TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT KINH TẾ
Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án ở
Việt Nam
GVHD : ThS.Lữ Lâm Uyên
SVTH : Nguyễn Thế Hùng
Lớp : KHDT3
1
Chương 1: Những lý luận cơ bản về giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại toà án
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Tranh chấp kinh doanh, thương mại là gì?
Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những bất đồng, xung đột chủ yếu về lợi ích
kinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại hoặc các hoạt động
kinh tế khác được pháp luật quuy định là tranh chấp kinh tế, thuộc thẩm quyền giải quyết
của cơ quan tài phán kinh tế.
1.1.2. Phân loại trong kinh trong tranh chấp doanh, thương mại
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ
chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức
với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, sáp nhập, giải thể, chuyển đổi hình thức tổ
chức…
Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
1.1.3. Đặc trưng của tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp về kinh doanh, thương mại nảy sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh
doanh và luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh. Đó là hệ quả phát sinh từ quan hệ giữa các
chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa các bên liên quan với chủ thể kinh doanh trong quá
trình tiến hành các mục đích nhằm mục đích sinh lợi.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là các vấn đề do các bên tranh
1.2.2. Sơ lược về toà kinh tế
Toà kinh tế là một toà chuyên trách của toà án nhân dân, được thành lập theo Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức toà án nhân dân ngày 28/12/1993. Toà kinh
tế chỉ được tổ chức ở 2 cấp:
Ở trung ương: Toà kinh tế được thành lập trong toà án nhân dân tối cao.
Ở địa phương: Toà kinh tế chỉ được tổ chức ở cấp tỉnh.
3
1.2.3. Chức năng của toà án
Toà kinh tế nói riêng và toà án nhân dân nói chung đều là cơ quan xét xử của nhà
nước, nằm trong hệ thống cấu trúc cơ quan nhà nước, hoạt động bằng nguồn kinh phí được
cấp từ ngân sách nhà nước. Toà án nhân danh nhà nước để giải quyết các vụ án và các việc
khác do pháp luật quy định, có vai trò bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của chủ thể kinh doanh và bảo vệ pháp chế XHCN.
1.2.4. Thẩm quyền của toà án
Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm các vụ án theo quy định của
pháp luật tố tụng.
Toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:
- Sơ thẩm các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng;
- Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
phpá luật của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
Uỷ ban thẩm phán toà ánn cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những
vụ án kinh tế mà bản án đã có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới bị kháng nghị
Toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền phúc thẩm những vụ án kinh
tế mà bản án sơ thẩm của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định
của pháp luật tố tụng.
Toà kinh tế toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những
vụ án mà bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp
luật tố tụng.
Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm, có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án đã
Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết giải quyết tất cả các tranh chấp
kinh doanh còn lại trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân
cấp huyện. Ngoài ra, toà án cấp tỉnh còn có thể lấy các vụ án thuộc thẩm quyền của toà án
cấp huyện lên để giải quyết trong trường hợp cần thiết.
1.4.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ
Vấn đề xác định thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ chỉ được đặt ra khi các bên
tranh chấp có trụ sở hoặc nơi đăng kí ở khác địa phương. Về nguyên tắc các bên không được
5
lựa chọn toà án giải quyết mà pháp luật tố tụng sẽ quy định loại thẩm quyền này. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp nhất định, pháp luật cho phép các bên được thoả thuận với nhau
hoặc nếu không có sự thoả thuận trước đó thì bên nguyên đơn có quyền đơn phương lựa
chọn toà án. Điều này nhằm bảo đảm tính khả thi của quyền khởi kiện và giúp quá trình giải
quyết tranh chấp được thuận lợi, tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc cho các bên tham
gia. Việc xác định thẩm quyền phải dựa trên các nguyên tắc sau:
Xác định thẩm quyền của toà án theo luật định
Khi phát sinh tranh chấp, nguyên đơn phải khởi kiện tại toà án có thẩm quyền là:
- Toà án là nơi cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc là nơi bị đơn có trụ sở,
nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh
chấp về kinh doanh, thương mại.
- Toà án là nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất
động sản.
Xác định thẩm quyền của toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Nguyên đơn chỉ có quyền lựa chọn toà án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu
toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết.
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể
yêu cầu toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết.
- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể
yêu cầu toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.
giải quyết, các đương sự vẫn có thể tiến hành hoà giải với sự hướng dẫn và công nhận của
toà án.
Khi hoà giải, toà án phải tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không
được dung vũ lực hoặc đe doạ bằng vũ lực, bắt buộc các đượng sự phải thoả thuận không
phù hợp với ý chí của mình.
Toà án không được hoà giải những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc
trái đạo đức xã hội.
