LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thái Nguyên potx - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Áp dụng pháp luật trong giải quyết án
hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân
dân ở tỉnh Thái Nguyên

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ
trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Muốn xây

tăng. Đối với loại án này mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũng khác
nhau, nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn, trong nhận thức
vận dụng pháp luật cũng như những khó khăn từ khách quan mang lại. Tuy vậy, quá trình
giải quyết án HN và GĐ ở Thái Nguyên trong những năm qua đã đạt được những kết quả
nhất định góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hòa trong hôn nhân, bảo vệ các quyền
lợi các quyền lợi hợp pháp của đương sự. Thông qua việc ADPL trong việc giải quyết án
HN và GĐ đã góp phần làm ổn định quan hệ trong hôn nhân, giữ gìn kỷ cương pháp luật,
giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần tăng cường nền pháp chế XHCN
trên toàn tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, hoạt động ADPL trong giải quyết án HN và GĐ,
ngoài việc đấu tranh với các hành vi trái pháp luật nẩy sinh trong lĩnh vực về hôn nhân,
còn phổ biến tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, từ sự hiểu biết pháp luật,
nhân dân sẽ tham gia thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật, tố giác những hành vi vi phạm
pháp luật trong quan hệ hôn nhân, đồng thời qua thực tiễn APPL trong giải quyết án HN và
GĐ sẽ phát hiện ra những thiếu sót trong pháp luật để có những đề xuất sửa đổi các điều
khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể.
Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình kiểm tra giám đốc án và xét xử
phúc thẩm của TAND tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có những thiếu sót của việc ADPL
trong quá trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án bị sửa, hủy; một số ít vụ án còn bị
dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền lợi các đương sự. Trong hoạt động xét xử,
TAND tỉnh Thái Nguyên cũng đã bộc lộ một số tồn tại, như xét xử oan sai, án tồn đọng
còn nhiều, còn có vụ án vi phạm thời hạn tố tụng. Đặc biệt, một số vụ án do ADPL không
chuẩn xác, nên còn bị sửa, hủy nhiều lần, kéo dài nhiều năm, gây ảnh hưởng đến đời sống,
quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến
nhân dân khiếu kiện vượt cấp lên đến các cơ quan Trung ương. Tồn tại trên là những lực cản
cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền.

Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn
nhân và gia đỡnh của Tũa ỏn nhõn dõn ở tỉnh Thỏi Nguyờn " làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
Qua đề tài này, tôi mong muốn góp phần nâng cao chất lượng ADPL trong hoạt

2000 đến năm 2004.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích luận văn:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL trong giải quyết án HN và GĐ.
+ Đánh giá thực tiễn của việc ADPL trong giải quyết án HN và GĐ ở tỉnh Thái
Nguyên.
+ Đề ra những giải pháp đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án HN và GĐ của
TAND ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ
cụ thể sau đây:
+ Xây dựng khái niệm, ADPL trong giải quyết án HN và GĐ và phân tích các đặc
điểm, nội dung, cũng như nêu lên các giai đoạn của việc ADPL trong hoạt động giải
quyết án HN và GĐ.
+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động ADPL trong
giải quyết án HN và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên và rút ra các nguyên nhân khách
quan và nguyên nhân chủ quan của hạn chế.
+ Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể như: Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án; hoàn thiện các QPPL nhằm
đảm bảo ADPL trong giải quyết án HN và GĐ; kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực của
Thẩm phán, cán bộ Tòa án và HTND… nhằm đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án HN
và GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, trong
đó có vấn đề ADPL giải quyết án HN và GĐ.

* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin về duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp kết hợp giữa lý

1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật
Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của cơ
quan quản lý nhà nước bằng pháp luật ở nước ta hiện nay. Pháp luật được ban hành nhiều
nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản lý nhà nước kém hiệu quả.
Do đó, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vậy thực hiện pháp luật là gì? Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có
mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý
cho hành động thực tế của các chủ thể pháp luật. Các QPPL rất phong phú cho nên hình
thức thực hiện chúng cũng khác nhau. Căn cứ vào tính chất của hoạt động, thực hiện
pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp
luật tự kiềm chế, không tiến hành những hoạt động hay hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
- Thi hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình theo pháp luật quy định.
- Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
tích cực chủ động thực hiện các quyền chủ thể của mình theo pháp luật quy định.
- áp dụng pháp luật (hiểu một cách khái quát) là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó nhà nước dựa vào pháp luật để trao quyền cho các cơ quan nhà nước, các tổ
chức xã hội, các cá nhân để căn cứ vào các quy định pháp luật ban hành các quyết định
cá biệt làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể.
Quan niệm ADPL như vừa nêu trên được thể hiện rất rõ trong đời sống xã hội:
Chẳng hạn để ADPL hình sự nhằm buộc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm pháp luật
hình sự thì nhà nước đã trao quyền cho Toà án và Toà án căn cứ vào các quy định cụ thể
của pháp luật hình sự để xét xử ra một bản án (văn bản ADPL hình sự) buộc kẻ phạm tội

