MỘT số GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG mại tại tòa án NHÂN dân cấp HUYỆN - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ ĐỨC HOÀNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP
HUYỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2009


MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt trong luận văn
Mục lục

1.1

Phần mở đầu

1

Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP

8

1.3.1 Nhìn từ phía Tòa án.

8

1.3.2 Nhìn từ phía các đương sự

11

1.3.3 Nhìn từ phía cộng đồng doanh nhân

13

1.4

Những yếu tố ảnh hƣởng tới việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh – thƣơng mại tại TAND cấp huyện.

14

1.4.1 Các yếu tố tác động từ bên trong

14

1.4.2 Các yếu tố tác động từ bên ngoài

15

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

41

2.1.5 Về nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ

46

2.1.6 Về sự tham gia của VKS vào quá trình giải quyết tranh chấp KD
– TM

53

2.2

Thực trạng văn hóa, truyền thống của giới Doanh nhân Việt
Nam ảnh hƣởng tới việc giải quyết tranh chấp KD – TM

54

2.3

Thực trạng địa vị của Tòa án, năng lực trình độ, phẩm chất
của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ảnh hƣởng đến
quá trình giải quyết tranh chấp KD – TM.

58

2.3.1 Địa vị pháp lý của TAND còn thiếu tính độc lập, chưa tương
xứng với vai trò là nơi bảo vệ công lý

58


77

2


3.2

Hoàn thiện pháp luật tố tụng – tạo quy trình khoa học thúc
đẩy tiến trình giải quyết tranh chấp KD – TM

81

3.2.1 Xác định một tinh thần thống nhất cho BLTTDS

81

3.2.2 Nâng cao sự chủ động tranh tụng của các đương sự khi tham gia
vào giải quyết tranh chấp KD – TM

82

3.2.3 Đơn giản hóa thủ tục tố tụng khi bị đơn, người liên quan không
cung cấp chứng cứ hoặc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án

88

3.2.4 Xây dựng thủ tục rút gọn áp dụng cho những tranh chấp KD –
TM đơn giản


3.4.2 Công bố tất cả các bản án đã xét xử một cách rộng rãi

103

KỂT LUẬN

106

TÀI LIỆU THAM KHẢO

108

3


DANH MỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

2

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự


8

HTND

Hội thẩm nhân dân

9

KD – TM

Kinh doanh, thương mại

10

LATS

Luận án tiến sĩ

11

QPPL

Quy phạm pháp luật

12

TAND

Tòa án nhân dân


Nước ta đang đứng trên đà phát triển và hội nhập sâu rộng về kinh tế.
Một xã hội có nền kinh tế càng phát triển thì tranh chấp càng xảy ra nhiều,
phức tạp về tính chất và đa dạng về nội dụng. Tranh chấp KD – TM là một hệ
quả tất yếu của quá trình vận động các nguồn lực của các cá nhân, tổ chức vào
hoạt động kinh doanh, thương mại. Khi tranh chấp xảy ra, các bên cần có cơ
chế để giải quyết tranh chấp mở đường cho sự hợp tác và phát triển. Tòa án là
một trong những phương thức giải quyết tranh chấp như thế.
Trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cải cách tư pháp mạnh mẽ nhằm đáp
ứng nhu cầu phát triển của xã hội, TAND cấp huyện đã được lựa chọn là khâu
cải cách đột phá về thẩm quyền. Trước đây chỉ những tranh chấp nhỏ, ít phức
tạp mới thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TAND cấp huyện. Hiện
nay, TAND cấp huyện đã được mở rộng thẩm quyền theo xu hướng xét xử sơ
thẩm chủ yếu tất cả các tranh chấp KD – TM. Trước hoàn cảnh đó, TAND
cấp huyện đang đứng trước những thách thức to lớn cả về mô hình tổ chức,
nhân sự lẫn cơ sở vật chất để thực hiện được nhiệm vụ mới.
Những thách thức đặt ra sẽ là cơ hội để TAND cấp huyện nâng cao
năng lực, nhưng đồng thời cũng là vật cản con đường bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của doanh nhân nếu không có những biện pháp tháo gỡ phù hợp.
Với lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG
MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN để làm luận văn thạc sĩ của
mình.

