Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân luận văn ths luật 60 38 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ DUY KHOA

¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP
QUYÒN Sö DôNG §ÊT T¹I TßA ¸N NH¢N D¢N
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. PHẠM HỒNG THÁI

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Duy Khoa


Tiểu kết chương 1............................................................................................ 31


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN ....................................................................... 32
2.1.

Thực trạng giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án
nhân dân ............................................................................................. 32

2.1.1. Tình hình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án
nhân dân ............................................................................................. 32
2.1.2. Những vấn đế phát sinh trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất tại tòa án nhân dân ............................................................... 35
2.2.

Chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân .............................................. 39

2.2.1.

Những ưu điểm của việc đảm bảo chất lượng áp dụng pháp luật
trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ..... 46

2.2.2. Hạn chế trong việc đảm bảo chất lượng áp dụng pháp luật khi
giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ........... 48
2.2.3. Nguyên nhân hạn chế chất lượng áp dụng pháp luật trong giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ................................................... 52
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 68

KẾT LUẬN .................................................................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 100


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân là chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới. Trong Nhà nước pháp quyền, các cơ quan tư pháp có vai trò
đặc biệt quan trọng, hoạt động của các cơ quan tư pháp thể hiện đầy đủ và
toàn diện các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền. Vì vậy, kiện toàn và nâng
cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm.
Trong công cuộc cải cách tư pháp, Tòa án được xác định là trung
tâm. Hoạt động của Tòa án là nơi thể hiện rõ nhất chất lượng hoạt động và
uy tín của hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng và toàn bộ quyền lực nhà
nước nói chung. Vì vậy, để cải cách, nâng cao chất lượng hoạt động của
Toà án trong đó trọng tâm là hoạt động xét xử là khâu đột phá của quá trình
cải cách tư pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa.
Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì trong những năm gần
đây các vụ, việc dân sự ngày một gia tăng. Số lượng đơn đề nghị Tòa án xem
xét vụ án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm ngày một tăng và tính chất
ngày càng phức tạp. Trong đó phần lớn là các vụ, việc liên quan đến tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở chiếm tỷ lệ lớn và là
loại tranh chấp phức tạp nhất trong số các tranh chấp về dân sự. Do số lượng
các vụ án tăng, tính chất ngày càng phức tạp, mặt khác do nhiều nguyên nhân
khác nhau mà hoạt động xét xử của Tòa án đã bộc lộ những hạn chế nhất định
như để quá thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án theo quy định của pháp luật, tỷ lệ
các bản án, quyết định bị sửa, hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và

lý. Đặc biệt trong tình hình hiện nay thì số lượng các bài viết, công trình nghiên
cứu về cải cách tư pháp và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
2


tăng lên rõ rệt. Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử đã được một số nhà khoa học, các bộ, thực tiễn ngành
Tòa án thực hiện như:
- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Thân: "Áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay", năm 2004.
- Tác giả Lưu Tiến Dũng với bài "Bàn về áp dụng pháp luật trong công
tác xét xử", Tạp chí Tòa án nhân dân số tháng 5 năm 2005.
- Tiến sĩ Nguyễn Văn Cường với bài "Những vấn đề cần trao đổi khi áp
dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003", Tạp chí Tòa án tháng 8 năm 2005.
- Ban biên tập Tạp chí Tòa án nhân dân với bài "Những vấn đề trao đổi
khi áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003", Tạp chí Tòa án nhân dân tháng
9 năm 2005.
Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích một
cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước
và Pháp luật vấn đề áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân - loại tranh chấp gay go nhất, phức tạp
nhất trong tất cả các tranh chấp về dân sự hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận áp dụng pháp luật vào việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
tại Tòa án nhân dân, nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên nhân và những bất cập trong việc
áp dụng pháp luật.
* Về phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi một luận văn Thạc sĩ luật học
chuyên ngành lý luận Nhà nước và pháp luật, luận văn đánh giá thực tiễn áp

6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích khái niệm, đặc điểm, quy trình áp dụng pháp luật,
xác định tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng áp dụng
4


pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và trong việc giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân nói riêng.
Đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân.
Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất
lượng áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh
chấp quyền sử dụng đất.
7. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận
phục vụ yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng nâng cao chất lượng áp dụng
pháp luật trong hoạt động xét xử nói chung và trong việc giải quyết các tranh
chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân nói riêng trong công cuộc cải
cách tư pháp hiện nay. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng
kỹ năng nghề nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đặc
biệt là đối với các Thẩm phán chuyên giải quyết án dân sự, giải quyết các vụ
án tranh chấp quyền sử dụng đất và các vụ án có liên quan đến tranh chấp
quyền sử dụng đất. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tư liệu tham
khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy khoa học pháp lý nói chung
và đào tạo chức danh Tư pháp nói riêng
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn chia thành 3 chương gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh

chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể
có thẩm quyền. Vì vậy, hình thức này cần phải được nghiên cứu một cách
toàn diện hơn và sâu sắc hơn các hình thức khác. Theo Từ điển Black/s Law,

