phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống tòa án Việt Nam - Pdf 29

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc trong thời kỳ đổi mới ở nớc ta
đã và đang có nhiều triển vọng tốt đẹp trong mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó, những
hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc cũng dần bộc
lộ. Đây là những rào cản lớn trên bớc đờng phát triển của đất nớc. Bởi vậy,
Đảng và Nhà nớc ta đã và đang tiến hành mạnh mẽ công cuộc cải cách nhằm
loại bỏ những khâu bất hợp lý trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nớc,
trong đó có các cơ quan t pháp mà hệ thống Tòa án là một bộ phận quan trọng.
Thực tiễn xét xử của ngành Tòa án trong thời gian vừa qua cho thấy
không ít những vụ việc dân sự đã bị giải quyết kéo dài, gây tâm lý phản cảm,
giảm sút niềm tin trong một bộ phận nhân dân. Một trong những nguyên nhân
quan trọng của tình trạng trên là ở sự bất cập trong cách thức tổ chức phân cấp
thực hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án. Trên
thực tế, đã có những vụ án dân sự bị xét xử kéo dài hàng chục năm cha kết thúc
và đơng sự vẫn tiếp tục khiếu nại. Có thể nói, những quy định của pháp luật
hiện hành về giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án cha tạo ra một
cách thức phù hợp, hiệu quả, cha đủ khả năng giải quyết các tranh chấp dân sự,
vốn đã phức tạp và ngày càng phức tạp trong đời sống xã hội. Hệ thống pháp
luật về tố tụng, về tổ chức Tòa án tuy đã có nhiều sửa đổi những vẫn có những
quy định không phù hợp, mà tập trung nhất là ở vấn đề tổ chức thực hiện thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp dân sự của Tòa án. Trớc tình hình đó, Đảng ta
đã chủ trơng đẩy mạnh cải cách t pháp cho phù hợp với nền kinh tế thị trờng và
quá trình hội nhập hiện nay. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là công tác
cải cách t pháp.
1
Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi Ban chỉ đạo cải cách t pháp của
Việt Nam đang xây dựng đề án Chiến lợc cải cách t pháp giai đoạn 2006-2020,
mà một trong những nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện mô hình tổ chức Tòa án
và thủ tục tố tụng t pháp, xác định "Tòa án là trung tâm của t pháp, trọng tâm
của hoạt động t pháp là hoạt động xét xử của Tòa án", thì việc nghiên cứu mô

Trên cơ sở nghiên cứu những quy định về cách thức tổ chức thực hiện
thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống TAND và thực tiễn giải
quyết về dân sự, luận án có mục đích xây dựng một mô hình tổ chức xử án dân
sự thực sự khoa học, có khả năng nâng cao chất lợng xét xử về dân sự, phục vụ
mục tiêu cải cách t pháp.
Đối tợng nghiên cứu của luận án là sự phân cấp thực hiện thẩm quyền
giải quyết vụ án dân sự trong hệ thống Tòa án theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục
phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm về dân sự. Đó là cách thức
tổ chức thực hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong mỗi cấp Tòa
án cũng nh giữa các cấp Tòa án trong hệ thống Tòa án. Luận án cũng đã nghiên
cứu những bất cập trong cách thức tổ chức phân cấp thẩm quyền sơ thẩm, thẩm
quyền phúc thẩm, thẩm quyền giám đốc thẩm, thẩm quyền tái thẩm khi Tòa án
giải quyết một tranh chấp dân sự. Luận án không nghiên cứu sự phân cấp thẩm
quyền giải quyết việc dân sự trong hệ thống Tòa án.
Phạm vi nghiên cứu của luận án là những quy định về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc
thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm về dân sự. Những quy định về
thẩm quyền giải quyết việc dân sự không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận án đợc triển khai trên cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của
triết học Mác - Lênin về Nhà nớc và pháp luật, những quan điểm của Đảng và
3
Nhà nớc ta về xây dựng Nhà nớc pháp quyền, về cải cách t pháp và cải cách nền
hành chính quốc gia.
Việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét xử, những tổng kết của
ngành Tòa án, những số liệu thống kê về tình hình xét xử, về tổ chức cán bộ của
các cơ quan chức năng, d luận xã hội... làm cho những kiến nghị sửa đổi, bổ
sung pháp luật về sự phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự không
những chỉ dựa trên cơ sở khoa học mà còn có cơ sở thực tiễn.
Phơng pháp nghiên cứu so sánh những quy định tơng ứng trong pháp

dân sự rơi vào tình trạng xét xử lòng vòng qua nhiều cấp, kéo dài nhiều năm,
gây bức xúc và mất niềm tin trong nhân dân.
Ba là, luận án đã đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới sự phân cấp
thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự, xây dựng mô hình tổ chức phân cấp
thẩm quyền làm bảo đảm về mặt pháp lý cho việc nâng cao chất lợng xét xử về
dân sự trong hệ thống Tòa án. Trớc tiên là sự thay đổi việc tổ chức thẩm quyền
tại mỗi Tòa án theo cách thức là có các Thẩm phán chuyên trách hoặc Tòa
chuyên trách thực hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của cấp Tòa án
đó. Về lâu dài, mỗi cấp Tòa án chỉ nên có một thẩm quyền giải quyết, theo
nguyên tắc mỗi cấp Tòa án tơng ứng với một cấp xét xử.
Giải pháp thứ hai là việc thay đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục tố
tụng, tạo điều kiện cho việc tổ chức thực hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp
dân sự đạt hiệu quả cao nh quy định thủ tục rút gọn, nguyên tắc tranh tụng,
quyền kháng cáo giám đốc thẩm, kháng cáo tái thẩm cho các đơng sự.
Giải pháp mang tính đồng bộ là vấn đề tăng cờng và nâng cao năng lực
chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Tòa án mà trung tâm là các Thẩm
phán.
5
6. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án là những bổ sung quan trọng về cơ sở lý
luận về tổ chức Tòa án, về thủ tục tố tụng dân sự liên quan đến sự phân cấp
thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án. Kết quả nghiên
cứu này cho phép tiếp cận với cách nhìn mới, cách đánh giá mới về những
nguyên tắc và cách thức tổ chức Tòa án và Luật tố tụng dân sự. Đây là những cơ
sở lý luận rất quan trọng để đa ra một cách thức tổ chức phân cấp thẩm quyền
giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án có tính mới.
Những giải pháp nhằm hoàn thiện việc phân cấp thẩm quyền giải quyết
tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án có thể làm tiền đề cho những công
trình nghiên cứu khoa học, những đề án về hoàn thiện mô hình tổ chức Tòa án,
hoàn thiện hệ thống luật tố tụng và những kế hoạch cụ thể để nâng cao chất l-

ờng đợc gọi là Vua. Cách tổ chức này đã dẫn đến "sự tùy tiện là quyền
7
lực của nhà Vua" hay "quyền lực của Vua là sự tùy tiện" nh nhận xét của C.Mác
[39, tr. 319].
Còn Montesquieu, một nhà xã hội học, một triết gia và nhà khai sáng
ngời Pháp thế kỷ XVIII thì cho rằng, "trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền
lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và
quyền thi hành những điều trong luật dân sự" [47, tr. 100]. Theo ông, thực hiện
quyền lực nhà nớc, xét cho cùng là việc tổ chức thực hiện ba quyền lực trên.
Montesquieu đã đánh giá:
Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay
một ngời hay một Viện Nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa;
vì ngời ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi
hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu quyền t pháp
không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền t
pháp nhập lại với quyền lập pháp thì ngời ta độc đoán với quyền sống
và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là ngời đặt ra luật. Nếu
quyền t pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả
sức mạnh đàn áp. Nếu một ngời hay một tổ chức của quan chức, hoặc
của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói
trên thì tất cả sẽ mất hết [47, tr. 100-101].