7
Nếu ở hoàn cảnh không thể tiến hành được hoà giải toà án có quyền xét xử mà không
cần thực hiện hoà giải giữa các bên khi:
- Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 2 lần mà vẫn cố tình vắng mặt.
- Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì các lý do chính đáng.
1.5.3. Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chứng minh
Khi giải quyết vụ án kinh tế toà án chủ yếu căn cứ vào các chứng cứ mà đương sự
đưa ra. Bên nào yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thì bên đó có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là căn cứ có hợp pháp. Đương sự
phản đối yêu cầu của người khác dối với mình thì phải chứng minh sự phản đối đó là có căn
cứ và đưa ra để chứng minh.
Các bên có quyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết. Toà án
không bắt buộc phải thu thập them chứng cứ mà chỉ tiến hành xác minh, thu thập thêm
chứng cứ khi thấy cần thiết để đảm bảo giải quyết vụ án được chính xác.
1.5.4. Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự
Khi tham gia tố tụng kinh tế, các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc
thực hiện các hành vi tố tụng. Trước toà án không có sự phân biệt đối xử giữa các bên tranh
chấp theo hình thức tổ chức, hình thức sở hữu hay thành phần kinh tế. Các chủ thể có quyền
ngang nhau trong việc đưa ra yêu cầu và phản đối yêu cầu của bên kia đều có nghĩa vụ thu
thập, cung cấp chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.
1.5.5. Nguyên tắc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự
Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong quá trình gải
nguyên đơn, giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau.
b, Hoà giải và chuẩn bị xét xử
Là khoảng thời gian chuẩn bị xét xử được tính từ ngày toà thụ lý vụ án đến ngày toà
ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đây là khoảng thời gian cần thiết để toà án tiến hành lập
hồ sơ, xác minh thu thập chứng cứ, hoà giải giữa các bên tranh chấp và xem xét để đưa vụ
án ra xét xử. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tuỳ từng trường hợp toá án có quyết định sau:
- Công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
- Tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
- Đình chỉ gải quyết vụ án.
9
- Đưa vụ án ra xét xử.
c, Phiên toà sơ thẩm
Thành phần tham dự phiên toà sơ thẩm:
Hội đồng xét xử gồm có 1 thẩm phán, 2 hội thẩm nhân dân; trường hợp đặc biệt thì có
2 thẩm phán, 3 hội thẩm nhân dân.
Sự có mặc của đương sự tại phiên toà:
Đương sự phải có mặt tại phiên toà khi toà án xét xử vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế vì
một số nguyên nhân khách quan nên họ không thể có mặt tại phiên toà. Trường hợp vắng
mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì toà án phải hoãn phiên toà để đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp cho họ. Khi ấy đương sự phải có đơn đề nghị toà xét xử vắng mặt, hoặc đã có
người đại diện hợp pháp tại phiên toà. Tuy nhiên, có trường hợp đương sự cố tình tránh mặt
để trốn tránh nghĩa vụ, nên sự vắng mặt lần 2 phải được xem xét cụ thể.
- Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt thì bị coi là
từ bỏ vụ kiện, toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, nguyên
đơn có quyền khởi kiện lại nếu còn thời hiệu khởi kiện.
- Nếu bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt thì toà án vẫn
tiến hành xét xử vắng mặt họ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà
vẫn vắng mặt thì toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Sự có mặt của kiểm sát viên:
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì chánh án toà án
cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không được quá 1
tháng.
c, Phiên toà phúc thẩm
Thành phần tham dự phiên toà phúc thẩm:
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có 3 thẩm phán.
- Người kháng cáo, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm trong
trường hợp viện kiểm sát kháng nghị hoặc đã tham gia phiên toà sơ thẩm.
11
Trình tự của phiên toà phúc thẩm:
- Chuẩn bị khai mạc phiên toà phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên toà.
- Hỏi tại phiên toà.
- Tranh luận tại phiên toà.
- Nghị án và tuyên án.
Thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm:
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Sửa bản án sơ thẩm;
- Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho toà án cấp sơ thẩm giải quyết;
- Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
1.6.3. Thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực
a, Thủ tục giám đốc thẩm
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
- Căn cứ kháng nghị:
+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan
của vụ án.
+ Có vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng.
+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
- Người có thẩm quyền kháng nghị:
+ Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
- Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án.
Thẩm quyền của hội thẩm nhân dân:
- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án.
- Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của toà án cấp dưới đã bị sửa hoặc
huỷ bỏ.
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử
phúc thẩm lại.
- Huỷ bản án, quyết định của toà án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.
13
b, Thủ tục tái thẩm
Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
- Căn cứ kháng nghị:
+ Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự không thể biết được
trong quá trình giải quyết vụ án.
+ Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định lời dịch của người phiên dịch
không đúng sự thật.
+ Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố
ý kết luận trái pháp luật.
+ Bản án, quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà toà án căn
cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ bỏ.
- Thẩm quyền kháng nghị:
+ Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền kháng nghị theo thủ tục giám đóc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của toà án các cấp trừ quyết định giám đốc thẩm của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối
cao.
+ Chánh án toà án nhân dân cấp tỉnh, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có
quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực của án nhân
dân cấp huyện.
- Thời hạn kháng nghị: là 1 năm kể từ ngày người có thầm quyền kháng nghị biết
hộ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Theo sự bảo hộ đó thì bên B có nghĩa vụ giao chiếc xe để
bên A đấu giá thu hồi nợ.
2.1.2. Trong phiên toà, đại diện bên B đề nghị toà tuyên bố hợp đồng cầm cố không
có hiệu lực pháp luật do người kí hợp đồng này phía bên B là ông Phan chỉ là thành viên
của công ty thôi. Ông Phan không có giấy uỷ quyền của giám đốc. Theo anh (chị) hợp đồng
cầm cố trên có hiệu lực không?
15
Ông Phan không phải là đại diện của bên B, và cũng không được uỷ quyền kí kết hợp
đồng cầm cố. Do vậy, ông Phan không có thẩm quyền đại diện bên B kí kết hợp đồng. Vậy
hợp đồng cầm cố do ông Phan kí với bên A là vô hiệu (không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của bên B). Nhưng ông Phan có nghĩa vụ bồi thường cho bên A khi hợp đồng vô hiệu.
(theo điều 592, bộ luật dân sự 2005).
2.1.3. Giả sử bên A xuất trình cho toà án biên bản cuộc họp hội đồng thành viên của
công ty B, theo đó giám đốc công ty có biết việc ông Phan kí hợp đồng cầm cố đó, vậy hợp
đồng có hiệu lực pháp luật không, dựa vào căn cứ pháp lí nào?
Nếu giám đốc bên B đã biết ông Phan kí kết hợp đồng cầm cố mà giám đốc bên B
không phản đối thì giám đốc bên B đã chấp nhận các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong hợp
đồng đó. Ở đây, bên A xuất trình chứng cứ trên để chứng tỏ bên B có lỗi khi giao kết hợp
đống cầm cố. Tuy nhiên cần phải xác định bên A có chứng cứ đó trước hay sau hợp đồng
cầm cố.
+ Nếu sau khi kí bên A mới biết chứng cứ trên thì bên B có trách nhiệm thực hiện các
điều khoản trong hợp đồng đối với bên A (theo điều 145, khoản 1, bộ luật dân sự 2005).
+ Nếu trước khi kí kết bên A đã biết chứng cứ trên thì bên A không có quyền đòi bồi
thường (theo điều 145, khoản 2, bộ luật dân sự 2005).
Hợp đồng có hiệu lực pháp lí vì vấn đề đã được hội đồng thành viên của công ty bên
B biết và đã được lập thành biên bản.
2.1.4. Toà án xừ lí theo hướng có lợi cho bên A, nhưng bên B không tự nguyện thi
hành. Hãy nêu các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật?
Nếu bên B không tự nguyện thi hành bản án thì bên A có quyền yêu cầu cơ quan thi
hành án cưỡng chế tài sản của bên B, cụ thể là trích tài khoản của bên B ở ngân hàng, cưỡng
+ Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có
thể yêu cầu tòa án nơi có một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.
2.3. Tranh chấp hợp đồng dịch vụ: bác sĩ Pháp kiện bệnh viện Việt - Pháp
2.3.1. Nguyên nhân vụ kiện
Đầu năm 2003, dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS) đã bùng phát tại Việt Nam mà
khởi đầu từ Bệnh viện Việt - Pháp Hà Nội. Các bác sĩ người Pháp của bệnh viện đều được
triệu tập về nước. Riêng bác sĩ Leon đã ở lại bệnh viện để chăm sóc một số bác sĩ đồng
nghiệp và các bệnh nhân bị nhiễm SARS đang điều trị tại bệnh viện. Sau đó, chính bản thân
17
bác sĩ Leon cũng bị nhiễm SARS nhưng may mắn là một trong 2 bác sĩ người Pháp trong số
5 bác sĩ người Pháp bị nhiễm SARS đã được điều trị khỏi bệnh.
Ngày 4/3/2003, khi đang ở giai đoạn cuối của đợt cách ly kiểm dịch trong quá trình
điều trị bệnh SARS thì giữa bác sĩ Leon và một bảo vệ của bệnh viện là ông Nguyễn Mai
Lâm đã xảy ra một cuộc cãi vã vì ông Lâm kiên quyết ngăn cản một người bạn Việt Nam
của bác sĩ Philippe Leon đến bệnh viện.