6


từ áp dụng (apply) có thể được hiểu theo nghĩa đưa vào sử dụng với một vụ
việc của một chủ thể riêng biệt (áp dụng pháp luật trong thực tế) [21, tr. 96].
Trong tiếng Việt, từ áp dụng có thể được hiểu là “Đem dùng trong thực tế
điều đã nhận thức được” [20, tr. 9]. Từ các cách hiểu về từ áp dụng trong hai
từ điển trên, có thể hiểu một cách nôm na rằng áp dụng pháp luật là đem pháp
luật ra dùng trong thực tế. Nếu hiểu theo cách này thì áp dụng pháp luật có thể
dùng để chỉ tất cả các hình thức thực hiện pháp luật mà không phải là một
hình thức thực hiện pháp luật cụ thể.
Trong thực tế đã có nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ áp dụng pháp
luật theo nghĩa này. Trong các sách báo pháp lý của Việt Nam, khái niệm áp
dụng pháp luật được đề cập đến trong nhiều tác phẩm với nội dung khác nhau,
tuy nhiên có thể phân ra 2 quan điểm khác nhau như sau:
Quan niệm 1: Được nêu trong giáo trình Lý luận về nhà nước và
pháp luật của cả Trường Đại học Luật Hà Nội và của Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội. Cả hai giáo trình này cùng nêu lên định nghĩa về áp dụng
pháp luật, đó là:
Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện
quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã
hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những
quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá
nhân, tổ chức cụ thể [18, tr. 468, tr. 503].
Các tác giả của hai giáo trình trên đều cho rằng thực hiện pháp luật có

luật như sau: Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt,
là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá
biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối
với các cá nhân, tổ chức cụ thể

8


1.1.1.2. Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất của Tòa án nhân dân
Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và áp
dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án
nhân dân hiện nay là việc thực hiện pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án để ban hành
các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước, phán xét, phân xử đúng, sai, xác
định tính có căn cứ hay không có căn cứ, có hợp pháp hay không hợp pháp
đối với các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật. Tòa án
nhân dân là cơ quan duy nhất được giao quyền xét xử các vụ án hình sự, dân
sự, kinh tế, lao động và hành chính nên hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
chính là hoạt động áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực giải quyết vụ án hình
sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính. Khi giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử có quyền và nghĩa vụ nghiên cứu hồ sơ
vụ án và tiến hành xét xử, đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ đối với việc
yêu cầu của đương sự có căn cứ pháp lý hay không? Ai là người có quyền sử
dụng đất đó? Có quyền lựa chọn các văn bản, quy phạm pháp luật phù hợp,
chính xác và ban hành các bản án, quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của các chủ thể pháp luật hoặc buộc các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ
của mình theo quy định của pháp luật.
Tranh chấp quyền sử dụng đất trước hết được hiểu là những xung đột,

mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
Áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất
của Tòa án nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cá
nhân và tổ chức, góp phần to lớn vào việc xây dựng một Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
Tòa án nhân dân áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất trong một số trường hợp sau:

10


Thứ nhất, khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. Xem xét nội dung các quy định cụ thể của
pháp luật, ta thấy, mặc dù trong nhiều quy phạm pháp luật đã quy định rõ
quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể, song các chủ thể không thể tự
mình thực hiện được các quyền và nghĩa vụ đó mà cần phải có sự can thiệp
của Tòa án nhân dân. Có thể thấy, nếu không có sự can thiệp của Tòa án nhân
dân theo quy định của pháp luật thì nhiều quan hệ pháp luật cụ thể không thể
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. Chính hoạt động áp dụng pháp luật của
Tòa án nhân dân sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật.
Ví dụ, khi Tòa án công nhân cha cho con.
Thứ hai, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các
chủ thể mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp
của Tòa án nhân dân. Nếu như trong trường hợp trên, phải nhờ hoạt động áp
dụng pháp luật mới làm phát sinh một quan hệ pháp luật cụ thể thì trường hợp
này khác ở chỗ một quan hệ pháp luật cụ thể đã phát sinh, các bên chủ thể đã
có quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với nhau, nhưng một trong các bên hoặc tất
cả các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các
nghĩa vụ pháp lý của mình nên dẫn đến tranh chấp mà họ không tự giải quyết

