ơ n , n ê n v i ệ c g i ả i q u yế t cũ n g g ặp n h i ều
k h ó k h ăn .
Là một huyện có mức sống trung bình so với cả nƣớc song Điện Bàn
cũng chịu sự ảnh hƣởng chung của xã hội. Những năm gần đây, số lƣợng các
vụ án nói chung tại địa bàn, đặc biệt là án hôn nhân gia đình tăng nhanh về số
lƣợng, phức tạp về nội dung, nhiều vụ tranh chấp rất gay gắt, khiếu nại kéo
dài gây nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng cũng nhƣ những
ngƣời tham gia tố tụng. Hầu hết các vụ án đều đƣợc giải quyết trong thời hạn
luật định, thấu tình đạt lý, khách quan, đƣợc sự đồng tình của ngƣời dân. Tuy
nhiên, thực tiễn giải quyết vấn đề tài sản khi ly hôn trong các vụ án hôn nhân
gia đình còn gặp nhiều vƣớng mắc, bất cập do có nhiều quan điểm nhận thức,
đánh giá khác nhau nên vẫn còn một số vụ án bị cấp trên cải sửa, hủy dẫn đến
vụ án phải xét xử lại nhiều lần. Nguyên nhân thì có nhiều nhƣng phải kể đến
các quy định của pháp luật còn chƣa rõ ràng, một số quy định còn chung
chung, chƣa có sự thống nhất từ các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và cá
nhân thực thi pháp luật liên quan đến giải quyết tài sản của vợ chồng trong vụ án
ly hôn.
Với đề tài: "Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại
Tòa án nhân dân qua thực tiễn huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam", tác giả
2
muốn giải quyết phần nào những vƣớng mắc trên nhằm hoàn thiện pháp luật
về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế độ tài sản của vợ chồng và việc giải quyết tranh chấp về tài sản
trong các vụ án hôn nhân gia đình đã đƣợc một số nhà khoa học nghiên cứu,
đề cập đến nhƣ sách chuyên khảo "Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp tài sản của
vợ chồng khi ly hôn
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp tài sản
của vợ chồng khi ly hôn tại TAND huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Những vấn đề phát sinh từ thực tiễn xét xử và một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về tài sản
của vợ chồng khi ly hôn.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP TÀI
SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
C h ế đ ộ t à i s ả n c ủ a v ợ c h ồ n g t h e o q u y đ ị n h c ủ a Lu ậ t H N& G Đ n ă m
2000 là hình thức chế độ cộng đồng tạo sản, theo đó, tài sản mà vợ chồng c ó đ
ƣ ợ c t r o n g t h ờ i k ỳ h ô n n h â n l à t à i s ả n c h u n g c ủ a v ợ c h ồ n g . Ng o à i r a , trong
một số trƣờng hợp, vợ chồng còn có quyền có tài sản riêng. Việc quy đ ị n h v ề q
u a n h ệ t à i s ả n g i ữa v ợ c h ồ n g v à x á c đ ị n h t à i s ả n c h u n g , t à i s ả n riêng của
một bên vợ, chồng là căn cứ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của v ợ c h ồ n g t r o
n g g i a đ ì n h , đ ồ n g t h ờ i l à c ơ s ở g i ả i q u yế t t r a n h c h ấ p v ề t à i s ả n củ a v ợ ch ồ n g k h
ilyhôn.
1.1.1. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để cuộc sống chung của vợ
việc vợ chồng tạo ra tài sản bằng chính sức lao động của mình dựa trên công
việc, chuyên môn của mình. Vợ chồng có thể trực tiếp tạo ra tài sản nhƣ gieo
mạ lấy thóc, nuôi cá, đóng giƣờng, tủ … hoặc thông qua các hợp đồng cụ thể với
ngƣời khác nhƣ mua nhà, xe… nhằm đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của
gia đình.
Những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản
chung của vợ chồng. Pháp luật nƣớc ta dƣới chế độ cũ cũng quy định những
tài sản do vợ chồng "tạo mãi" trong thời gian hôn thú sẽ thuộc tài sản chung
của vợ chồng.