Những quan điểm của Montesquieu là nền tảng cho học thuyết "tam
quyền phân lập", một học thuyết có ảnh hởng lớn tới tổ chức bộ máy nhà nớc của
các Nhà nớc t sản. Có thể thấy ảnh hởng của học thuyết tam quyền trong Hiến
pháp Mỹ năm 1787, trong tuyên ngôn của Cộng hòa Pháp về quyền con ngời và
quyền công dân năm 1789. Chẳng hạn, Điều 16 của Bản tuyên ngôn năm 1789
nêu rõ: một xã hội trong đó không bảo đảm việc sử dụng các quyền và không
thực hiện sự phân quyền thì không có Hiến pháp [90, tr. 6].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong khi xây dựng học
thuyết về Nhà nớc kiểu mới, đã kế thừa những hạt nhân hợp lý của các học

pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định. Phạm vi hoạt động riêng của từng
cơ quan đã tạo ra thẩm quyền cho mỗi cơ quan nhà nớc.
Thẩm quyền của cơ quan nhà nớc bao gồm lĩnh vực mà Nhà nớc giao
cho cơ quan đó thực hiện. Với thẩm quyền của mình, các cơ quan nhà nớc
không thể làm thay chức năng của nhau, không thể thay thế cơ quan nhà nớc
này bằng cơ quan nhà nớc khác để thực hiện chức năng đã đợc xác định. Thẩm
quyền của cơ quan nhà nớc không chỉ xác định phạm vi hoạt động của từng cơ
quan, mà còn phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nớc trong bộ máy
nhà nớc. Sự xác định và phân định này do pháp luật quy định.
Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan mà pháp luật quy định
cho mỗi cơ quan có một hoặc nhiều thẩm quyền. Ví dụ, Quốc hội là cơ quan đại
biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất của nớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập
hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và
đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nớc, những
nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc, về quan hệ xã
hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Nhà nớc. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc
hội, cơ quan hành chính nhà nớc cao nhất của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, có quyền quản lý và điều hành xã hội trên mọi lĩnh vực: chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nớc
Khái niệm thẩm quyền gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ
quan trong bộ máy nhà nớc. Thẩm quyền trở thành một thuộc tính tất yếu của
quyền lực nhà nớc. Từ điển Luật học đã định nghĩa thẩm quyền là "tổng hợp các
quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ
thống bộ máy nhà nớc do pháp luật quy định" [93, tr. 459]. Giáo trình Lý luận
về nhà nớc và pháp luật của Trờng Đại học Luật Hà Nội cũng cho rằng:
10
Các cơ quan nhà nớc hoạt động trong phạm vi thẩm quyền
của mình. Thẩm quyền của cơ quan nhà nớc là toàn bộ những quyền

Bộ máy nhà nớc ta đợc tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nớc
thống nhất, không phân chia, nhng có sự phân công giữa ba quyền lập pháp,
hành pháp và t pháp. Quyền t pháp, hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hoạt
động bảo vệ cho hệ thống pháp luật đợc thực thi, bao gồm quyền điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án. Là một bộ phận của bộ máy nhà nớc, Tòa án nhân dân
là cơ quan thực hiện quyền t pháp của Nhà nớc, với chức năng xét xử. Điều 127
Hiến pháp 2002 khẳng định: "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa
phơng, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan
xét xử của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức TAND năm 2002 [33] đã
quy định cụ thể nhiệm vụ của Tòa án, trong phạm vi chức năng của mình là bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân, bảo vệ tài
sản của Nhà nớc, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân
phẩm của công dân. Từ chức năng, nhiệm vụ của TAND, thẩm quyền của Tòa
án đợc xác định trong phạm vi xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia
đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định
của pháp luật. Xét xử là thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét những hành
vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ của sự vi phạm, căn cứ vào quy định của
pháp luật để đa ra quyết định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà
nớc, của cá nhân, của các tổ chức và các lợi ích cộng cộng khác. Các quyết định
này có thể là về hình phạt tơng ứng với mức độ vi phạm của ngời thực hiện
trong các vụ án hình sự; có thể là các quyết định về quyền và nghĩa vụ của cá
nhân trong các vụ án dân sự, vụ án kinh tế, tranh chấp lao động và vụ án hành
chính.