5


2. Mục đích nghiên cứu mà luận văn đặt ra là:
- Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giải quyết tranh chấp
KD – TM bằng Tòa án
- Đánh giá thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giải quyết

4. Bố cục của luận văn
Luận văn có bố cục gồm 3 chương:
i)

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp KD – TM và giải
quyết tranh chấp KD – TM bằng con đường Tòa án.

ii)

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp KD – TM tại TAND
cấp huyện hiện nay.

iii)

Chương 3: Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
KD – TM tại TAND cấp huyện.
Với trình độ của tác giả còn hạn chế, đề tài luận văn lại liên quan đến

nhiều lĩnh vực nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, tác giả
cũng đã nỗ lực cố gắng trình bầy các ý tưởng của mình một cách có hệ thống,
làm rõ sự ảnh hưởng của các yếu tố thực tiễn đến quá trình giải quyết quá
trình giải quyết tranh chấp KD – TM tại TAND cấp huyện. Hy vọng luận văn
sẽ giúp ích đôi chút cho công cuộc cải cách tư pháp đang diễn ra và là tài liệu
hữu ích cho những người đang nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến đề tài.

7


Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP KD – TM BẰNG CON ĐƢỜNG TÒA ÁN

Theo nghĩa thông thường của từ, tranh chấp KD – TM có thể được hiểu là
tranh chấp về KD – TM hoặc tranh chấp trong KD – TM. Và như vậy, có hai
khái niệm nhỏ cần làm rõ là khái niệm tranh chấp và khái niệm KD – TM trước
khi đi làm rõ khái niệm tranh chấp KD – TM.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, Tranh chấp được hiểu là “Đấu
tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền
lợi giữa hai bên” [1, 66, tr 1024]
Theo khoản 2 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì: “Kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi”
Khoản 1 điều 3 Luật thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác”.
Với cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương
mại, có nhiều nội hàm trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung
ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm ... Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh
doanh và hoạt động thương mại là điều không thể. Có lẽ vậy nên BLTTDS đã
tìm cách dung hòa giữa hai hoạt động này bằng cách gọi chung là hoạt động kinh
doanh, thương mại.
Như vậy, có thể quan niệm tranh chấp KD – TM là những mâu thuẫn, bất
đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số
hoặc toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các
dịch vụ trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác. Một
cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp KD – TM là những mâu thuẫn,
bất đồng về quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động KD – TM.
Cách định nghĩa như trên có hạn chế là tuy chỉ ra được bản chất của tranh
chấp KD – TM là mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh khi tham gia hoạt động KD –


TM cần đáp ứng được một số yêu cầu như sau:
-

Đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể
10


-

Giữ gìn uy tín, bí mật thương mại của các bên trên thương trường

-

Không cản trở hoạt động kinh doanh, chu kỳ sản xuất

-

Nhanh chóng và khôi phục sự tín nhiệm của các bên trong kinh doanh

1.2

Đặc điểm giải quyết tranh chấp KD – TM bằng con đƣờng Tòa án
Khi tranh chấp xảy ra, có rất nhiều con đường giải quyết mà các bên có

thể lựa chọn. Con đường nào ngắn nhất, ít tốn kém nhất có thể khôi phục lại
được các quyền, lợi ích hợp pháp của mình sẽ được các bên lựa chọn. Trên thực
tế, tranh chấp KD – TM có thể được giải quyết bằng những con đường như
Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài, Tòa án.
Tòa án là thiết chế mang quyền lực tài phán cao nhất. Quyền lực tài phán
của Tòa án là đương nhiên xuất phát từ chức năng bảo vệ pháp luật của cơ quan

