Bộ Giáo dục và Đào tạo
bộ tư pháp
trường đại học luật hà nội
PHAN TH THANH MAI
áp dụng pháp luật trong giải quyết
tranh chấp về hợp đồng dân sự của tòa án
nhân dân ở tỉnh vĩnh phúc
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s
: 60 38 01 01
luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Minh Tâm
Hà nội - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ nêu trong luận văn là trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân
27
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG
DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH VĨNH PHÚC
36
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình tổ chức, hoạt 36
động của Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc có ảnh hưởng đến
hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp
đồng dân sự
2.2.
Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp
đồng dân sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2008
đến năm 2012
39
2.3. Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 62
trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân
dân ở tỉnh Vĩnh Phúc
KẾT LUẬN
70
48
Bảng 1.2: Kết quả thụ lý và giải quyết sơ thẩm án tranh chấp hợp
đồng dân sự của các huyện, tỉnh năm 2009
48
Bảng 1.3: Kết quả thụ lý và giải quyết sơ thẩm án tranh chấp chấp
hợp đồng dân sự của các huyện, tỉnh năm 2010
49
Bảng 1.4: Kết quả thụ lý và giải quyết sơ thẩm án tranh chấp chấp
hợp đồng dân sự của các huyện, tỉnh năm 2011
49
Bảng 1.5: Kết quả thụ lý và giải quyết sơ thẩm án tranh chấp chấp
hợp đồng dân sự của các huyện, tỉnh năm 2012
50
Bảng 1.6: Kết quả án sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện ở tỉnh
Vĩnh Phúc bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
51
Bảng 1.7: Kết quả án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bị
kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
trọng pháp luật trong quần chúng nhân dân. Chính điều này đã góp phần rất quan
trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của
2
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân theo quy định của
pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của
ngành Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang đặt ra những yêu cầu vừa cấp
bách, vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượng xét xử trong quá trình thực
hiện cải cách tư pháp ở nước ta theo đúng đường lối của Đảng.
Với mong muốn vận dụng những kiến thức lý luận chung về áp dụng pháp
luật vào việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân cho nên
tìm hiểu các quy định của BLDS, BLTTDS về hợp đồng dân sự và việc áp dụng các
quy định này vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự của Toà án nhân
dân, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp
về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên
cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp
về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học pháp lý. Đặc biệt, trong thời kỳ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; phát huy dân chủ đi đôi với việc tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa và thực hiện cải cách tư pháp thì số lượng các bài viết, công
trình nghiên cứu về cải cách tư pháp, về hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và
áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân
dân nói riêng tăng lên rõ rệt… Có thể liệt kê một cách không thật sự đầy đủ các
công trình đó như sau:
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Những vấn đề cơ bản về BLDS Việt Nam” năm
1997 của Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật thuộc Trung tâm khoa học xã hội
đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu
nào phân tích một cách có hệ thống về áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh
chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc. Lần đầu tiên, tác
giả nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật
trong giải quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân hiện nay.
4
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tác giả tập trung nghiên cứu tình hình áp dụng pháp luật để giải quyết tranh
chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc trong khoảng thời
gian từ năm 2008 đến năm 2012.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài này là hệ thống các quan điểm duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về tăng cường pháp chế, xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đặc biệt các
quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong lĩnh vực hợp đồng dân sự.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp lịch
sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, quy nạp, diễn giải…
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp
đồng dân sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Vĩnh Phúc”, nhằm đạt được những mục
đích sau đây:
- Nghiên cứu những khái niệm về áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh
chấp về hợp đồng dân sự;
- Phân tích nội dung của hoạt động này trong những năm qua của Tòa án;
- Nêu ra những hạn chế của pháp luật hiện hành về hợp đồng từ đó đưa ra
một số biện pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải
Chương 2: Thực trạng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân ở
tỉnh Vĩnh Phúc.