12
Quyết định của Tòa án thờng thể hiện dới hình thức bản án. Một số tr-
ờng hợp đợc thể hiện dới hình thức quyết định nh quyết định công nhận sự thỏa
thuận của đơng sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án Chỉ có Tòa án mới có quyền ra bản án hoặc các quyết
định này. Bản án, quyết định của Tòa án là nhân danh Nhà nớc; mọi cơ quan

giải quyết các vụ án kinh tế [60], Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
[61] quy định thủ tục giải quyết vụ án dân sự, vụ án kinh tế và các tranh chấp
dân sự tại Tòa án. Căn cứ vào những Pháp lệnh này, thẩm quyền của Tòa án còn
đợc xác định theo thủ tục tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ
tục tố tụng kinh tế hay thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng lao động.
Đây cũng là một loại quy định về thẩm quyền của Tòa án.
Nghiên cứu để đa ra một khái niệm khoa học về thẩm quyền của Tòa án
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi, cách thức thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của Tòa án. Có quan điểm cho rằng thẩm quyền của Tòa án là
quyền xét xử, bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, mang tính lịch sử cụ thể
quy định quyền xét xử của Tòa án. Nội dung của nó do các điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội và các điều kiện khác quyết định [100, tr. 92]. Nếu hiểu nh vậy
thì khái niệm thẩm quyền của Tòa án mới chỉ mang tính xã hội, cha thể hiện đ-
ợc tính quyền lực nhà nớc. Trong khi đó, thẩm quyền của cơ quan nhà nớc nói
chung, có thẩm quyền của Tòa án nói riêng tồn tại trên cơ sở quyền lực nhà nớc.
Thẩm quyền là thuật ngữ đợc gắn với cơ quan công quyền, là thuộc tính của
quyền lực nhà nớc.
Khái niệm thẩm quyền cũng đợc nghiên cứu, đề cập đến trong pháp luật
của nhiều nớc trên thế giới. Tuy có nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau, nhng
nhìn chung thẩm quyền của Tòa án đều đợc thừa nhận là quyền xét xử và quyền
quyết định của Tòa án. Đó cũng là quyền đợc làm những việc và quyền đợc
quyết định về những vấn đề trong phạm vi pháp luật cho phép của Tòa án. Theo
14
Từ điển pháp luật của tác giả Lemeunier thì thẩm quyền của Tòa án đợc hiểu là
"khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho
phép" [100, tr. 74]. Trong tiếng Anh, thuật ngữ Jurisdition đợc dùng để chỉ
thẩm quyền hoặc quyền tài phán của Tòa án [99, p.297]. Theo các quan điểm
này, khái niệm thẩm quyền không chỉ đợc phân tích về bản chất, mà còn chỉ rõ
phạm vi thẩm quyền theo diện rộng. Theo tiến sĩ Wolf Ruecliger, thì "thẩm
quyền của Tòa án cần phân biệt sự khác nhau giữa thẩm quyền theo vụ việc, địa

của Tòa án. Việc giải quyết này có thể đợc thực hiện theo thủ tục tố tụng hành
chính hoặc có thể đợc Tòa án quyết định trong phạm vi quyền hạn của mình.
