LUẬN VĂN:
Áp dụng pháp luật trong giải quyết
các vụ án dân sự của tòa án nhân dân
thành phố lào cai - tỉnh lào cai
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại
hội VI (1986) đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
của Nhà nước Việt Nam luôn đề cao các nguyên tắc về tôn trọng và bảo vệ quyền con
người, nguyên tắc bình đẳng, công bằng, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực
hiện pháp luật. Để hoạt động của các cơ quan tư pháp đáp ứng được yêu cầu của cuộc
sống, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về vấn đề này như: Nghị quyết Trung ương 8 (khóa
VII), Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII). Tại Đại hội IX,
Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân. Nhà nước pháp quyền được xây dựng trên cơ sở hệ thống các tư tưởng, quan
điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và trong
đời sống xã hội. Đồng thời, là nhà nước được tổ chức và quản lý theo pháp luật và đề cao
các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền của con người, quyền công dân. Căn cứ
vào những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền, có thể thấy nhiệm vụ cấp bách hàng đầu
hiện nay là phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật
nghiêm minh. Do đó yêu cầu "cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các
cơ quan tư pháp" [5, tr.90] là một trong những đòi hỏi bức xúc ở nước ta hiện nay.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, ngày 02
tháng 01 năm 2002, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08/NQ-TƯ về “Một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, trong đó đề ra các nhiệm vụ cụ thể
nhằm cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Tiếp tục hoàn thiện và xây dựng hệ thống pháp luật động bộ ngày 24 tháng 05 năm
2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về “Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020”. Mục đích của cải cách tư pháp là nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, dân
chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc mà trọng tâm
là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.
Phương hướng và nội dung cải cách tư pháp ở Việt Nam là tiến hành cải cách tư
pháp khẩn trương đồng bộ; hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, dân sự phù hợp
với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục
trong đời sống của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự đã góp phần ổn định xã hội
và cải thiện các mối quan hệ trong đời sống hàng ngày tại cộng đồng dân cư, giữ gìn kỷ
cương pháp luật, trật tự an toàn xã hội, đồng thời góp phần tằng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa trên toàn tỉnh Lào Cai nói chung và trên địa bàn Thành phố Lào Cai nói riêng.
Trong thực tế, việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự không chỉ
đơn thuần đấu tranh đối với các hành vi trái pháp luật mà còn phổ biến, tuyên truyền
giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, để người dân hiểu biết về pháp luật, chủ động
tham gia thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật và tích cực trong việc tố giác các hành vi
vi phạm pháp luật. Đồng thời, thông qua việc áp dụng pháp luật trong giải quyết án dân
sự còn phát hiện ra những bất cập, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm sửa đổi, điều
chỉnh các điều khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai
đoạn cụ thể. Bên cạnh đó, quá trình kiểm tra xét xử án phúc thẩm và giám đốc thẩm của
Tòa án cấp trên trong những năm qua cho thấy, việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa
án nhân dân thành phố Lào Cai còn nhiều bất cập dẫn đến nhiều vụ án bị hủy, sửa, tình
trạng án tồn đọng chưa được giải quyết. Còn tồn tại nhiều vụ án bị kéo dài vượt quá thời
hạn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và có nhiều vụ án áp dụng pháp luật chưa thật sự
chuẩn xác, nghiêm minh đã dẫn đến việc bị sửa, hủy làm ảnh hưởng rất lớn đến quyền và
lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Là một cán bộ của ngành tòa án, bản thân tôi mong muốn thông qua đề tài nghiên
cứu của mình sẽ góp phần vào việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết các vụ án dân sự. Vì lẽ đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Áp dụng
pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai”
làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Hy vọng
rằng, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử và áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết các vụ án dân sự của ngành Tòa án nói chung, Tòa án nhân Thành
phố Lào Cai nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1. Mục đích của luận văn
+ Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong giải quyết
các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai
+ Thông qua các số liệu báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân
Thành phố Lào Cai đánh giá thực trạng tình hình hoạt động áp dụng pháp luật trong việc
giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai, Từ đó đề ra giải
pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật trong giải
quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai, nhằm đảm bảo việc giải
quyết vụ án một cách chính xác, công bằng, hiệu quả góp phần ổn định xã hội và mang
lại cho nhân dân niềm tin vào pháp luật.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, các giai đoạn của áp dụng pháp luật trong
việc giải quyết các vụ án dân sự.
+ Đánh giá thực trạng của áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự
của Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai, những kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn
chế của hoạt động áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án
nhân dân Thành phố Lào Cai.