6
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự và tranh chấp hợp đồng dân sự
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự vốn đã là một phương thức cơ bản để các chủ thể thực hiện
việc lưu thông và trao đổi hàng hoá dịch vụ. Trong nền kinh tế hàng hoá và sự giao
lưu kinh tế trên phạm vi toàn thế giới thì hợp đồng dân sự càng có một vai trò quan
trọng. Để hợp đồng dân sự trở thành một phương thức pháp lý, đảm bảo quyền lợi
chính đáng cho các chủ thể trong quá trình giao lưu dân sự, bất kỳ một quốc gia nào
cũng đều phải ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về các loại
hợp đồng dân sự, xác định cách thức giao kết, cách thức thực hiện hợp đồng, ghi
nhận quyền, xác định nghĩa vụ của các bên trong các hợp đồng và đảm bảo cho các
quyền, nghĩa vụ đó được thực hiện.
Ở nước ta, hợp đồng dân sự được định nghĩa tại Điều 388 BLDS 2005, như
sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo định nghĩa này ta thấy nổi bật lên hai nét
cơ bản của hợp đồng dân sự. Đó là: Thứ nhất, sự thoả thuận giữa các bên; Thứ hai,
làm phát sinh hậu quả pháp lý (xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
dân sự).
trong hợp đồng. Trên cơ sở đó, có thể hiểu tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dân sự
là tình trạng pháp lý trong quan hệ hợp đồng dân sự, mà ở đó các bên thể hiện sự
xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp
đồng dân sự. Một hợp đồng dân sự chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột,
bất đồng về phương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt
khách quan) thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được.
8
Tranh chấp hợp đồng nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng phải hội tụ đủ
các yếu tố sau: Có quan hệ hợp đồng tồn tại giữa các bên; có sự vi phạm nghĩa vụ
(hoặc cho rằng là vi phạm nghĩa vụ) của một bên trong quan hệ đó; có sự bất đồng ý
kiến của các bên về sự vi phạm hoặc xử lý hậu quả phát sinh từ sự vi phạm.
Tranh chấp hợp đồng thường hình thành từ sự vi phạm hợp đồng nhưng
không phải sự vi phạm nào cũng dẫn đến tranh chấp hợp đồng. Việc phân loại tranh
chấp hợp đồng hiện nay có ý nghĩa trong việc lựa chọn, phân định thẩm quyền giải
quyết tranh chấp. Đối với tranh chấp hợp đồng dân sự thì thuần túy thuộc thẩm
quyền của Tòa án (dân sự).
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật
1.1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật
Pháp luật là phương tiện để thể chế hoá đường lối, chủ trương chính sách của
Đảng, đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô
toàn xã hội; là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội như kinh
tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, an ninh quốc phòng, khoa học kỹ thuật…là phương
tiện để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình. Tuy nhiên, để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống thì ngoài yếu tố như sự
phù hợp của hệ thống quy phạm pháp luật với các điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ
phát triển của xã hội, Nhà nước còn phải quan tâm đến hoạt động tổ chức thực hiện
và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh. Bởi lẽ, cho dù có ban hành ra những
văn bản pháp luật hoàn chỉnh đến đâu nhưng nếu các quy định của những văn bản
hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế.
Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà
Nội thì áp dụng pháp luật được hiểu là:
Hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ
quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ
thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn
cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát
sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể
[9, tr.186].
10
Theo cuốn tài liệu Học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về Nhà
nước và pháp luật (tập 1) của Viện Nhà nước và pháp luật thuộc Học viện Chính trị
- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thì:
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong
hoạt động thực hiện quyền hành pháp và thực hiện quyền tư pháp của
Nhà nước. Đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước
được xem như là đảm bảo đặc thù của Nhà nước sao cho các quy phạm
pháp luật được thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội [26, tr.245].
Theo cuốn đề tài nghiên cứu cấp trường, trường Đại học Luật Hà Nội về Áp
dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay của chủ nhiệm đề tài là T.S Nguyễn Thị Hồi
cho rằng:
Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do
các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành
vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể [28,
tr.12].
Như vậy, thực tế có nhiều quan điểm, cách tiếp cận và biểu đạt khác nhau về
áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, đa số các tác giả đều thống nhất coi áp dụng pháp
hiện cụ thể bằng các bản án, quyết định…các loại văn bản trên phải phù hợp với
pháp luật, được dựa trên những quy phạm pháp luật cụ thể. Văn bản áp dụng pháp
luật có hai loại là văn bản xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể và văn bản
bảo vệ pháp luật chứa đựng những biện pháp trừng trị, cưỡng chế đối với những cá
nhân, tổ chức vi phạm luật.
- Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt cụ thể đối với các
quan hệ xã hội xác định trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp
luật.
Thông qua hoạt động áp dụng pháp luật sẽ được cá biệt hoá một cách chính
xác thành mệnh lệnh cụ thể đối với những chủ thể cụ thể. Tuy nhiên, mệnh lệnh cụ
thể không được trái với mệnh lệnh chung đã nêu trong quy phạm pháp luật.
- Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo do vậy các cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật cần phải nghiên cứu kỹ
12
vụ việc và làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để lựa chọn những quy phạm pháp
luật, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành. Trong trường hợp pháp luật
chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng sáng tạo bằng cách áp dụng
tập quán hoặc áp dụng pháp luật tương tự để giải quyết vụ việc. Để làm được điều
đó, đòi hỏi những người có thẩm quyền phải có tinh thần trách nhiệm, ý thức pháp
luật cao, kinh nghiệm phong phú, đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt.
Ở Việt Nam, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, đòi
hỏi phải đề cao vai trò của hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là hoạt động áp
dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng như Toà án.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh
chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân
1.1.3.1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp
đồng dân sự của Tòa án nhân dân
Hiện nay, những quy định về hợp đồng dân sự chiếm một vị trí quan trọng
Từ phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm áp dụng pháp luật trong giải
quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân như sau:
Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự là hoạt
động mang tính tổ chức, tính quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt
động của Thẩm phán (trong trường hợp giải quyết tranh chấp không phải mở phiên
tòa xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử) căn cứ
vào các quy định của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, các quy định khác của pháp
luật để ra một quyết định cá biệt hoặc một bản án làm phát sinh, thay đổi hay chấm
dứt các quan hệ pháp luật về hợp đồng dân sự.
Như vậy, áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự
của Tòa án nhân dân là hết sức quan trọng góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
1.1.3.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp
đồng dân sự của Tòa án nhân dân
Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa
án nhân dân là một hình thức cụ thể của áp dụng pháp luật nên khi thực hiện, người
14
áp dụng pháp luật phải tuân theo những nguyên tắc chung. Tuy nhiên, do tính chất
riêng biệt của các quan hệ hợp đồng cùng với trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân
sự trong giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự của Tòa án có những đặc điểm riêng
biệt, vì vậy có thể xem xét, nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều cách tiếp cận khác
nhau. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu một số đặc điểm cơ bản như sau:
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự của Tòa án
nhân dân là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước được thực hiện thông qua
những người có thẩm quyền là Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử.
Tính chất nhân danh quyền lực Nhà nước trong việc áp dụng pháp luật trong
giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự của Tòa án nhân dân trước hết được thể hiện
ở chủ thể áp dụng pháp luật. Trong trường hợp này là Toà án nhân dân. Đây là cơ
nhân dân với các nghi thức trang trọng, các thủ tục chặt chẽ thể hiện quyền uy của
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được tiến hành một cách công
khai, trừ một số trường hợp xử kín theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội
đồng xét xử tiến hành thẩm tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách
quan của vụ án để từ đó có căn cứ ra văn bản áp dụng pháp luật chính xác, đúng quy
định. Phiên tòa xét xử của Tòa án nhân dân là nơi quần chúng nhân dân, các cơ
quan ngôn luận, báo chí trực tiếp chứng kiến và mong mỏi sự thật khách quan của
vụ án được làm sáng tỏ thông qua các thủ tục dân chủ, công khai. Phiên tòa xét xử
của Tòa án nhân dân cũng là nơi các quyền của con người, các quyền tự do dân chủ
của công dân, lợi ích của Nhà nước xã hội chủ nghĩa được bảo vệ; là nơi sự thật
khách quan của vụ án được xác định, công bằng xã hội được thực hiện một cách dân
chủ, triệt để và nghiêm túc.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự của Toà
án phải tuân theo những quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục do BLTTDS quy
định.
Trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự, việc áp dụng pháp luật của
Toà án luôn theo một trình tự, thủ tục nhất định, được các quy phạm pháp luật hình
thức quy định, cụ thể là được quy định trong BLTTDS. Đây là điểm khác biệt giữa
việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và tranh
chấp hợp đồng dân sự nói riêng với việc áp dụng pháp luật của nhiều ngành luật
16
khác. Do đó, tính chặt chẽ và logic của các quy phạm pháp luật trong giải quyết
tranh chấp về hợp đồng dân sự thường ở mức độ cao.
Các hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng dân
sự phải đảm bảo tính chặt chẽ và có căn cứ pháp luật. Mọi hành vi của người tiến
hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá trình xét xử từ khi thụ lý hồ sơ vụ án đến
khi bản án có hiệu lực pháp luật đều được BLTTDS quy định chặt chẽ. Các quan hệ
phát sinh trong quá trình xét xử đều được BLTTDS dự liệu trước để quy định các
nên vẫn còn những “lỗ hổng”. Khi ban hành các văn bản pháp luật, các nhà lập pháp
tuy có dự tính trước nhưng vẫn để cho phong tục, tập quán điều chỉnh và có những
trường các nhà lập pháp khó có thể dự liệu hết các quan hệ xã hội cần thiết phải
điều chỉnh và có thể phát sinh trong thực tế. Đây là một hiện tượng khá phổ biến, ví
dụ như việc không có quy định về thu mua, hụi, họ…Trong những trường hợp như
vậy cần phải vận dụng sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán hoặc áp dụng pháp luật
tương tự để giải quyết vụ việc.
1.2. NỘI DUNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.2.1. Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân
sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
1.2.1.1. Áp dụng pháp luật trong thụ lý vụ án
Thụ lý vụ án dân sự nói chung và tranh chấp hợp đồng dân sự nói riêng là
một thủ tục pháp lý khẳng định sự chấp nhận của Tòa án đối với việc giải quyết vụ
án. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thì Tòa án phải thông báo ngay cho người
khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường
hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày
nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện
phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án sẽ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho
Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trường hợp người khởi kiện được miễn
hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì Toà án phải thụ lý vụ án khi
nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
18
Theo quy định tại Điều 172 BLTTDS thì: “Trong thời hạn ba ngày làm việc
kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ
án”
Như vậy, thụ lý vụ án là hoạt động đầu tiên của quá trình áp dụng pháp luật
Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu thấy chứng cứ mà đương sự giao nộp
chưa đầy đủ để giải quyết vụ án thì Toà án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung
chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 BLTTDS. Trong trường hợp đương sự
không thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án được và có đề nghị thì
Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp như: lấy lời khai của đương
sự; đối chất; trưng cầu giám định; định giá tài sản… được quy định tại khoản 2 Điều
85 BLTTDS để thu thập tài liệu, chứng cứ.
Việc lấy lời khai của đương sự phải tuân theo quy định tại Điều 86 BLTTDS:
“Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai
hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ”. Từ kết quả lấy lời khai, nếu thấy có mâu
thuẫn thì cho đối chất giữa các đương sự với nhau nhằm làm sáng tỏ những vấn để
mâu thuẫn, việc đối chất phải được ghi lại thành biên bản có chữ ký của những
người tham gia đối chất.
Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án có thể tiến hành ra một hoặc
một số quyết định như: Quyết định trưng cầu giám định, quyết định định giá tài sản,
quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ…Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự, Toà án có thể ra quyết định uỷ thác để Toà án khác hoặc cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ.
Quá trình điều tra cần tuân thủ nghiêm ngặt, chính xác các quy định của
BLTTDS thì mới đảm bảo tính khách quan, làm rõ bản chất sự thật khách quan và
giải quyết vụ án được chính xác, đúng quy định của pháp luật.
1.2.1.3. Áp dụng pháp luật trong tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có quyền ra quyết định
tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp được quy
định tại Điều 189 hoặc Điều 192 BLTTDS.
Khi ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, Toà án không xoá tên vụ án bị tạm
đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số, ngày, tháng, năm
20