- Các thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:
Thu nhập là việc nhận đƣợc tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động
nào đó. Thu nhập hợp pháp của vợ chồng là việc hƣởng thành quả lao động
7
do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh theo tính chất nghề
nghiệp, công việc, chuyên môn mà vợ chồng thực hiện. Tài sản chung từ thu
nhập hợp pháp của vợ chồng thƣờng là tiền lƣơng, tiền công lao động, tài sản
thu đƣợc qua hoạt động sản xuất nhƣ trồng trọt, chăn nuôi…, lợi nhuận thu
đƣợc thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các khoản thu nhập
hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Những thu nhập hợp
pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là tiền thƣởng, tiền trợ cấp,
tiền trúng sổ xố mà vợ, chồng có đƣợc hoặc những tài sản mà vợ chồng đƣợc
xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS đối với vật vô chủ, vật không
xác định đƣợc ai là chủ sở hữu (Điều 239); đối với vật bị chôn giấu, bị chìm
đắm đƣợc tìm thấy (Điều 240); đối với vật do ngƣời khác đánh rơi, bị bỏ quên
(Điều 241); đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc (Điều 242, 243); đối với vật nuôi
dƣới nƣớc (Điều 244) … trong thời kỳ hôn nhân [32]. Đặc điểm của loại tài sản
kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Nghị định 70/CP quy định:
+ Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ
hoặc chồng đƣợc Nhà nƣớc giao, kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ
chồng. Quyền sử dụng đất này có thể là đất nông nghiệp để trồng cây hàng
năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; đất nông nghiệp để trồng cây lâu
năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở đƣợc Nhà nƣớc giao, đất chuyên
dùng.
+ Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ một
bên vợ hoặc chồng đƣợc Nhà nƣớc cho thuê là tài sản chung của vợ chồng.
+ Đối với quyền sử dụng đất do vợ chồng đƣợc chuyển đổi, chuyển nhƣợng,
thừa kế chung thì đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ.
+ Trƣờng hợp vợ chồng nhận thế chấp quyền sử dụng đất của ngƣời thứ
ba thì quyền nhận thế chấp đất cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Nhƣ vậy, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đƣợc sau khi kết hôn do
9
đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, đƣợc chuyển đổi, chuyển nhƣợng hoặc
thừa kế chung từ ngƣời khác thì đó là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có đƣợc trƣớc khi kết hôn, đƣợc
thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
- Những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; những tài
sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng.
Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững thì việc phát triển kinh tế,
tạo lập tài sản của vợ chồng đƣợc các bên chú trọng. Khi tình cảm vợ chồng
còn mặn nồng, việc xác định rạch ròi tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng
của mỗi bên ít đƣợc quan tâm, coi trọng. Vợ chồng thƣờng có xu hƣớng sử
dụng các tài sản có đƣợc vào mục đích chung của gia đình, giới hạn giữa tài sản
chung và riêng không có sự phân biệt rõ ràng. Các bên thƣờng có xu hƣớng
phải lập văn bản và làm các thủ tục pháp lý có liên quan. Việc anh dùng mảnh
đất này để xây ngôi nhà chung cho vợ chồng không mặc nhiên đƣợc coi là nhập
vào khối tài sản chung của vợ chồng. Anh K muốn chứng minh tài sản nào là tài
sản riêng của mình thì phải xuất trình chứng cứ, nếu không chứng minh đƣợc
thì tùy từng trƣờng hợp, Tòa án có thể suy đoán đó là tài sản chung của vợ
chồng hoặc là tài sản riêng của anh K.
Nhƣ vậy, so với các văn bản pháp luật trƣớc đây, Luật HN&GĐ năm
2000 đã có một điểm mới là nguyên tắc suy đoán tài sản chung của vợ chồng, một
trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung. Quy định tại khoản
3 điều 27 Luật HN&GĐ chỉ thiết lập một suy đoán, không khẳng định chắc
chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Nguyên
tắc này đã phần nào đảm bảo đƣợc sự công bằng trên cơ sở vì lợi ích chung của
gia đình và của vợ chồng.
"Trong trƣờng hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp
luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở
hữu phải ghi tên của cả vợ chồng" (khoản 2 điều 27 Luật HN&GĐ). Ngoài ra,
11
Luật HN&GĐ còn quy định tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung
hợp nhất, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản chung
đƣợc quy định tại Điều 28 Luật HN&GĐ, Điều 217 và Điều 219 BLDS.
Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định tƣơng đối cụ thể về căn cứ xác
định tài sản chung của vợ chồng dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản.
Những tài sản mà vợ, chồng không chứng minh đƣợc là tài sản riêng của mỗi
bên vợ, chồng thì đƣợc xác định là tài sản chung của vợ chồng.
1.1.2. Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng
Luật HN&GĐ năm 1959 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng là
chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản do vợ, chồng có đƣợc hoặc tạo ra
gia đình. Vì vậy, vợ chồng có thể xác lập quyền sở hữu của mình đối với những
tài sản phát sinh trƣớc khi kết hôn dựa trên các căn cứ đƣợc quy định từ Điều
233 đến Điều 247 BLDS 2005 về xác lập quyền sở hữu đối với thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp…
Quy định tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trƣớc khi kết hôn là tài sản
riêng của vợ chồng đã bảo vệ đƣợc quyền sở hữu cá nhân của vợ, chồng, là
căn cứ pháp lý bảo đảm tài sản riêng của vợ chồng khi giải quyết tranh chấp
trên thực tế; đồng thời phù hợp với quy định quyền sở hữu riêng của công dân
đƣợc Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ.
- Tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong
thời kỳ hôn nhân.
Những tài sản này không do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mà
đƣợc định đoạt bởi ý chí của chủ sở hữu. Việc pháp luật quy định những tài
sản này thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt
của các chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về việc chuyển dịch tài
sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng đƣợc hƣởng. Những tài sản mà vợ, chồng
đƣợc thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thƣờng do những
ngƣời thân thuộc, bạn bè của mỗi bên cho vợ, chồng đƣợc hƣởng giá trị tài
sản đó. Đó có thể là những tài sản do cha, mẹ cho riêng con trong
13
ngày cƣới, cha mẹ một bên khi chết để lại di chúc cho con mình là ngƣời vợ,
chồng đƣợc hƣởng … Những tài sản mà vợ, chồng đƣợc thừa kế riêng, tặng cho
riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng.
- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm đồ dùng, tư trang cá nhân
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1997 thì "đồ
dùng là vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, hoạt động hằng
ngày"; còn "tư trang là các thứ quý giá đi theo người của một cá nhân".
- Căn cứ vào thời điểm phát sinh nghĩa vụ riêng đó, nếu nghĩa vụ phát
sinh trƣớc khi kết hôn đƣợc xác định là nghĩa vụ riêng của vợ hoặc chồng;
- Căn cứ vào mục đích của giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực
hiện trong thời kỳ hôn nhân: những giao dịch đƣợc một bên thực hiện không vì
lợi ích, nhu cầu sinh hoặt thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ riêng của vợ
hoặc chồng;
- Nghĩa vụ riêng phát sinh do hành vi trái pháp luật, có lỗi làm phát
sinh thiệt hại cho ngƣời khác của một bên vợ hoặc chồng;
- Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của mỗi bên vợ, chồng không thể
chuyển giao cho ngƣời khác nhƣ cấp dƣỡng cho con riêng, cấp dƣỡng cho vợ,
chồng cũ …;
Về nguyên tắc, nợ riêng của ai thì ngƣời đó chịu trách nhiệm trả. Theo
điều 33 của Luật HN&GĐ thì: "Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi ngƣời đƣợc
thanh toán từ tài sản riêng của ngƣời đó". Trƣờng hợp tài sản riêng của ngƣời
đó không đủ thanh toán thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng và họ có
quyền sử dụng phần tài sản của mình đƣợc chia để trả nợ.
Trong vụ án hôn nhân, Tòa án phải giải quyết đồng thời ba mối quan hệ:
quan hệ hôn nhân, quan hệ về con chung và quan hệ về tài sản. Xác định đúng
các tài sản tranh chấp và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi giải quyết ly hôn sẽ
đảm bảo đƣợc quyền lợi hợp pháp của mỗi bên đƣơng sự và bảo đảm đƣợc
quyền lợi của ngƣời thứ ba có liên quan.
1.2. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỊNH HƢỚNG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
Giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn cần phải dựa
vào các nguyên tắc cụ thể, rõ ràng định hƣớng cho việc giải quyết đƣợc đúng
19