1.3 Một số tiêu chí để đánh giá hiệu quả giải quyết tranh chấp KD – TM
bằng Tòa án.
Muốn nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại, trước tiên cần xác định hiện nay hiệu quả của việc giải quyết tranh
chấp KD – TM đến đâu. Từ đó, tìm được các nguyên nhân và giải pháp để nâng
cao hiệu quả. Để có thể đánh giá hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp KD –
TM cần có những tiêu chí cụ thể và khoa học. Chính vì thế, nghiên cứu các tiêu
chí để đánh giá hiệu quả cũng là điều hết sức quan trọng để xác định thực trạng
của việc giải quyết tranh chấp KD – TM.
Hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp được đánh giá trên các giác độ: (i)
nhìn từ phía Tòa án; (ii) nhìn từ phía các đương sự và (iii) Nhìn từ phía cộng
đồng doanh nhân.
1.3.1 Nhìn từ phía Tòa án.
Tòa án, trong giới hạn bản luận văn này, là cơ quan có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp mà các các bên cầu viện tới. Do đó, trong quá trình giải
quyết tranh chấp, Tòa án là cơ quan giữ vị trí trung tâm, chủ động tiến hành các
hoạt động tố tụng. Sản phẩm cuối cùng mà Tòa án đưa ra là phương án giải
quyết tranh chấp cho các bên. Phương án này có thể đạt được thông qua sự hòa
giải, cũng có thể do sự phán quyết bắt buộc của Tòa án. Nhưng, dù bằng cách

12


nào, phương án này cũng thể hiện một cách chính xác nhất hiệu quả của quá
trình giải quyết tranh chấp KD – TM.
Để đánh giá các sản phẩm đầu ra của Tòa án trong quá trình giải quyết
tranh chấp KD – TM, có thể đưa ra hai chỉ tiêu là số lượng và chất lượng.
a. Chỉ tiêu số lƣợng
Chỉ tiêu số lượng là một chỉ tiêu đánh giá khá đơn giản, đó là đánh giá
thông qua tỷ lệ các tranh chấp mà Tòa án đã giải quyết trong một đơn vị thời

chấp đã được giải quyết. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hài lòng của các bên
trong quan hệ tranh chấp đối với phương án mà Tòa án đưa ra. Nếu mức độ hài
lòng của họ tốt hoặc vừa phải, chắc chắn họ sẽ không kháng cáo phán quyết của
Tòa và ngược lại.
(ii): Tỷ lệ các tranh chấp bị giải quyết lại bởi cấp phúc thẩm hoặc giám
đốc thẩm theo chiều hướng hủy án sơ thẩm hoặc sửa cơ bản án sơ thẩm. Chỉ tiêu
này có thể nói lên các “sản phẩm lỗi” của quá trình giải quyết. Các sản phẩm lỗi
này đã bị phát hiện và khắc phục.
(iii): Tỷ lệ các phương án không thể thi hành trên tổng số các phương án
giải quyết tranh chấp. Chỉ tiêu này phản ánh những “sản phẩm” tuy đã được đưa
ra nhưng không phủ hợp với tình hình thực tế, không thể “tiêu thụ” được.
c. Đánh giá kết hợp có lƣu ý sự khác biệt
Cũng cần nhìn nhận rằng, sản phẩm đầu ra của Tòa án là các dịch vụ cung
cung cấp không đồng đều. Có những vụ tranh chấp KD – TM rất đơn giản nhưng
cũng có những vụ tranh chấp KD – TM hết sức phức tạp. Nếu chỉ lấy đơn thuần
chỉ tiêu cả số lượng và chất lượng của những vụ án đơn giản để so sánh với các
vụ án phức tạp là điều không thể. Do đó, trong sự đánh giá, cần phải có sự phân
vùng. Những khu vực (kể cả khu vực mang tính địa lý và khu vực của nền kinh
tế) có thể xảy ra các tranh chấp KD – TM phức tạp đòi hỏi phải có sự lưu ý trong
đánh giá.
Cần đánh giá hiệu quả dựa trên sự kết hợp của cả 2 yếu tố chất lượng và
số lượng, không nên quá coi trọng bất cứ một mặt nào. Bởi lẽ, nếu chỉ coi trọng
số lượng thì sẽ dẫn tới hiện tượng chạy đua mà bỏ qua chất lượng của việc giải
quyết và như vậy thì chỉ tạo ra được sự hào nhoáng các số liệu ở bề nổi, còn bản
14


thân kết quả giải quyết tranh chấp thì lại không được quan tâm. Chỉ coi trọng vào
số lượng sớm muộn cũng dẫn tới sự suy giảm số lượng vì chất lượng không có
thì không thể tạo ra niềm tin của các bên giải quyết tranh chấp.

