Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống tòa án ở việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 51

Ket-noi.com kho ti liu min phớ

1

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc trong thời kỳ
đổi mới ở nớc ta đã và đang có nhiều triển vọng tốt đẹp
trong mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó, những hạn chế, bất cập
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc cũng dần bộc
lộ. Đây là những rào cản lớn trên bớc đờng phát triển của đất
nớc. Bởi vậy, Đảng và Nhà nớc ta đã và đang tiến hành mạnh
mẽ công cuộc cải cách nhằm loại bỏ những khâu bất hợp lý
trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nớc, trong đó
có các cơ quan t pháp mà hệ thống Tòa án là một bộ phận
quan trọng.
Thực tiễn xét xử của ngành Tòa án trong thời gian vừa
qua cho thấy không ít những vụ việc dân sự đã bị giải
quyết kéo dài, gây tâm lý phản cảm, giảm sút niềm tin
trong một bộ phận nhân dân. Một trong những nguyên
nhân quan trọng của tình trạng trên là ở sự bất cập trong
cách thức tổ chức phân cấp thực hiện thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án. Trên thực
tế, đã có những vụ án dân sự bị xét xử kéo dài hàng chục
năm cha kết thúc và đơng sự vẫn tiếp tục khiếu nại. Có thể
nói, những quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết
tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án cha tạo ra một cách
thức phù hợp, hiệu quả, cha đủ khả năng giải quyết các tranh
chấp dân sự, vốn đã phức tạp và ngày càng phức tạp trong


tổ chức, nâng cao chất lợng và hoạt động của các cơ quan t


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

3

pháp, đã có một số công trình khoa học, nhà nghiên cứu lý
luận và thực tiễn, ở những mức độ khác nhau nghiên cứu về
tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân
(TAND). Có thể kể đến Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:
"Vị trí, vai trò và chức năng của Tòa án nhân dân trong bộ
máy nhà nớc qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam" của Tòa án
nhân dân tối cao (TANDTC) năm 1996; Đề án: "Đổi mới tổ
chức và hoạt động của ngành T pháp" của Bộ T pháp năm
1996; Đề tài khoa học cấp Bộ: "Những yêu cầu và giải pháp
nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tòa án nhân dân" của
TANDTC năm 1999; Tiến sĩ Trần Văn Độ: "Đổi mới tổ chức và
hoạt động của Tòa án nhân dân" (Tạp chí Nhà nớc và Pháp
luật, số 11/2003)...
Đây là những công trình, bài viết đề cập đến những
nội dung khác nhau, ở một số khía cạnh mang tính riêng lẻ
vấn đề tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án trong
việc thực hiện thẩm quyền xét xử vụ án nói chung hoặc chủ
yếu là các vụ án hình sự. Đề tài "Phân cấp thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay" là công trình đầu tiên nghiên cứu
kết hợp tất cả những vấn đề về tổ chức, về thẩm quyền về
dân sự của Tòa án và thủ tục tố tụng dân sự, trên cơ sở đó
có cái nhìn tổng quan về hoạt động giải quyết vụ án dân

thẩm, thủ tục tái thẩm về dân sự. Những quy định về thẩm
quyền giải quyết việc dân sự không thuộc phạm vi nghiên cứu
của luận án.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận án đợc triển khai trên cơ sở lý luận và phơng pháp
nghiên cứu của triết học Mác - Lênin về Nhà nớc và pháp luật,
những quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về xây dựng Nhà
nớc pháp quyền, về cải cách t pháp và cải cách nền hành
chính quốc gia.


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

5

Việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét xử,
những tổng kết của ngành Tòa án, những số liệu thống kê
về tình hình xét xử, về tổ chức cán bộ của các cơ quan
chức năng, d luận xã hội... làm cho những kiến nghị sửa đổi,
bổ sung pháp luật về sự phân cấp thẩm quyền giải quyết
tranh chấp dân sự không những chỉ dựa trên cơ sở khoa học
mà còn có cơ sở thực tiễn.
Phơng pháp nghiên cứu so sánh những quy định tơng
ứng trong pháp luật của các quốc gia khác cũng nh trong cổ
luật của Việt Nam làm vấn đề đợc nghiên cứu trong tính hệ
thống, từ đó cho phép đa ra những kiến nghị về mô hình
tổ chức sự phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân
sự trong hệ thống Tòa án một cách toàn diện và đầy đủ
hơn.
Những phơng pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền

thẩm, thẩm quyền giám đốc thẩm, thẩm quyền tái thẩm về
dân sự của mỗi cấp Tòa án cũng nh giữa các cấp Tòa án với
nhau và thẩm quyền quyết định của mỗi Hội đồng xét xử
sơ thẩm, Hội đồng phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm,
Hội đồng tái thẩm. Từ những nghiên cứu này, luận án đã chỉ
ra những bất cập trong tổ chức thực hiện thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự, ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng
xét xử về dân sự, là nguyên nhân quan trọng đa việc giải
quyết vụ án dân sự rơi vào tình trạng xét xử lòng vòng qua
nhiều cấp, kéo dài nhiều năm, gây bức xúc và mất niềm tin
trong nhân dân.
Ba là, luận án đã đề xuất những giải pháp nhằm đổi
mới sự phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự,
xây dựng mô hình tổ chức phân cấp thẩm quyền làm bảo
đảm về mặt pháp lý cho việc nâng cao chất lợng xét xử về


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

7

dân sự trong hệ thống Tòa án. Trớc tiên là sự thay đổi việc
tổ chức thẩm quyền tại mỗi Tòa án theo cách thức là có các
Thẩm phán chuyên trách hoặc Tòa chuyên trách thực hiện
thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của cấp Tòa án
đó. Về lâu dài, mỗi cấp Tòa án chỉ nên có một thẩm quyền
giải quyết, theo nguyên tắc mỗi cấp Tòa án tơng ứng với một
cấp xét xử.
Giải pháp thứ hai là việc thay đổi, bổ sung một số quy
định về thủ tục tố tụng, tạo điều kiện cho việc tổ chức

để nâng cao chất lợng đội ngũ Thẩm phán.
Luận án có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
những nhà nghiên cứu pháp luật và những ngời làm công tác
thực tiễn.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chơng, 7 mục.


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

9

Chơng 1 : Một số vấn đề lý luận về phân cấp
thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ
thống Tòa án nhân dân

1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án
nhân dân

1.1.1. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án
1.1.1.1. Một số vấn đề chung về thẩm quyền
Nhà nớc, theo quan điểm của các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác-Lênin, là "sản phẩm và biểu hiện của những
mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa đợc" [29, tr. 31]. Đó
là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ
phận chuyên làm nhiệm vụ cỡng chế và thực hiện các chức
năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện
những mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
trong xã hội. Các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nớc đợc thực

có quyền hoạt động trong một lĩnh vực nhất định.
Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta khi xây dựng Nhà
nớc ta là Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

12

nớc thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Điều 2 Hiến pháp năm 2002 của nớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam [44] đã khẳng định: "Quyền lực nhà nớc là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp
và t pháp".
Quyền lực nhà nớc thực hiện thông qua những cơ quan
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân
dân bầu ra và chịu trách nhiệm trớc nhân dân, đợc tổ chức
và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ có sự
phân công, phân nhiệm trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc
thống nhất quyền lực.
Sự phân công, phân nhiệm không chỉ xác định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cơ quan, mà còn tạo ra
những lĩnh vực hoạt động riêng của cơ quan đó trong bộ
máy nhà nớc. Ví dụ, cùng có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm
chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nớc, của tập thể;
bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của

máy nhà nớc, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của Nhà nớc. Chính phủ là cơ quan chấp hành của
Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nớc cao nhất của nớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền quản lý và điều
hành xã hội trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nớc
Khái niệm thẩm quyền gắn liền với chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc. Thẩm quyền trở
thành một thuộc tính tất yếu của quyền lực nhà nớc. Từ điển
Luật học đã định nghĩa thẩm quyền là "tổng hợp các quyền


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

14

và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ
chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nớc do pháp luật quy định"
[93, tr. 459]. Giáo trình Lý luận về nhà nớc và pháp luật của
Trờng Đại học Luật Hà Nội cũng cho rằng:
Các cơ quan nhà nớc hoạt động trong phạm vi
thẩm quyền của mình. Thẩm quyền của cơ quan
nhà nớc là toàn bộ những quyền và nghĩa vụ mà Nhà
nớc quy định cho cơ quan đó, phụ thuộc vào vị trí
của mình trong bộ máy nhà nớc. Các cơ quan nhà nớc
khác nhau thì có thẩm quyền khác nhau [85, tr. 204].
Là thuộc tính của quyền lực nhà nớc, khái niệm thẩm
quyền không chỉ gắn với hoạt động của một cơ quan nhà nớc, mà trong nhiều trờng hợp, thẩm quyền còn là quyền hạn
của một cá nhân đợc thực hiện nhân danh quyền lực nhà nớc

pháp luật quy định cho một cơ quan, tổ chức hoặc một
công chức đợc xem xét giải quyết những công việc cụ thể
trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức
năng của bộ máy nhà nớc.
1.1.1.2. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án
Bộ máy nhà nớc ta đợc tổ chức theo nguyên tắc quyền
lực nhà nớc thống nhất, không phân chia, nhng có sự phân
công giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và t pháp. Quyền t
pháp, hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hoạt động bảo vệ
cho hệ thống pháp luật đợc thực thi, bao gồm quyền điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Là một bộ phận của bộ
máy nhà nớc, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền
t pháp của Nhà nớc, với chức năng xét xử. Điều 127 Hiến pháp
2002 khẳng định: "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án
nhân dân địa phơng, các Tòa án quân sự và các Tòa án