+ Từ đó nêu lên các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân thành phố Lào
Cai.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật,
trong đó có áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của triết học Mác-
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1.1. Một số vấn đề chung có liên quan
Để làm rõ khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án
nhân dân cấp huyện, thì cần thiết phải làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan sau đây:
1.1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật
Ở bất cứ một hình thức nhà nước nào thì pháp luật luôn là một công cụ để đảm bảo
cho một xã hội phát triển ổn định, khi đặt ra những quy phạm pháp luật, Nhà nước ta
mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đáp ứng lợi ích của nhân
dân lao động và sự tiến bộ xã hội. Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện
nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế.
Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của
quản lý nhà nước bằng pháp luật. Pháp luật được ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc
sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản lý nhà nước kém hiệu quả. Do đó, xây dựng
pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người
phù hợp với những quy định của pháp luật, thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi
cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội.
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy
định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các
chủ thể pháp luật. Các quy phạm pháp luật (QPPL) rất phong phú, do đó hình thức thực
hiện cũng rất phong phú và khác nhau. Căn cứ vào tính chất của hoạt động, thực hiện
pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật
kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm.
- Thi hành pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp
dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và được bảo đảm bởi sức mạnh
cưỡng chế nhà nước.
Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động phải tiến hành theo các thủ tục chặt chẽ do
pháp luật quy định. Ví dụ: việc áp dụng pháp Luật Hình sự để giải quyết một vụ án hình
sự phải tuân thủ Luật Tố tụng hình sự với những quy định chặt chẽ.
Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo. Bởi vì, áp dụng pháp
luật là quá trình vận dụng cái chung (các quy phạm pháp luật) để giải quyết các vụ việc
cụ thể. Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải vận dụng cái chung
cái phù hợp với cái riêng rất phong phú, đa dạng và phức tạp.
Từ sự phân tích trên, cơ thể đưa ra khái niệm: Áp dụng pháp luật là hoạt động
mang tính tổ chức quyền lực của nhà nước được thực hiện thông qua những cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao
quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với
các cá nhân, tổ chức cụ thể.
1.1.1.2 Khái niệm vụ án dân sự
Các quan hệ xã hội rất đa dạng và phức tạp. Khi tham gia vào các quan hệ xã hội
các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của
pháp luật. Việc một chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và
nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật có thể sẽ xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của chủ thể khác, dẫn đến tranh chấp. Khi có chủ thể yêu cầu bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong trường hợp có vi phạm hoặc có tranh chấp thì
Tòa án phải xem xét thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Các
vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh
thương mại và lao động do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự. Trong đó,
đối với những việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án
dân sự.
Đặc trưng của vụ án dân sự là có tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ dân sự,
đó là sự không thống nhất việc thực hiện hay không thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ của
một trong hai bên khi tham gia các quan hệ dân sự trong cuộc sống thường là (mỗi bên có
xã hội, Nhà nước thiết lập cơ chế pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức hay chủ thể khác (sau đây gọi chung là các đương sự)
có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền sử dụng các biện pháp do pháp luật
quy định để bảo vệ quyền, lợi ích đó như yêu cầu người có hành vi trái pháp luật chấm
dứt hành vi trái pháp luật, yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Có nhiều lý do và nguyên nhân dẫn đến việc xảy ra các tranh chấp dân sự mà các
bên đương sự không tự mình giải quyết được, cần phải có sự can thiệp của Tòa án. Khi
có sự không đồng thuận giữa các bên đương sự về cách thức giải quyết tranh chấp phát
sinh thì một hoặc các bên đương sự không muốn thực hiện đúng các quy phạm pháp luật
dân sự quy định về các loại vụ việc đó vì nếu như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích
của họ. Loại vi phạm này thường xảy ra trong các tranh chấp mà các đương sự có sự hiểu
biết nhất định về pháp luật.
Khi tham gia các quan hệ pháp luật dân sự không phải chủ thể nào cũng hiểu biết
hết về các quy định của pháp luật dân sự, vì vậy họ thường hành xử theo thói quen một
cách bộc phát tự nhiên để bảo vệ lợi ích của mình mà không biết đến việc làm của mình
sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự không tự mình giải quyết được thì theo
quy định của pháp luật, đương sự có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân có
thẩm quyền để đề nghị giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Sau khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự Tòa án sẽ xem xét nếu thấy đủ điều
kiện thì sẽ cho thụ lý vụ án và giải quyết theo trình tự của Luật Tố tụng dân sự quy định
như thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án, lựa chọn quy phạm pháp luật điều
chỉnh để ra bản án hoặc quyết định buộc các đương sự thi hành bằng các hình thức tự
nguyện hoặc có sự cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự.
