ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
¸P DôNG PH¸P LUËT
TRONG GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP §ÊT §AI T¹I TßA ¸N NH¢N D¢N
QUA THùC TIÔN CñA TßA ¸N NH¢N D¢N TèI CAO
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. MAI VĂN THẮNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật 7
1.1.2. Các giai đoạn của áp dụng pháp luật 10
1.1.3. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại
Toà án nhân dân tối cao 13
1.2. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ CÁC
PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 14
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai 14
1.2.2. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay 16
1.3. HỆ THỐNG TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA TOÀ ÁN
NHÂN DÂN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 19
1.3.1. Khái luận chung về hệ thống Toà án nhân dân ở Việt Nam
hiện nay 19
1.3.2. Thẩm quyền của hệ thống Toà án nhân dân trong giải quyết tranh
chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay 21
1.3.3. Lịch sử và vai trò của Toà án nhân dân tối cao trong việc áp dụng
pháp luật trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam 28
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 33
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 34
2.1. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TOÀ ÁN
NHÂN DÂN TỐI CAO 34
2.1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Toà án nhân dân
tối cao 34
2.1.2. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân
tối cao 35
2.1.3. Những điểm mới trong quy định của pháp luật đất đai, pháp luật
tố tụng 41
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự
GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSDĐ: Quyền sử dụng đất
SDĐ: Sử dụng đất
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
UBND: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số ký hiệu bảng
Tên bảng
Trang
1
Bảng 2.1:
Kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án tranh
chấp đất đai từ năm 2009 đến năm 2013
49
2
Bảng 2.2:
Tình hình giải quyết đơn khiếu nại giám đốc
thẩm, tái thẩm của TANDTC từ năm 2008
đến năm 2010
58
3
là các chủ trƣơng về đổi mới công tác tƣ pháp, hoạt động xét xử nói chung và
hoạt động giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự trong đó có các án về tranh
chấp đất đai đã đạt đƣợc nhiều thành tựu. Những kết quả trong hoạt động xét
xử về tranh chấp đất đai của Toà án nhân dân đã góp phần bảo đảm quyền tự
do, dân chủ và quyền sở hữu về tài sản của công dân; giữ vững trật tự, an toàn
xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc thời gian qua, việc xét xử các tranh
chấp đất đai vẫn còn xảy ra sai sót, xét xử thiếu thống nhất hoặc lúng túng khi
2
vận dụng pháp luật nên dẫn đến giải quyết các vụ án gặp nhiều khó khăn, kéo
dài. Để khắc phục tình trạng áp dụng không thống nhất pháp luật thì vai trò
của Toà án nhân dân tối cao cũng cần đƣợc quan tâm hơn; tuy nhiên hiện nay
vai trò của Tòa án nhân dân tối cao vẫn chƣa đƣợc thể hiện xứng tầm là cơ
quan xét xử cao nhất ở nƣớc ta. Có thể khẳng định rằng, việc áp dụng pháp
luật trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là vấn đề khó và phức tạp, do
đó việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất
đai, vai trò của Toà án nhân dân tối cao trong giải quyết tranh chấp đất đai;
trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp
đất đai, mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Toà án nhân
dân tối cao là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Với
nhận thức nhƣ vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Áp dụng pháp luật trong giải
quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân qua thực tiễn của Toà án
nhân dân tối cao” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
xử của Toà án nhân dân là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
pháp lý. Đặc biệt trong tình hình hiện nay thì số lƣợng các bài viết, công trình
nghiên cứu về cải cách tƣ pháp và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử
của toà án tăng lên rõ rệt. Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc áp
đƣợc minh chứng qua thực tiễn áp dụng pháp luật tại Toà án nhân dân tối cao.
- Phạm vi: Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại
Toà án nhân dân là một vấn đề lớn, có nhiều nội dung khác nhau. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học việc nghiên cứu chỉ
giới hạn trong việc nghiên cứu áp dụng pháp luật tại Toà án nhân dân tối
4
cao chủ yếu về pháp luật thủ tục. Đối với thực tiễn áp dụng, luận văn tổng
hợp và đánh giá số liệu xét xử trong phạm vi Toà án nhân dân tối cao từ
năm 2009 đến năm 2013.