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

16

khác do luật định là những cơ quan xét xử của nớc Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức TAND
năm 2002 [33] đã quy định cụ thể nhiệm vụ của Tòa án,
trong phạm vi chức năng của mình là bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân, bảo vệ
tài sản của Nhà nớc, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản,
tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Từ chức năng,
nhiệm vụ của TAND, thẩm quyền của Tòa án đợc xác định

sự.
Thẩm quyền của Tòa án không chỉ xác định phạm vi
công việc của Tòa án mà còn giới hạn phạm vi những công việc
giữa Tòa án với những có quan nhà nớc khác. Ví dụ, giải quyết
những tranh chấp quyền sử dụng đất, theo quy định của
Luật Đất đai năm 2003 [31], nếu có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất hoặc có một trong những giấy tờ đợc pháp luật quy
định, tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án; nếu không
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có những giấy tờ
mà pháp luật quy định, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải
quyết của ủy ban nhân dân (Điều 136 Luật Đất đai). Trong
trờng hợp này, thẩm quyền của Tòa án cho phép xác định
một vụ việc Tòa án xét xử, giải quyết là có cơ sở pháp lý để
công nhận tính hợp pháp hay không. Nếu Tòa án xét xử, giải
quyết một vụ án không đúng thẩm quyền, thì dù vụ án đợc
giải quyết đúng về nội dung, phán quyết của Tòa án cũng
không đợc công nhận và bị hủy bỏ.
Không chỉ phân định sự khác nhau về giới hạn hoạt
động của Tòa án với cơ quan nhà nớc khác, thẩm quyền của
Tòa án còn định ra giới hạn thẩm quyền cho các Tòa án trong
cùng hệ thống Tòa án. Có thẩm quyền của Tòa án các cấp để
phân định các loại việc thuộc thẩm quyền xét xử theo thủ
tục sơ thẩm; thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ để phân


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

18

định thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm giữa các


19

tính xã hội, cha thể hiện đợc tính quyền lực nhà nớc. Trong
khi đó, thẩm quyền của cơ quan nhà nớc nói chung, có thẩm
quyền của Tòa án nói riêng tồn tại trên cơ sở quyền lực nhà nớc. Thẩm quyền là thuật ngữ đợc gắn với cơ quan công
quyền, là thuộc tính của quyền lực nhà nớc.
Khái niệm thẩm quyền cũng đợc nghiên cứu, đề cập
đến trong pháp luật của nhiều nớc trên thế giới. Tuy có nhiều
cách hiểu và lý giải khác nhau, nhng nhìn chung thẩm quyền
của Tòa án đều đợc thừa nhận là quyền xét xử và quyền
quyết định của Tòa án. Đó cũng là quyền đợc làm những
việc và quyền đợc quyết định về những vấn đề trong
phạm vi pháp luật cho phép của Tòa án. Theo Từ điển pháp
luật của tác giả Lemeunier thì thẩm quyền của Tòa án đợc
hiểu là "khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong
phạm vi pháp luật cho phép" [100, tr. 74]. Trong tiếng Anh,
thuật ngữ Jurisdition đợc dùng để chỉ thẩm quyền hoặc
quyền tài phán của Tòa án [99, p.297]. Theo các quan điểm
này, khái niệm thẩm quyền không chỉ đợc phân tích về
bản chất, mà còn chỉ rõ phạm vi thẩm quyền theo diện rộng.
Theo tiến sĩ Wolf Ruecliger, thì "thẩm quyền của Tòa án cần
phân biệt sự khác nhau giữa thẩm quyền theo vụ việc, địa
điểm và thẩm quyền phân cấp" [22, tr. 227].
Từ những phân tích trên, chúng tôi đa ra khái niệm
thẩm quyền của Tòa án nh sau: Thẩm quyền của Tòa án là
toàn bộ những quyền do pháp luật quy định theo đó Tòa án
đợc tiến hành xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể
theo quy định của pháp luật. Hoặc cũng có thể định
nghĩa, thẩm quyền của Tòa án là quyền xét xử những vụ án

khác, nếu quyết định đó rõ ràng là trái pháp luật, làm ảnh
hởng đến quyền và lợi ích của đơng sự trong vụ án Tòa án
đang giải quyết. Với chức năng là cơ quan xét xử của Nhà n-