Theo quy định của BLTTDS thì Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu trong
việc áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án dân sự nói chung và cơ quan thi hành án,
riêng cơ quan Viện kiểm sát thì theo quy định của BLTTDS năm 2004 có nhiều điểm
mới; đó là Viện Kiểm sát chỉ có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật
giúp cho việc giải quyết các vụ án dân sự của tòa án được thuận lợi, tạo điều kiện cho
đương sự cũng như đáp ứng được yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Điều 32 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và điều 33 của Bộ luật tố tụng
dân sự (BLTTDS) quy định Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo
thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
+ Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam
+ Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản
+ Tranh chấp về hợp đồng dân sự
+ Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 điều 29 BLTTDS (tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao công
nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau đều có mục đích lợi nhuận)
+ Tranh chấp về thừa kế tài sản
+ Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của
pháp luật về đất đai
+ Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp
luật
Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình
+ Những tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 điều 29
của BLTTDS
+ Những tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31
của BLTTDS.
Như vậy, tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm tất cả các
tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại…việc quy định về thẩm
quyền giải quyết cho tòa án nhân dân cấp huyện giúp cho việc phân cấp xét xử được rõ
ràng hơn và nhằm đảm bảo được các yêu cầu cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân và việc giải quyết vụ việc của tòa án được nhanh chóng, thuận tiện hơn.
1.1.3.2. Đặc điểm về nguyên tắc áp dụng luật, văn bản quy pháp pháp luật để
giải quyết vụ án dân sự của tòa án nhân dân cấp huyện
Hoạt động áp dụng pháp luật nói chung được tiến hành theo ý chí đơn phương
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp
dụng, thì trong việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án lại không hoàn toàn như
vậy, xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng và quyền tự định đoạt của các đương sự, Tòa
án với vai trò là chủ thể chính của hoạt động áp dụng pháp luật, là “trọng tài” trong
việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên đương sự, sau khi nhận đơn khởi kiện thụ
lý vụ án và thu thập đủ chứng cứ, hoàn thiện hồ sơ vụ án, Tòa án đã cơ bản nắm được
nội dung vụ án, những vấn để thuộc về nguyên nhân và điều kiện phát sinh tranh chấp
cũng như những vướng mắc trong tâm tư tình cảm của các đương sự, nếu không có
căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án thì trước khi đưa vụ án ra xét xử Tòa án
tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án,
nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như giữ được mối quan hệ
tốt cho các đương sự.
Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của tòa án cần phải tuân thủ
những nguyên tắc cơ bản sau đây;
- Nguyên tắc chung - riêng: thực chất là mối quan hệ giữa BLDS và các đạo luật
chuyên ngành khác như Luật đất đai, Luật thương mại, Luật xây dựng, Luật kinh doanh
bất động sản… chẳng hạn trong một tranh chấp dân sự liên quan đến nhà đất, ngoài việc
áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự để gải quyết thì Tòa án cần phải đối chiếu xem
xét các quy phạm pháp luật được quy định trong Luật đất đai để áp dụng giải quyết
nhưng tranh chấp liên quan đến đất đai mà pháp luật dân sự không quy định.
- Nguyên tắc trước - sau: đó là việc áp dụng pháp luật trong trường hợp các văn bản
cùng điều chỉnh về một quan hệ nhưng các văn bản đó được ban hành ở các thời điểm
khác nhau… ví dụ khi Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời để thi hành BLDS cho phù hợp
với điều kiện thực tiễn Quốc hội ban hành nghị quyết 45/2005/NQ-QH11 về việc thi hành
BLDS có quy định: giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung khác với quy
định của BLDS hoặc giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày BLDS có hiệu lực
mà có tranh chấp xảy ra thì áp dụng qui định của BLDS năm 1995 và các văn bản pháp
luật hướng dẫn áp dụng BLDS năm 1995 để giải quyết.
khi giải quyết tranh chấp đất đai thì luật nội dung cần phải áp dụng tại các chương
XXIX, XXX, XXXI, XXXII, XXXIII của Bộ luật dân sự quy định về các vấn đề liên
quan đến đất đai, ngoài ra còn phải đối chiếu với các quy định về đất đai trong Luật
đất đai để giải quyết nội dung của vụ án.