phải chịu một hình phạt nhất định. Hoặc để bảo vệ an toàn giao thông, Nhà nước bằng
pháp luật đã quy định cho các chiến sỹ cảnh sát giao thông có quyền áp dụng các quy
phạm pháp luật giao thông ra các quyết định xử phạt hành chính đối với các chủ thể có
hành vi vi phạm pháp luật giao thông như vượt đèn đỏ, đi vào đường ngược chiều Ngoài
ra, trong một số trường hợp, Nhà nước cũng cho phép một số tổ chức xã hội được ADPL,

áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế bằng một chế tài thích hợp
đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn, khi cần cưỡng chế một
hình phạt tù đối với kẻ thực hiện hành vi phạm tội thì các cơ quan bảo vệ pháp luật như
Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp luật hình sự để tiến hành điều tra,
truy tố, xét xử, ra bản án, ấn định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và buộc họ
phải chấp hành hình phạt đã nêu trong bản án đó.
- Thứ hai, khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước. Chẳng hạn, Điều 55
của Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân",
nhưng quyền và nghĩa vụ đó chỉ phát sinh khi có quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền tuyển dụng công dân đó vào
làm việc.
- Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên
tham gia QHPL mà các bên không tự giải quyết được. Chẳng hạn, khi phát sinh tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng dân sự mà hai bên không bàn bạc
giải quyết được nên phải nhờ đến Tòa án và Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp
luật ra một bản án xác định các quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
- Thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia
kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó hoặc Nhà nước xác
nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế. Ví dụ: Việc xác nhận di
chúc, chứng thực thế chấp, chứng nhận đăng ký kết hôn
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra một khái niệm: ADPL là một hoạt động mang
tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà

nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội, các cá nhân được Nhà nước trao quyền căn cứ
vào các quy định của pháp luật để đề ra một văn bản ADPL làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt các quan hệ pháp luật.
1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình
Trước khi nguyên cứu khái niệm ADPL trong giải quyết HN và GĐ, ta cần làm rõ

cao nhất trong lịch sử, chế độ XHCN quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia
đình XHCN. Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình XHCN
phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã
hội.
ở Việt Nam Khoản 10, Điều 8 Luật HN và GĐ năm 2000 quy định: "Gia đình là
tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ
nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau" [36, tr.13].
Như vậy, gia đình có thể gồm vợ chồng, con cái, anh chị em, cha mẹ, ông bà… cùng
chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng. Trong quá trình
chung sống phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. HN và GĐ là những hiện tượng xã
hội mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học nghiên cứu. Hôn nhân
là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa
lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh một
cách khoa học rằng, HN và GĐ là phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh
tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Trong tác phẩm
"Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước" (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn
mạnh rằng: Chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã
hội đó và bước chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy
cho cùng được quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội. Bằng tác
phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về hình thái HN và GĐ trong
lịch sử.
Tại các Điều 9, 10, 11, chương X, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định
việc kết hôn, để được công nhận hôn nhân hợp pháp; việc đăng ký kết hôn phải tuân theo
các quy định của pháp luật và việc ly hôn cũng như giải quyết các quan hệ liên quan đến
hôn nhân cũng được tiến hành theo trình tự pháp luật nhất định, các bước phải được tuân thủ
theo Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết một vấn đề cụ thể thì được áp dụng theo Luật Hôn
nhân và gia đình.