Hoặc quy định về thẩm quyền quyết định của Tòa án xác định phạm vi
quyền hạn đối với việc giải quyết vụ án. Quyền quyết định hay còn gọi là quyền
hạn của Tòa án là bộ phận không thể thiếu của thẩm quyền của Tòa án. Nếu Tòa
án có thẩm quyền xét xử mà không có quyền quyết định, không ra đợc bản án
hay quyết định thì không thể hoàn thành đợc thẩm quyền của mình. Trong Từ
điển tiếng Việt, quyền hạn là "quyền đợc xác định về nội dung, phạm vi, mức độ"
[91, tr. 815]. Từ điển Luật học cũng định nghĩa: quyền hạn là "quyền đợc xác định
trong không gian, thời gian, lĩnh vực hoạt động" [65, tr. 402]. Các định nghĩa
này cho phép xác định quyền hạn của Tòa án là quyền quyết định trong phạm vi
pháp luật quy định. ở các cấp, các thủ tục xét xử khác nhau, quyền hạn của Tòa
án khác nhau. Ví dụ, quyền hạn của Tòa án cấp sơ thẩm, quyền hạn của Tòa án
cấp phúc thẩm, quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm.
1.1.2. Thẩm quyền về dân sự của Tòa án nhân dân
1.1.2.1. Khái niệm thẩm quyền về dân sự của Tòa án
ở các loại việc khác nhau, các thủ tục xét xử khác nhau, mức độ quyền
hạn của Tòa án là khác nhau. Sự khác nhau về thẩm quyền của Tòa án ở cấp độ
16
này tạo ra phạm vi xét xử và giới hạn xét xử. Từ điển tiếng Việt định nghĩa, giới
hạn là "phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không đợc phép vợt qua"
[91, tr. 405], còn phạm vi là "khoảng đợc giới hạn của một hành động, một vấn
đề hay một cái gì" [91, tr. 764]. Giới hạn thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án là
quyền xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự; hôn nhân và gia
đình; kinh doanh, thơng mại; lao động; giải quyết các vụ án hành chính và
quyền giải quyết những vụ việc khác theo quy định của pháp luật. Giới hạn
thẩm quyền theo vụ việc tạo ra phạm vi thẩm quyền về dân sự, về hôn nhân và
gia đình, thẩm quyền về hình sự, thẩm quyền về kinh doanh, thơng mại, thẩm
quyền về lao động, thẩm quyền về hành chính cho Tòa án.
Thẩm quyền về dân sự của Tòa án là một loại thẩm quyền của Tòa án.

tòa xét xử. Nhiều vụ việc, với sự giải quyết của Tòa án, đã kết thúc bằng việc
hòa giải giữa các đơng sự hoặc bằng việc rút đơn kiện của nguyên đơn.
Thẩm quyền xét xử vụ án hình sự của Tòa án xác định phạm vi thẩm
quyền của Tòa án trong việc ra bản án, quyết định tại phiên tòa, còn thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thơng mại, lao
động, hành chính xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc thụ lý, chuẩn bị
xét xử, ra bản án, quyết định về vụ việc. Thẩm quyền giải quyết về dân sự của
Tòa án có giới hạn phạm vi rộng hơn so với thẩm quyền xét xử về hình sự.
Thẩm quyền về hình sự của Tòa án là quyền xét xử của Tòa án giới hạn
chính trong phần phiên tòa. Thẩm quyền về dân sự của Tòa án là quyền quyết
định của Tòa án đối với toàn bộ quá trình tố tụng mà xét xử tại phiên tòa chỉ là
một giai đoạn. Hiến pháp cũng nh Luật Tổ chức TAND xác định Tòa án là cơ
quan xét xử các vụ án hình sự, các vụ án dân sự và các loại việc khác theo quy
định của pháp luật. Các vụ án này thuộc "thẩm quyền xét xử" của Tòa án. Trong
thực tế cũng nh trong nhiều văn bản, nhiều trờng hợp thờng sử dụng thuật ngữ
"xét xử hình sự" và "giải quyết vụ án dân sự" hoặc "thẩm quyền xét xử hình sự"
18
và "thẩm quyền giải quyết dân sự" để chỉ thẩm quyền của Tòa án trong lĩnh vực
hình sự và trong lĩnh vực dân sự. Trong chừng mực nhất định, "thẩm quyền giải
quyết" có phạm vi rộng hơn "thẩm quyền xét xử" và cũng phù hợp hơn với vai
trò của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.