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

21

ớc, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ nền công lý. Mọi hành vi vi
phạm pháp luật, cho dù hành vi đó là của cá nhân hay của cơ
quan, tổ chức đều phải chịu sự phán xét của Tòa án. Đó
cũng là một nội dung của thẩm quyền của Tòa án. Việc giải
quyết này có thể đợc thực hiện theo thủ tục tố tụng hành
chính hoặc có thể đợc Tòa án quyết định trong phạm vi
quyền hạn của mình.
Hoặc quy định về thẩm quyền quyết định của Tòa án
xác định phạm vi quyền hạn đối với việc giải quyết vụ án.
Quyền quyết định hay còn gọi là quyền hạn của Tòa án là bộ
phận không thể thiếu của thẩm quyền của Tòa án. Nếu Tòa
án có thẩm quyền xét xử mà không có quyền quyết định,
không ra đợc bản án hay quyết định thì không thể hoàn
thành đợc thẩm quyền của mình. Trong Từ điển tiếng Việt,
quyền hạn là "quyền đợc xác định về nội dung, phạm vi, mức
độ" [91, tr. 815]. Từ điển Luật học cũng định nghĩa: quyền
hạn là "quyền đợc xác định trong không gian, thời gian, lĩnh
vực hoạt động" [65, tr. 402]. Các định nghĩa này cho phép
xác định quyền hạn của Tòa án là quyền quyết định trong
phạm vi pháp luật quy định. ở các cấp, các thủ tục xét xử
khác nhau, quyền hạn của Tòa án khác nhau. Ví dụ, quyền

quan nhà nớc khác, thẩm quyền về dân sự của Tòa án xác
định phạm vi những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án, phân định với những vụ việc về dân sự
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nớc khác. Xét
theo mối quan hệ giữa các Tòa án với nhau thì thẩm quyền
về dân sự của Tòa án trớc hết xác định phạm vi giải quyết
các vụ việc dân sự so với phạm vi xét xử về hình sự và phạm


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

23

vi giải quyết những vụ việc khác thuộc thẩm quyền xét xử,
giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Phạm vi giải quyết các vụ việc dân sự và phạm vi xét
xử về hình sự hình thành trên cơ sở những đặc thù của loại
vụ án hình sự và loại vụ việc dân sự. Đặc thù của vụ án hình
sự là giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nớc và kẻ phạm tội,
trong đó, hành vi vi phạm pháp luật mà kẻ phạm tội thực hiện
không chỉ làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, đến tài sản của cá nhân ngời bị hại mà còn bị
coi là nguy hiểm đối với xã hội. Tính chất "công" đợc coi nh
đặc trng của mối quan hệ này. Vì lẽ đó, thủ tục tố tụng
hình sự là một hoạt động đợc tiến hành bởi nhiều cơ quan
tiến hành tố tụng nh cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sát, cơ
quan Tòa án, trong đó, cơ quan điều tra có chức năng điều
tra vụ án, cơ quan kiểm sát thực hiện việc truy tố và trên cơ
sở đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
Đối với vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh

về dân sự của Tòa án là quyền quyết định của Tòa án đối
với toàn bộ quá trình tố tụng mà xét xử tại phiên tòa chỉ là
một giai đoạn. Hiến pháp cũng nh Luật Tổ chức TAND xác
định Tòa án là cơ quan xét xử các vụ án hình sự, các vụ án
dân sự và các loại việc khác theo quy định của pháp luật.
Các vụ án này thuộc "thẩm quyền xét xử" của Tòa án. Trong
thực tế cũng nh trong nhiều văn bản, nhiều trờng hợp thờng
sử dụng thuật ngữ "xét xử hình sự" và "giải quyết vụ án
dân sự" hoặc "thẩm quyền xét xử hình sự" và "thẩm
quyền giải quyết dân sự" để chỉ thẩm quyền của Tòa án
trong lĩnh vực hình sự và trong lĩnh vực dân sự. Trong
chừng mực nhất định, "thẩm quyền giải quyết" có phạm vi
rộng hơn "thẩm quyền xét xử" và cũng phù hợp hơn với vai trò


Ket-noi.com kho ti liu min phớ

25

của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự, kinh tế, lao
động, hành chính.
Trớc khi có BLTTDS, thủ tục giải quyết các loại vụ án dân
sự, kinh tế, lao động đợc quy định trong các pháp lệnh:
"Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự", "Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế", "Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động". Đối với các vụ án hành chính
thì thủ tục đợc quy định trong "Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính".
Thẩm quyền về hình sự của Tòa án đợc xác định
trong phạm vi "xét xử", thẩm quyền về dân sự của Tòa án


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status