chịu sự cưỡng chế của nhà nước, họ đã phải chịu những sự thiệt hại nhất định
mặc dù họ không vi phạm pháp luật mà hoàn toàn chỉ vì lợi ích chung của xã
hội, của cộng đồng. Ví dụ, để phục vụ cho việc xây dựng các công trình công
cộng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phải ra quyết định thu hồi đất của
các chủ đang có quyền sử dụng hợp pháp trên diện tích đất đó, và đương
nhiên, các chủ thể đang sử dụng phải giao lại đất đó cho nhà nước và nhận sự
đền bù của nhà nước.
Thứ năm, khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy
định của pháp luật. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể đều

12


có quyền và nghĩa vụ nhất định do pháp luật quy định. Có những quyền và
nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện nó chỉ liên quan đến lợi ích của cá nhân
người thực hiện, song có những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện
nó lại liên quan đến lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích chung của xã hội, của
cộng đồng. Vì vậy, cần phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ đó để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của nó. Hoạt động kiểm tra, giám
sát đó chỉ do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt
chẽ do pháp luật quy định. Ví dụ: hoạt động giám sát của Quốc hội đối với
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… là nhằm áp dụng Luật giám sát của Quốc
hội; hoạt động của cơ quan kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án…
Thứ sáu, khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể
nào đó theo quy định của pháp luật. Trong thực tế có những thứ giấy tờ, bằng
cấp, chứng chỉ có giá trị pháp lý lâu dài mà chủ thể của nó cần phải cất giữ
cẩn thận. Song, các giấy tờ đó lại cần phải được sao chụp để chứng minh cho
sự hiện diện và tồn tại của nó trong thực tế. Hoạt động chứng thực của uỷ ban

- Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo: Ngoài các
đặc điểm cơ bản trên, áp dụng pháp luật còn là hoạt động đòi hỏi có tính sáng
tạo, bởi vì các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái
quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế lại rất đa dạng, phong phú nên
muốn đưa ra được một quyết định đúng đắn, chính xác, vừa thấu tình, vừa đạt
lý để giải quyết vụ việc cần giải quyết thì đòi hỏi phải có tính sáng tạo của
người áp dụng.
Áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền luôn bị bắt buộc phải tiến
hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định và
bao giờ cũng phải đưa ra một quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ
việc mà mình thụ lý.

14


1.1.2.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân
Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
tại Tòa án nhân dân là sự biểu hiện cụ thể của việc áp dụng pháp luật dân sự
và pháp Luật đất đai vào việc giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa
cá nhân với cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa cá nhân với
cơ quan nhà nước v.v… Nó khác với giải quyết tranh chấp đất đai bằng con
đường hành chính. Vì vậy, nó mang đầy đủ các đặc điểm của áp dụng pháp
luật nói chung. Tuy nhiên, với tính chất phong phú đa dạng của các quan hệ
pháp luật dân sự về đất đai cùng với những quy định về trình tự, thủ tục giải
quyết các vụ việc tranh chấp về quyền sử dụng đất do pháp luật tố tụng dân sự
quy định thì áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đất tại Tòa án nhân dân có những đặc điểm riêng biệt, đó là:
- Ở giai đoạn đầu tiên của quy trình áp dụng pháp luật là tiến hành thu
thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự và tiến hành một số hoạt động tố

"trọng tài" trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự. Trước khi
đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa, Tòa án phải tiến hành hòa giải, chỉ khi nào
các bên đương sự không tự giải quyết được tranh chấp với nhau thì Tòa mới
đưa ra phán quyết trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền và các lợi ích chính
đáng của các đương sự buộc bên vi phạm phải thực hiện. Khi các đương sự
không tự giác thi hành phán quyết của Tòa án nhân dân thì mới thực hiện sự
cưỡng chế của cơ quan thi hành án.
- Khi áp dụng pháp luật đối việc giải quyết các tranh chấp quyền sử
dụng đất, pháp luật có quy định nguyên tắc áp dụng tập quán, áp dụng tương
tự pháp luật. Đây là đặc điểm riêng biệt, khác hẳn với áp dụng pháp luật trong
việc giải quyết các loại vụ án khác như áp dụng pháp luật trong xét xử hình
sự, hành chính. Nguyên tắc này xuất phát từ tính đa dạng, phong phú, phức
tạp của các quan hệ dân sự, đặc biệt là trong tranh chấp quyền sử dụng đất.