Trớc khi có BLTTDS, thủ tục giải quyết các loại vụ án dân sự, kinh tế, lao
động đợc quy định trong các pháp lệnh: "Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự", "Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế", "Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động". Đối với các vụ án hành chính thì thủ tục đợc quy
định trong "Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính".
Thẩm quyền về hình sự của Tòa án đợc xác định trong phạm vi "xét xử",
thẩm quyền về dân sự của Tòa án ngoài phạm vi "xét xử" còn bao gồm phạm vi
"giải quyết". Nếu thẩm quyền về hình sự của Tòa án xác định thẩm quyền xét
xử, thì thẩm quyền về dân sự của Tòa án không chỉ xác định thẩm quyền xét xử,

Cùng với quy định của pháp luật, sự lựa chọn trên cơ sở quyền định
đoạt của đơng sự là những thuộc tính không thể thiếu đợc của thẩm quyền về
dân sự của Tòa án. Thuộc tính này cũng có thể đợc xác định là đặc trng riêng
của thẩm quyền về dân sự của Tòa án. Bởi lẽ, thẩm quyền về hình sự của Tòa
án, về căn bản không đợc quyết định bởi sự định đoạt của cá nhân công dân.
Hành vi vi phạm pháp luật hình sự của một ngời bị coi là nguy hiểm cho xã
hội, khi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy tố và xét xử theo quy
định của pháp luật, không phụ thuộc vào mong muốn của cá nhân công dân.
Do tính dân sự của những loại việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, nên
trong nhiều trờng hợp cần có sự phân định thẩm quyền về dân sự của Tòa án với
thẩm quyền về dân sự của cơ quan nhà nớc khác. Đây cũng có thể coi là một
đặc trng khác của thẩm quyền về dân sự của Tòa án so với thẩm quyền về hình
20
sự. Thẩm quyền xét xử hình sự chỉ thuộc về Tòa án mà không cần phải phân
định với cơ quan nhà nớc khác. Ngay cả đối với các cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự khác, thì thẩm quyền của những cơ quan này cũng rất riêng biệt với Tòa
án. Chẳng hạn cơ quan điều tra thì có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự, cơ
quan kiểm sát có thẩm quyền truy tố vụ án hình sự. Chỉ có Tòa án mới có thẩm
quyền xét xử vụ án hình sự.
Trong khi đó, khi giải quyết vụ việc dân sự, trong một số trờng hợp, Tòa
án cần phải xác định loại vụ việc dân sự có thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án hay thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nớc khác.
Xác định giới hạn thẩm quyền về dân sự của Tòa án với cơ quan nhà n-
ớc khác là một thuộc tính của thẩm quyền về dân sự. Dới góc độ này, loại thẩm
quyền này đợc gọi là thẩm quyền chung hay còn gọi là thẩm quyền theo vụ việc
về dân sự của Tòa án.
Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Trờng Đại học Luật Hà Nội năm
2003 đã định nghĩa: Thẩm quyền chung là thẩm quyền của Tòa án trong việc
thụ lý giải quyết các loại việc theo thủ tục tố tụng dân sự [86, tr. 37]. Định
nghĩa này không chỉ xác định những loại việc về dân sự thuộc thẩm quyền giải

của Luật tố tụng dân sự. Trong mỗi một giai đoạn phát triển của luật tố tụng dân
sự, khái niệm vụ việc dân sự có những thay đổi nhất định, tất yếu dẫn đến sự
khác nhau trong thẩm quyền về dân sự ở các giai đoạn phát triển khác nhau của
luật tố tụng dân sự.
1.1.2.2. Thẩm quyền về dân sự của Tòa án trớc khi có Bộ luật tố tụng
dân sự
22
Trớc khi có BLTTDS, trong các văn bản pháp luật cũng nh trong thực tế,
thuật ngữ "vụ án dân sự" đã đợc sử dụng để chỉ tất cả những loại vụ việc thuộc
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự của TAND. Việc sử dụng
thuật ngữ vụ án dân sự cũng có tính lịch sử.