1.1.2.2. áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình - Khái niệm
và đặc điểm

pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, như tham gia định giá tài sản, yêu cầu điều tra
bổ sung tham gia phiên tòa xét xử và được phát biểu về việc giải quyết vụ án, thực hiện
quyền công tố tại phiên tòa. Tuy nhiên, TAND là cơ quan có trách nhiệm chủ yếu trong
việc giải quyết vụ án HN và GĐ. Nếu Viện kiểm sát từ chối không tham gia giai đoạn
điều tra và xét xử, thì vụ án vẫn được Toà án tiến hành giải quyết theo quy định của pháp
luật. Hầu hết trong các giai đoạn ADPL, hoạt động giải quyết án HN và GĐ do Tòa án
trực tiếp giải quyết mà không phụ thuộc vào các chủ thể khác.
* Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ
của TAND:
áp dụng pháp luật của trong giải quyết án HN và GĐ có những đặc điểm như sau:
- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ chỉ do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành, đó là hệ thống TAND. Toà án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất
có quyền ADPL để giải quyết án HN và GĐ. Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền
ADPL để giải quyết các vụ án HN và GĐ.
- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ được tiến hành theo một thủ tục
chặt chẽ do pháp luật tố tụng dân sự và các QPPL của Luật Hôn nhân và gia đình quy
định. Khi tiến hành giải quyết một vụ án HN và GĐ, các trình tự xây dựng hồ sơ từ khâu
thụ lý, điều tra, thu thập chứng cứ đến khi ra quyết định hoặc vụ án đưa ra xét đều phải
tuân theo các bước như đã quy định trong Luật Tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền lợi
hợp pháp của các bên đương sự.
- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ là một hoạt động mang tính
quyền lực của nhà nước, Tòa án được nhà nước trao quyền để lựa chọn các QPPL và
ADPL trong giải quyết án HN và GĐ.
- áp dụng pháp luật trong giải quyết án HN và GĐ là một hoạt động mang tính
khoa học và sáng tạo do Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện. Chỉ có Thẩm phán,
Hội đồng xét xử trực tiếp giải quyết vụ án HN và GĐ mới được áp dụng các QPPL, sao
cho phù hợp và khoa học để giải quyết án HN và GĐ. Trong khuôn khổ của pháp luật cho

phép, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ADPL sáng tạo, nghĩa là dựa vào trí tuệ và niềm tin
nội tâm của mình để ADPL.

giải quyết và các giấy tờ khác có liên quan để xác định thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Để phân tích các tình tiết khách quan của vụ án HN và GĐ thì phải tiến hành
điều tra xác minh, làm rõ nội dung vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp không nhất
thiết phải tiến hành điều tra, mà xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt và nghĩa
vụ chứng minh của các bên đương sự tự xuất trình chứng cứ, các đương sự tự thỏa
thuận được các tranh chấp trong quan hệ HN và GĐ, thì vụ án cũng không phải tiến
hành tất cả các hoạt động điều tra, đây cũng là đặc điểm riêng của vụ án HN và GĐ. Ví
dụ: Khi thụ lý giải quyết một vụ kiện xin ly hôn, Tòa án yêu cầu nguyên đơn và bị đơn
cung cấp các loại giấy tờ có liên quan đến quan hệ hôn nhân, các đương sự tự viết vào bản
tự khai. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự tự thỏa thuận, định đoạt được các
mối quan hệ trong hôn nhân thì Tòa án ra quyết định công nhận việc thỏa thuận của họ.
Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể ADPL phân tích những tình tiết
khách quan của vụ án HN và GĐ, làm rõ các đặc trưng pháp lý của vụ án để tiến hành các
bước tiếp theo giải quyết vụ án đó.
Hai là, lựa chọn các QPPL về HN và GĐ, về dân sự, về tố tụng dân sự tương ứng
để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình.
Nói chung việc lựa chọn QPPL để ADPL được tiến hành theo ý chí đơn phương của
Toà án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng, điều này được thể
hiện rất rõ đối với việc ADPL trong giải quyết án hình sự và giải quyết vi phạm hành chính,
nhưng đối với việc giải quyết án HN và GĐ về cơ bản cũng như vậy, song có một số trường
hợp có thể trong khi giải quyết vụ án các đương sự có thể thực hiện quyền của mình theo
pháp luật quy định sẽ thay đổi quan điểm, nên dẫn đến vụ án không phải tiếp tục điều tra, xét
xử mà có thể ra một trong các quyết định theo hướng khác phụ thuộc vào ý chí của các chủ
thể bị ADPL, nhưng lựa chọn các QPPL vẫn là do cơ quan toà án.
Ba là, làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL hôn nhân gia đình và các
QPPL khác khi đưa ra áp dụng đối với vụ án HN và GĐ.
Đây là quá trình vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt là
các tri thức pháp lý. Để làm sáng tỏ tư tưởng nội dung các quy phạm liên quan đến lĩnh vực
HN và GĐ. Giai đoạn này của quá trình ADPL nhằm nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng



- Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly
hôn.
- Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm
nom con sau khi ly hôn.
- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
- Các tranh chấp khác và những yêu cầu khác về HN và GĐ mà pháp luật có quy
định.
Trong thực tế các loại việc tranh chấp về HN và GĐ khi các đương sự gửi đơn đến
Tòa án viết rất đơn giản ít các thông tin để xem xét, thuộc loại tranh chấp nào, thuộc thẩm
quyền Tòa án nào giải quyết.
- Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, những chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì thông báo cho người khởi kiện biết để
họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.
- Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi
kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy
báo của Tòa án về việc tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án
phí.
Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai tạm thu tiền án
phí. Nếu trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án phải
thụ lý khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu có.
Khác với pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Điều 37 quy định: "Nếu
thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án báo ngay cho nguyên đơn nộp tiền tạm
ứng án phí, trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nộp đơn Tòa án thụ lý vụ án kể từ ngày
nguyên đơn nộp tiền", nhưng đối với Bộ luật Tố tụng dân sự tại Điều 167 quy định: "Tòa
án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện
và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn
khởi kiện Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:
- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu thuộc thẩm quyền của mình.

Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những nội dung đương sự chưa khai.

Việc lấy lời khai của đương sự cũng có thể được thực hiện tại trụ sở Tòa án, trong
những trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án. Sau khi
ghi xong, biên bản ghi lời khai phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên
hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai, ký tên
hoặc điểm chỉ xác nhận và có dấu của Tòa án, nếu nhiều bản thì phải có dấu giáp lai.
Trường hợp biên bản ghi lời khai ở ngoài trụ sở Tòa án phải có người làm chứng hoặc
xác nhận của Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi
lập biên bản. Ngoài việc lấy lời khai của đương sự, khi xét thấy cần thiết Thẩm phán tiến
hành lấy lời khai, nếu người làm chứng chưa đủ 18 tuổi hoặc năng lực hành vi dân sự của
họ bị hạn chế thì phải được tiến hành lấy lời khai với sự có mặt người đại diện hoặc
người đang quản lý trông nom.
Đối với vụ án ly hôn, khi có tranh chấp về con, nếu con từ 9 tuổi trở lên, khi giải
quyết cần phải xem xét nguyện vọng của con.
Từ kết quả lấy lời khai nếu thấy có mâu thuẫn thì tiến hành cho đối chất giữa các
đương sự với nhau nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mâu thuẫn, việc đối chất phải được
ghi lại thành biên bản có chữ ký của những người tham gia đối chất.
- Tiến hành điều tra xác minh, trong những trường hợp và xét thấy cần thiết Tòa án tiến
hành đến tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, cơ quan công tác hoặc nơi cư trú của đương sự để xác
minh nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến vụ án.
Cùng với việc lấy lời khai như trên thì cũng tiến hành thu thập các tài liệu khác
như:
- Đăng ký kết hôn.
- Bản sao giấy khai sinh các con.
- Các giấy tờ có ý nghĩa chứng minh về tài sản.
- Các giấy vay nợ, giấy cho vay.
- Các giấy tờ về nhà đất và các giấy tờ khác có liên quan đến vụ án.
Bên cạnh đó, tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể mà Toà án quyết định trưng cầu
giám định theo sự đề nghị của các bên đương sự hoặc theo đề nghị của một bên đương

các trường hợp sau:
+ Nguyên đơn hoặc bị đơn chết, quyền và nghĩa vụ của họ không ai thừa kế.

+ Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi
kiện không có quyền khởi kiện.
+ Các đương sự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết tiếp vụ án.
+ Nguyên đơn triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt.
+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Nếu vụ án thuộc một trong các trường hợp nêu trên, Toà án tiến hành phân tích,
đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đồng thời đối chiếu với pháp luật hiện hành, lựa
chọn QPPL để áp dụng ra quyết định đình chỉ đối với vụ án đó.
Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ, nếu đình chỉ theo các trường hợp như nêu
trên, tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp được sung và công quỹ nhà nước. Nếu trả lại
đơn theo Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã
nộp.
- Trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án áp dụng Đ189 Bộ luật Tố tụng dân sự
trong các trường hợp sau:
+ Một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định người đại diện
theo pháp luật.
+ Nguyên đơn đề nghị tạm đình chỉ có lý do chính đáng.
+ Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc chờ kết quả ủy thác
điều tra, chờ kết quả giám định.
+ Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
Sau đó phân tích đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đối chiếu với pháp luật
hiện hành, lựa chọn QPPL để áp dụng ra quyết định tạm đình chỉ đối với vụ án đó.
Hậu quả của việc tạm đình chỉ, tiền tạm ứng án phí, lệ phí của đương sự được gửi
vào kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Quyết định tạm
đình chỉ và đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
Thứ hai, hoạt động ADPL trong trường hợp hòa giải thành.
Trong trường hợp hòa giải thành, sau khi tiến hành thụ lý vụ án HN và GĐ, Tòa án