4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật tại Toà án nhân dân tối cao qua đó đƣa
ra những kiến nghị hoàn thiện cơ chế áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp
đất đai tại Toà án nhân dân nói chung và Toà án nhân dân tối cao nói riêng.
Từ những mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận của áp dụng pháp luật trong
giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân.
- Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại
Toà án nhân dân tối cao hiện nay.
- Kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp
dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài.
Để đạt đƣợc những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận luận văn đƣợc
triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê
Nin, quan điểm của Đảng và nhà nƣớc ta về xây dựng nhà nƣớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Quá trình nghiên cứu cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa
học nhƣ: phƣơng pháp so sánh, phân tích tài liệu, phƣơng pháp tổng hợp,
đồng thời ứng dụng những thành tựu của khoa học luật: Luật đất đai, Bộ luật
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp
đất đai tại Toà án nhân dân tối cao ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 3: Một số định hƣớng, quan điểm, kiến nghị và hoàn thiện áp
dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại toà án nhân.
6
Nghiên cứu đề tài luận văn yêu cầu khối lƣợng lớn thời gian, công sức
nghiên cứu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn của tình hình thực hiện và áp dụng
pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân qua thực tiễn
tại Toà án nhân dân tối cao. Do chƣa thể đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi đó
nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận đƣợc
và xin chân thành cảm ơn các ý kiến phê bình, đóng góp của mọi độc giả quan
tâm đến luận văn!
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật
Khái niệm
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan
hệ xã hội do nhà nƣớc ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và
đƣợc thực hiện bằng các biện pháp cƣỡng chế của nhà nƣớc.
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật do vậy, việc xem
xét khái niệm áp dụng pháp luật phải đƣợc bắt đầu từ việc xem xét khái niệm
thực hiện pháp luật. Trong thực tế cuộc sống hiện đại, thực hiện pháp luật là
hoạt động không thể thiếu và thậm chí là hoạt động cực kỳ quan trọng vì nó có
vai trò thực hóa các quy định của pháp luật, biến các quy định ấy từ trong văn
những ngƣời có thẩm quyền tiến hành và mỗi cá nhân, cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền chỉ đƣợc giao một số hoạt động áp dụng pháp luật nhất định trong
phạm vi thẩm quyền của mình. Trong một số trƣờng hợp cá biệt, một số tổ
chức xã hội đƣợc nhà nƣớc trao quyền cũng có thể tiến hành áp dụng pháp
luật. Hoạt động áp dụng pháp luật đƣợc tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn
phƣơng của các cơ quan nhà nƣớc hay những ngƣời có thẩm quyền, không
phụ thuộc vào ý chí của những chủ thể có liên quan. Trƣờng hợp cần thiết, áp
dụng pháp luật đƣợc bảo đảm thực hiện bằng sự cƣỡng chế của nhà nƣớc.
Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nƣớc hay những ngƣời có
thẩm quyền phải xem xét, cân nhắc thận trọng và dựa trên những quy phạm
pháp luật đã đƣợc xác định để ra văn bản áp dụng pháp luật cụ thể. Văn bản
9
áp dụng pháp luật là hình thức thể hiện chính thức của hoạt động áp dụng
pháp luật; là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà
nƣớc, ngƣời có thẩm quyền xây dựng, đƣợc nhà nƣớc trao quyền ban hành
trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ
pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp, trách
nhiệm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật.