16


Pháp luật không thể dự liệu hết được mọi tình huống, trường hợp phát sinh
trong thực tế, khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, nhưng Tòa án
không thể từ chối đơn yêu cầu giải quyết vì lý do pháp luật chưa có quy định
cụ thể. Tuy nhiên, cũng có trường hợp từ chối thụ lý, giải quyết vì cho rằng
không có luật quy định hoặc do không hiểu tập quán.
- Hiện nay, áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự nói
chung, trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng của Tòa
án nhân dân chỉ bao gồm ba giai đoạn: giai đoạn xác minh, thu thập chứng cứ,
giai đoạn lựa chọn quy phạm pháp luật và giai đoạn ban hành văn bản áp
dụng pháp luật bằng bản án hay quyết định của Tòa án. Việc thi hành án dân
sự là một giai đoạn bổ sung.
1.1.3. Quy trình áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân

trong quá trình áp dụng pháp luật và là chủ thể có quyền đưa ra quyết định áp
dụng pháp luật để giải quyết vụ việc.
* Các giai đoạn của quy trình áp dụng pháp luật
- Áp dụng pháp luật là một quy trình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố có
sự tương tác lẫn nhau như con người, tổ chức, kỹ thuật, pháp lý. Dựa vào nội
dung công việc cụ thể được thực hiện, khoa học và thực tiễn pháp lý chia quá
trình áp dụng pháp luật thành bốn giai đoạn:
- Phân tích, đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực tế
cần áp dụng pháp luật. Việc áp dụng pháp luật phải hướng tới một sự thuận
lợi, tiết kiệm về chi phí thời gian, sức lực, vật chất và đạt hiệu quả cao nhất
cho các bên có liên quan. Do đó, giai đoạn đầu trong áp dụng pháp luật bao
giờ cũng đòi hỏi cần phải chuẩn bị một phương án chi tiết, tỷ mỷ cả về nội
dung, hình thức cũng như phương thức, lịch trình tiến hành. Về nguyên tắc,
chỉ có khẳng định được là hoàn toàn có cơ sở và đủ điều kiện để tiếp tục áp
dụng pháp luật trên thực tế mới cho phép chuyển sang giai đoạn sau. Nếu

18


thấy chưa đủ điều kiện hoặc không cần thiết phải tiếp tục áp dụng pháp luật
thì các chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc chấm dứt
việc áp dụng pháp luật.
- Lựa chọn quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra
các quyết định áp dụng pháp luật. Đây là giai đoạn quan trọng trong quy
trình áp dụng pháp luật vì nếu không đưa ra cơ sở pháp lý có sức thuyết
phục, phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sau và đến kết quả
của quá trình áp dụng.
- Đưa ra quyết định áp dụng pháp luật. Đây là giai đoạn quan trọng bởi
nó phản ánh kết quả thực tế của quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể
có thẩm quyền. Về bản chất, đây là giai đoạn chuyển hóa những quy định

rất dễ dẫn đến những sai lầm khi ban hành văn bản áp dụng pháp luật. Theo
quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thì việc nghiên cứu hồ sơ của người
Thẩm phán là công việc không thể thiếu được trước khi tiến hành giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân. Trong khi nghiên cứu hồ
sơ, người Thẩm phán cần có phương pháp nghiên cứu phù hợp mới có thể
nắm vững nội dung cơ bản cần giải quyết. Không nắm được trọng tâm, yêu
cầu cơ bản cần giải quyết của vụ việc, người Thẩm phán sẽ không thể có
phương hướng đúng đắn để xem xét, đánh giá các chứng cứ; các tài liệu,
thông tin được thu thập qua nghiên cứu hồ sơ không kết nối thành một thể
thống nhất. Để có sự đánh giá mang tính khách quan và toàn diện, cần có
phương pháp nghiên cứu đúng đắn. Người Thẩm phán sẽ rất dễ dàng phát
hiện các thông tin, các tình tiết chủ yếu của vụ việc thông qua hồ sơ vụ án.
Từ đó, việc phân loại đánh giá chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp, chứng
cứ có ý nghĩa quyết định, chứng cứ có ý nghĩa bổ trợ, liên quan…cũng sẽ dễ
dàng và thuận lợi.
Thông thường, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp quyền sử dụng
đất cần được tiến hành từ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ của

20


Trích đoạn Nhóm giải pháp đối với ngành Tòa án nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status