Sau khi xảy ra sự việc, tháng 8/2003, bác sĩ Leon bị chấm dứt hợp đồng vì cho rằng
cuộc cãi vã giữa bác sĩ Philippe Leon và ông Nguyễn Mai Lâm là… một lỗi nghề nghiệp!
Trong khi đó, bác sĩ Leon cho rằng, tại thời điểm xảy ra cuộc cãi vã, ông đang là một bệnh
nhân và đang được điều trị bệnh, chứ không phải là một bác sĩ X-quang đang hành nghề.
Ngày 26/12, nguyên đơn là bác sĩ Philippe Leon (quốc tịch Pháp) đã khởi kiện Bệnh
viện Việt - Pháp Hà Nội vì đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa 2
bên vào ngày 27/2/2002 với mức bồi thường lên tới 39.000 USD.
2.3.2. Nội dung giải quyết vụ kiện tại toà
Sau khi xét xử vụ kiện dân sự tranh chấp hợp đồng dịch vụ của bác sĩ người Pháp
Phillipe Leon kiện bệnh viện Việt - Pháp (BVVP) vì đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự,
chiều qua, TADN TP Hà Nội đã bác đơn kiện của bác sĩ Leon.
Trong các phần xét hỏi, tranh luận, nguyên đơn là bác sĩ Leon cũng như luật sư bào
chữa cho quyền lợi của bác sĩ này đã trình bày: Xuất phát từ việc công ty mẹ của BVVP là
Eukaria có ký 2 hợp đồng hành nghề độc quyền năm 1997 và hợp đồng thoả thuận góp vốn
năm 1998 với bác sĩ Leon bởi lẽ ông Leon đã đóng 25.000 USD để xây dựng BVVP tại Việt
2.4.1. Nguồn gốc vụ kiện
Tháng 7/2001, Công ty cổ phần Thương mại Biên Mậu Trung Việt ký hợp đồng với
LimKimWah (Malaysia) mua 7.000 con rùa sống trong tình trạng sức khoẻ tốt. Ngày
7/8/2001, LimKimWah gửi số rùa này cho Công ty Biên Mậu Trung Việt thông qua hãng
OceanicStarLine, phát hành vận đơn vận chuyển số PK/HPG/0807.
Thực tế, hãng OceanicStarLine không trực tiếp vận chuyển số rùa trên mà thuê lại
Công ty liên doanh Gemartrans Việt Nam vận chuyển về cảng Hải Phòng với điều kiện nhiệt
độ 18 độ C, thông gió mở 100%, cước phí vận tải trả trước.
19
Khi hàng về đến cảng Sài Gòn, Công ty Gemartrans lại thuê tàu Hồng Bàng, thuộc
Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam vận chuyển tiếp tới cảng Hải Phòng. Tuy nhiên, trong quá
trình vận chuyển, do container chứa 7.000kg rùa sống không được tàu Hồng Bàng cắm điện
để bảo quản đúng nhiệt độ và thông gió nên toàn bộ số rùa đã chết.
2.4.2. Nội dung giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại toà
Vì lý do như trên, Công ty Biên Mậu Trung Việt đã làm khởi kiện, yêu cầu Công ty
Gemartrans phải bồi thường thiệt hại lô hàng trên với số tiền hơn 1,86 tỷ đồng.
Bản án dân sự sơ thẩm số 1926/DSST ngày 23/10/2002 TAND TP Hồ Chí Minh đã
quyết định: Công ty Liên doanh Gemartrans có trách nhiệm bồi thường cho Công ty Biên
Mậu Trung Việt số tiền 1,86 tỷ đồng. Sau khi có bản án, bị đơn kháng cáo.
Đến ngày 9/4/2003, Toà phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí Minh đã bác kháng cáo
của bị đơn, tuyên y án sơ thẩm. Tuy nhiên, ngay sau đó, Viện trưởng VKSNDTC đã có
quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên nên ngày 29/12/2004, Hội đồng thẩm phán
TANDTC đã xử giám đốc thẩm, quyết định hủy bản án trên và giao hồ sơ vụ án cho TAND
TP Hồ Chí Minh giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm lần hai (xử ngày 23/8/2006), Công ty Biên Mậu Trung Việt vẫn
giữ yêu cầu khởi kiện đối với Công ty Gemartrans và yêu cầu bị đơn phải bồi thường tổng
cộng số tiền là 2,4 tỷ đồng.
Toà đã chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, tuyên buộc Công ty Gemartrans
Việt Nam phải bồi thường cho Công ty Biên Mậu Trung Việt số tiền hơn 1,6 tỷ đồng.
2.4.3. Kết quả vụ kiện