Thứ hai, Áp dụng pháp luật là hoạt động theo trình tự, thủ tục chặt chẽ
do pháp luật quy định
Pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền lợi
và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quá trình áp dụng pháp luật. Các cơ
quan nhà nƣớc, ngƣời có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình áp
dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó, để
tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng,
không chính xác. Hình thức thể hiện của hoạt động áp dụng pháp luật là văn
bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nƣớc, ngƣời và tổ chức có thẩm quyền
ban hành có tính chất cá biệt, một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể
trong những trƣờng hợp xác định, phải phù hợp với pháp luật và dựa trên
1.1.2. Các giai đoạn của áp dụng pháp luật
Để hoạt động áp dụng pháp luật đƣợc chính xác, đạt chất lƣợng, hiệu
quả cao cần tiến hành theo quy trình sau đây:
Bước 1: Xác định cơ sở thực tiễn
Đây là giai đoạn khởi đầu của quy trình áp dụng pháp luật. Trƣớc tiên
cần xác định đúng đắn nội dung, đối tƣợng, bản chất pháp lý của sự kiện
thực tế đó. Trƣớc khi quyết định áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nƣớc,
ngƣời có thẩm quyền phải điều tra, xem xét, kể cả các biện pháp chuyên
môn đặc biệt nhƣ xem xét thực địa, trƣng cầu giám định, áp dụng các biện
11
pháp khẩn cấp tạm thời để làm sáng tỏ những sự việc có liên quan. Khi điều
tra, xem xét phải đảm bảo sự khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình
tiết của vụ việc; phải nghiên cứu, xác định vụ việc đó thực sự có ý nghĩa
pháp lý hay không, đánh giá đƣợc tầm quan trọng về mặt pháp lý của nó;
tuân thủ các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc. Các cơ
quan áp dụng pháp luật phải quan tâm không chỉ kết quả việc xem xét đánh
giá sự việc khách quan mà phải xác minh kết quả đó có mang tính chân lý và
đúng pháp luật hay không?
Trên cơ sở đó xem xét có cần phải áp dụng pháp luật đối với vụ việc cụ
thể hay không? Nếu cần thì chuyển sang giai đoạn tiếp theo của quy trình.
Bước 2: Xác định cơ sở pháp lý
Đây là giai đoạn quan trọng trong quy trình áp dụng pháp luật vì nếu
không đƣa ra cơ sở pháp lý có sức thuyết phục, phù hợp sẽ ảnh hƣởng trực
tiếp đến các giai đoạn sau và đến kết quả của quá trình áp dụng. Trƣớc hết,
phải xác định ngành luật điều chỉnh để đi đến lựa chọn quy phạm pháp luật cụ
thể thích ứng với vụ việc. Quy phạm đƣợc lựa chọn phải từ các văn bản quy
phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra sự việc cần áp dụng.
Trong trƣờng hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu lực trở về
trƣớc (hiệu lực hồi tố) thì áp dụng theo quy định đó. Trong trƣờng hợp văn
tƣơng tự thì phải có sự lý giải kỹ càng về tính hợp pháp, hợp lý của việc áp
dụng pháp luật tƣơng tự đó, đồng thời cũng phải ghi rõ đã áp dụng tƣơng tự
quy phạm pháp luật nào hoặc nguyên tắc pháp luật nào.
- Văn bản áp dụng pháp luật phải đƣợc ban hành có cơ sở thực tế, căn
cứ vào những sự kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và có thật thì
mới đảm bảo áp dụng pháp luật chính xác, có tính thuyết phục.
- Văn bản áp dụng pháp luật phải đƣợc ban hành phù hợp với nhu
13
cầu thực tế của cuộc sống thì mới bảo đảm cho văn bản quy phạm pháp luật
có tính hiện thực. Nếu văn bản áp dụng pháp luật không phù hợp với thực
tế thì khó đƣợc thi hành nghiêm chỉnh, thi hành kém hiệu quả, thậm chí
không thể thi hành.
Bước 4: Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật, tiến hành
những hoạt động tổ chức nhằm bảo đảm cho việc thực hiện đúng văn bản áp
dụng pháp luật nhƣ việc tổ chức thi hành bản án v.v Trong quá trình tổ chức
thực hiện văn bản cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành
quyết định áp dụng pháp luật nhằm đảm bảo để quyết định đó đƣợc thực hiện
nghiêm chỉnh, đúng pháp luật.
Cuộc sống xã hội hàng ngày có không ít những sự kiện, những quan hệ
xảy ra trong thực tế liên quan tới lợi ích cá nhân, tổ chức cần phải đƣợc pháp luật
điều chỉnh ngay lập tức để đảm bảo lợi ích của công dân, các tổ chức và của nhà
nƣớc, song pháp luật không thể điều chỉnh hết các quan hệ xã hội để có những
quy phạm pháp luật mới, điều chỉnh vấn đề này đòi hỏi phải có thời gian. Mặt
khác, rất nhiều sự kiện xảy ra đột xuất, nhất thời nên cũng chƣa hẳn đã cần đến
các quy phạm pháp luật mới. Giải pháp cho những tình huống này là áp dụng
pháp luật tƣơng tự để giải quyết. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật tƣơng tự
phải rất hạn chế, chỉ khi thật sự cần thiết mới nên áp dụng. Việc áp dụng pháp
luật tƣơng tự phải xuất phát từ lợi ích của xã hội, của nhà nƣớc và của công dân,
Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật không phải lúc nào
cũng có chung quan điểm hay cùng một cách tiếp cận về các vấn đề trong
quan hệ pháp luật, vì thế sẽ dẫn đến những bất đồng, xung đột hay những mâu
thuẫn nhất định. Hiện tƣợng đó lý luận và thực tiễn pháp lý gọi là sự tranh
chấp pháp lý.