Hiến pháp năm 1946 của nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa [26], tại Điều
thứ 65 quy định "trong khi xét xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để
hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán
nếu là việc đại hình". Cùng với khái niệm việc hình là khái niệm việc hộ để chỉ
những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đây cũng là những
thuật ngữ đợc sử dụng trong các Tòa án dới thời Pháp thuộc (trớc 1945), cả ở
Bắc phần, Trung phần và Nam phần.
Về loại việc hộ, trong Sắc lệnh số 13-SL ngày 24 tháng giêng năm 1946
về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán [66], đã chỉ rõ bao gồm "các việc về
dân sự và thơng sự" (Điều thứ 3, Điều thứ 17).
Các văn bản tố tụng trong thời kỳ tiếp theo đã chỉ rõ hơn về bản chất
của việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đó là những việc th-
ờng có kiện tụng, có tranh chấp về quyền lợi giữa các bên yêu cầu, vì vậy những
việc này còn đợc gọi là việc kiện. Ví dụ, Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định
thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong tòa án [67],
tại Điều thứ 6 xác định thẩm quyền xử về dân sự và thơng sự của Tòa án sơ cấp
gồm "những việc kiện dân sự, thơng sự về động sản mà giá ngạch do nguyên
đơn định không quá 150 đ".
Sắc lệnh số 85-SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 về cải cách bộ máy t pháp

Về nội dung, vụ án dân sự dùng để chỉ những việc kiện dân sự và cả
những việc dân sự đặc biệt. Việc kiện dân sự là những việc trong đó có sự tranh
chấp về quyền, lợi ích giữa các đơng sự trong các quan hệ về dân sự, hôn nhân
24
và gia đình. Ví dụ Thông t số 39-NCPL [75] ngày 21-1-1972 của TANDTC về
việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình và
tranh chấp về dân sự. Trong việc kiện dân sự có các bên đơng sự. Bên đi kiện
gọi là bên nguyên hay còn gọi là nguyên đơn. Nguyên đơn là ngời giả thiết cho
rằng có quyền và lợi ích bị xâm hại, bị tranh chấp nên đã tự mình yêu cầu hoặc
đợc ngời khác yêu cầu Tòa án bảo vệ theo quy định của pháp luật. Bên bị kiện
đợc gọi là bên bị hay còn gọi là bị đơn. Bị đơn là ngời giả thiết cho rằng đã xâm
hại hoặc tranh chấp quyền và lợi ích với nguyên đơn nên phải tham gia tố tụng
để giải quyết về việc kiện đó.
Ngoài những việc kiện về dân sự, Tòa án cũng giải quyết cả những việc
không có sự tranh chấp về quyền lợi ví dụ yêu cầu xác định ngời thất tụng (ngời
mất tích), xác định ngời đã chết. Đây là những loại việc đặc biệt mà trên cơ sở
phán quyết của Tòa án, sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật mới. Ví dụ, bằng
phán quyết của Tòa án về việc công dân đã chết, sẽ làm phát sinh quan hệ thừa
kế hoặc về nhân thân, ngời vợ hay ngời chồng của ngời chết đợc phép kết hôn
mới.
Về phạm vi, khái niệm vụ án dân sự đợc sử dụng trong thời kỳ này là rất
rộng, bao gồm những tranh chấp và những loại việc phát sinh trong quan hệ
pháp luật dân sự liên quan đến đời sống cá nhân về tài sản và nhân thân của con
ngời, nh các tranh chấp phát sinh trong quan hệ dân sự, trong kinh doanh, trong
lao động, trong quan hệ hôn nhân và gia đình... Khi những tranh chấp này phát
sinh tại Tòa án, đợc Tòa án giải quyết, thì đó vụ án dân sự.
Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989 vẫn tiếp tục sử dụng thống nhất
thuật ngữ vụ án dân sự. Điều 10 Pháp lệnh TTGQCVADS đã xác định: Các Tòa
án có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự sau đây:
- Những tranh chấp về quyền sở hữu, về hợp đồng, về bồi thờng thiệt hại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status