với pháp luật hiện hành lựa chọn QPPL áp dụng Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự để
ra quyết định công nhận việc hòa giải thành.
Hiệu lực của quyết định công nhận hòa giải thành có hiệu lực pháp luật ngay sau
khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị

kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là nhầm
lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Thứ ba, hoạt động ADPL trong trường hợp thuận tình ly hôn.
Trong trường hợp thuận tình ly hôn, khi tiến hành thụ lý vụ án HN và GĐ, tiến
hành điều tra vụ án cũng phải tuân thủ các bước như trên, nhưng trong trường hợp
này, vụ án ly hôn nên cần phải điều tra thêm về con cái như độ tuổi các con, nguyện
vọng của con khi bố mẹ ly hôn, về tài sản, nợ chung, nợ riêng cũng phải được điều tra
đầy đủ, rõ ràng. Trong trường hợp này, vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn mà việc hòa
giải không thành, các đương sự thực sự thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có
khả năng đoàn tụ, họ tự nguyện ly hôn và thỏa thuận được với nhau các mối quan hệ
trong hôn nhân, như thỏa thuận về chia tài sản, nợ chung, việc trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con, thì Tòa án lập biên bản ghi nhận lại nội dung của sự thỏa
thuận đó, đồng thời đối chiếu với pháp luật hiện hành để lựa chọn QPPL và ADPL để
ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn của các bên đương sự.
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban
hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ rằng sự thỏa thuận đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe
dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Thứ tư, hoạt động ADPL trong trường hợp đưa vụ án ra xét xử bằng một bản án:
Điều 28 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, quy định thẩm quyền của TAND
các cấp như sau:
- Phiên tòa sơ thẩm của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây
gọi chung là TAND cấp huyện).
- Phiên tòa sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.
- Phiên tòa phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu

+ Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu.
+ Nghe lời trình bày của đương sự
+ Thứ tự hỏi tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan, người làm chứng.
+ Công bố các tài liệu của vụ án, xem xét vật chứng, hỏi người giám định.

+ Kết thúc việc hỏi tại tòa.
- Tranh luận tại phiên tòa.
+ Trình tự phát biểu tranh luận.
+ Phát biểu sau khi tranh luận và đối chất.
+ Phát biểu của Viện kiểm sát.
+ Trở lại việc hỏi (nếu xét thấy cần thiết).
- Nghị án và tuyên án
+ Nghị án.
+ Trở lại xét hỏi và tranh luận.
+ Tuyên án, cấp trích lục cho đương sự và cơ quan có liên quan.
Hoạt động ADPL của Hội đồng xét xử đối với vụ án HN và GĐ được hiện theo
các trình tự như sau:
 Hoạt động ADPL theo trình tự sơ thẩm của TAND cấp huyện.
Đây là lần xét xử đầu tiên đối với án HN và GĐ và hầu hết tất cả các loại án này
đều được xét xử ở cấp huyện. Trước đây, việc ADPL giải quyết án HN và GĐ ở cấp sơ
thẩm của TAND cấp huyện, theo pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989,
từ ngày 01- 01- 2005 trình tự giải quyết án HN và GĐ được áp dụng theo Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004.
Xét xử án HN và GĐ của TAND cấp huyện có số lượng vụ án nhiều, chiếm đa số
trong toàn tỉnh và là cấp xét xử từ khâu chuẩn bị xét xử đến khi xét xử tại phiên tòa. Nếu
việc ADPL được chính xác thì kết quả vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình
tự phúc thẩm và trình tự giám đốc hoặc vụ án không bị dây dưa kéo dài, hạn chế tình
trạng quá tải cho Tòa án cấp trên cũng như việc khiếu kiện vượt cấp.
Đối với vụ án HN và GĐ, việc tranh chấp sau khi hòa giải không thành mà phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status