15
Tùy vào từng lĩnh vực, loại quan hệ có thể có nhiều loại tranh chấp
khác nhau, chẳng hạn: tranh chấp dân sự, tranh chấp trong kinh doanh, thƣơng
mại… trong đó có tranh chấp đất đai.
Theo quy định tại Khoản 26 Điều 4 Luật Đất đai, tranh chấp đất đai là
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều
bên trong quan hệ đất đai.
Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai thể hiện dấu ấn mạnh mẽ trong các thời kỳ lịch sử
khác nhau của quan hệ pháp luật đất đai. Chẳng hạn trƣớc đây, nhà nƣớc chỉ
thừa nhận hai hình thức sở hữu trong quan hệ đất đai: sở hữu nhà nƣớc và sở
hữu tập thể. Bƣớc sang nền kinh tế thị trƣờng, nhà nƣớc không can thiệp trực
tiếp vào hoạt động sản xuất-kinh doanh mà thực hiện quản lý thông qua hệ
thống pháp luật, chính sách thuế, đất đai đƣợc thừa nhận có giá trị, QSDĐ
đƣợc tham gia các giao dịch trên thị trƣờng làm quan hệ đất đai ngày càng đa
dạng và phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ mới liên quan đến chuyển nhƣợng,
thừa kế, góp vốn… là gia tăng tranh chấp, mâu thuẫn đất đai.
Đối tƣợng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và
những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất đai.
Các chủ thể tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không
có quyền sở hữu đối với đất đai.
Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hƣởng đến lợi ích trực tiếp của các
bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hƣởng đến lợi ích của nhà nƣớc.
Tranh chấp đất đai làm cho những quy định của pháp luật đất đai và
trong sau: Thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài và toà án. Theo đó, khi xảy ra
tranh chấp các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp
thƣơng lƣợng với nhau. Trong trƣờng hợp không thƣơng lƣợng đƣợc, việc
giải quyết tranh chấp có thể đƣợc thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba
thông qua phƣơng thức hòa giải, trọng tài hoặc toà án.
17
Hòa giải
Hòa giải là một biện pháp giúp các bên tìm ra tiếng nói chung để tháo
gỡ những vấn đề mâu thuẫn, bất đồng trên cơ sở tự thỏa thuận.
Nếu hòa giải thành, tranh chấp sẽ kết thúc. Trƣờng hợp các bên không
thể tự thƣơng lƣợng hòa giải đƣợc với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ
đƣợc thông qua tổ hòa giải cơ sở. Nếu hòa giải cơ sở vẫn không thống nhất thì
các bên có quyền gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có tranh chấp xảy ra để yêu
cầu hòa giải.
Thời hạn hòa giải là 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn. Kết quả phải
đƣợc lập thành biên bản có sự xác nhận của UBND cấp xã và có chữ ký
của các bên.
Trƣờng hợp kết quả hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng sử dụng đất
thì UBND cấp xã gửi biên bản đến Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng đối với
tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cƣ với nhau; gửi đến Sở tài
nguyên và môi trƣờng đối với trƣờng hợp khác. Các cơ quan này trình UBND
cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi đó và cấp mới GCNQSDĐ.
Giải quyết tranh chấp bằng việc khởi kiện tại Toà án nhân dân
Luật Đất đai 2003 có sự thu hẹp phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh
chấp đất đai của UBND.
Thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân:
Giải quyết các tranh chấp về QSDĐ mà đƣơng sự đã có GCNQSDĐ hoặc
một trong các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003.[18]
Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất.
về việc chọn trọng tài.
So với các phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng toà án thì việc
lựa chọn phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có một số ƣu