1.2. CÁC GIAI ĐOẠN, NỘI DUNG VÀ CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN
DÂN CẤP HUYỆN
1.2.1. Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự
của Tòa án nhân dân cấp huyện
ADPL trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện cũng là sự
biểu hiện cụ thể của ADPL nói chung, tuy nhiên do đặc trưng của của các quan hệ dân sự
luôn là phức tạp và đa dạng và những quy định về thủ tục tố tụng dân sự nên việc ADPL
trong giải quyết các vụ án dân sự có những giai đoạn sau:
Một là, phân tích các tình tiết khách quan của vụ án dân sự, làm rõ các đặc trưng
pháp lý của vụ án.
Đây là hoạt động đầu tiên trong các giai đoạn ADPL giải quyết các vụ án dân sự
của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án phải xác định loại vụ việc thuộc thẩm quyền của
Tòa án nào giải quyết, thuộc Tòa án cấp huyện hay cấp tỉnh, có thuộc thẩm quyền theo
lãnh thổ hay không, hoặc Tòa án phải thông báo cho các đương sự biết việc lựa chọn Tòa
án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của mình. Khi thụ lý vụ án Tòa án phải xem xét yêu
cầu khởi kiện, xác định nơi cư trú của đương sự hoặc xem xét nguyện vọng của các
đương sự lựa chọn Tòa án nào giải quyết và các giấy tờ có liên quan để xác định thẩm
quyền giải quyết của Tòa án.
Để làm rõ được các tình tiết khách quan và nội dung vụ án dân sự thì Tòa án phải
tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ, việc chứng minh các yêu cầu của mình là có căn cứ
và hợp pháp thuộc về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án, Tòa án yêu cầu
nguyên đơn và bị đơn cung cấp những giấy tờ, chứng cứ có liên quan đến vụ án dân sự
đang tranh chấp, các đương sự tự viết vào bản tự khai. Trong quá trình giải quyết vụ án
các đương sự tự thỏa thuận, định đoạt được các quyền và nghĩa vụ của mình thì Tòa án ra
Vì trong giai đoạn này các phán quyết cuối cùng mang tính pháp lý, phán quyết này
chính là việc vận dụng các quy định pháp luật về dân sự, về tố tụng dân sự để giải
quyết vụ án.
Quyết định ADPL phải phù hợp với QPPL đưa ra áp dụng chứ không thể xuất phát
từ ý chí chủ quan hoặc tình cảm cá nhân của người có thẩm quyền, nội dung quyết định,
bản án phải rõ ràng, chính xác và tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và
pháp luật dân sự.
1.2.2. Nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án
nhân dân cấp huyện
Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện
được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự về quy trình tố tụng và
áp dụng pháp luật nội dung để giải quyết tranh chấp của vụ án được quy định trong Bộ
luật dân sự.
* Áp dụng pháp luậtt trong thụ lý vụ án:
Khi xét thấy cần khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình, thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải làm đơn khởi kiện gửi đến
Tòa án. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án thông báo ngay cho người khởi kiện
biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp
tiền tạm ứng án phí.
Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi
kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được
giấy báo của Tòa án về việc nộp tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng
án phí.
Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng
án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng
án phí thì Tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm
theo, nếu có.
Trước đây tại pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Điều 37
vụ án dân sự, thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan thì Tòa án mới có thể phán quyết
chính xác và đúng pháp luật. Do đó đòi hỏi Thẩm phán phải thận trọng khi thu thập
chứng cứ.
Sau khi thu lý vụ án, trong thời hạn 03 ngày làm việc Chánh án Tòa án phân công
một Thẩm phán giải quyết vụ án, Thẩm phán sau khi nhận hồ sơ vụ án phải làm công
việc sau:
- Thông báo việc thụ lý vụ án.
- Yêu cầu đương sự nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
- Thực hiện một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của BLTTDS thì về nguyên tắc chung, cung cấp
chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp vừa là quyền,
vừa là nghĩa vụ của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp của người khác. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 79 BLTTDS, khi
có yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của người khác đối với mình hoặc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác, thì đương sự, cá nhân, tổ chức khởi kiện yêu cầu có nghĩa
vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nếu thấy chứng cứ mà đương sự giao nộp
chưa đủ cơ sở để giải quyết, thì Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ theo
quy định tại khoản 1 Điều 85 BLTTDS. Trong trường hợp đương sự không thể tự mình
thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số
biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:
- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
- Trưng cầu giám định;
- Quyết định định giá tài sản;
- Xem xét, thẩm định tại chỗ;
- Ủy thác thu thập chứng cứ;
- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được,
nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự.
Việc lấy lời khai của đương sự phải tuân theo quy định tại Điều 86 BTTDS, Thẩm