doanh nếu tranh chấp không xảy ra (thường đó chính là giá trị mối lợi mà hợp
đồng mang lại);
C: là chi phí mà doanh nhân phải bỏ ra để theo đuổi vụ kiện.
Các khoản chi phí mà Doanh nhân bỏ ra để theo đuổi vụ kiện bao gồm:
- Chi phí cơ hội là giá trị cơ hội tốt nhất đã bị bỏ qua khi họ theo đuổi vụ
kiện (C1);
- Chi phí đi lại để theo kiện, thuê luật sư, chuẩn bị các tài liệu, giấy tờ để
có thể được tòa chấp nhận (C2)
- Án phí phần có thể bị bác yêu cầu và phí thi hành án nếu bên phía đối
tác không tự nguyện chấp hành phán quyết của Tòa (C3)
- Các chi phí “ngầm” và các chi phí khác mà doanh nghiệp có thể phải bỏ
ra để thúc đẩy nhanh chóng vụ kiện (C4). Đối với nền tư pháp minh bạch và các
quan Tòa có quyền độc lập thì chi phí này không có hoặc rất thấp, tuy nhiên ở
Việt nam thì điều này không thể không có.
Như vậy, tổng các khoản chi phí C sẽ là:

C = C1 + C2 + C3 +C4
Cuối cùng, thực ra L sẽ được tính trực tiếp bởi :

L = G – (C1 + C2 + C3 +C4 )
Căn cứ vào khoản lợi ích L này để các doanh nhân quyết định lựa chọn có
dùng Tòa án làm phương thức giải quyết tranh chấp KD – TM hay không hoặc
dùng phương thức khác (như Trọng tài, hoặc vận động gây áp lực từ phía các cơ
quan khác như công an, như ủy ban, các cơ quan hành chính quyền lực khác …)
hoặc từ bỏ khoản lợi ích này để đi kiếm cơ hội khác nếu nó quá nhỏ.
Tỷ lệ Lợi ích / chi phí (L/C) sẽ biểu hiện hiệu quả giải quyết tranh chấp
của Tòa án. Nếu tỷ lệ này càng cao, có nghĩa là hiệu quả giải quyết càng lớn và
ngược lại.

16


17


thực sự qua lòng tin và sự tín nhiệm của giới doanh nhân đối với uy tín và
phương án giải quyết của Tòa.
1.4

Những yếu tố ảnh hƣởng tới việc giải quyết tranh chấp KD – TM bằng
Tòa án
Để có thể nhìn nhận đúng đắn và có những tác động hợp lý nhằm nâng

cao hiệu quả GQTC KD-TM bằng con đường Tòa án, cần đánh giá đúng những
yếu tố tác động vào quá trình GQTC KD-TM. Khi đó, ta sẽ có đủ những cơ sở và
phương hướng tác động vào từng khâu, từng quá trình mà không bị sợ sai lầm.
Đồng thời, dưới sự phân tích các yếu tố tác động cả từ bên trong và bên ngoài,
chúng ta có cái nhìn hệ thống, tìm ra được các chi tiết còn yếu kém hoặc không
phù hợp để tạo ra sự đồng bộ, hài hòa cho cả hệ thống.
1.4.1 Các yếu tố tác động từ bên trong
Nhìn trong nội bộ hệ thống thì các yếu tố tác động bên trong gồm có: các
quy định về luật nội dung, các quy định về luật thủ tục, các tài liệu chứng cứ mà
các bên có thể xuất trình, năng lực của nguời giải quyết.
Thử tượng tượng một cách so sánh giữa giải quyết tranh chấp KD-TM với
quá trình chế tạo một sản phẩm. Với sự đơn giản nhất, làm ra một sản phẩm bị
ảnh hưởng bới những yếu tố như là: các nguyên vật liệu đầu vào; máy móc thiết
bị để gắn kết những nguyên liệu đó thành sản phẩm; công nghệ (quy trình) để
sản xuất ra sản phẩm; sau cùng là tay nghề của người thợ chế tạo ra sản phẩm
đó. Tất cả các yếu tố này có tác động một cách đồng thời tới chất lượng đầu ra
của sản phẩm. Nếu nguyên vật liệu không tốt hoặc máy móc/thiết bị hư cũ, hoặc
công nghệ lạc hậu hoặc tay nghề người thợ yếu kém đều ảnh hưởng tới chất

quyết nhanh chóng, vừa có tác dụng đảm bảo được chất lượng đầu ra;
(iv): Năng lực, trình độ của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân sẽ là trung
tâm của sự kết nối và đưa ra phương án giải quyết tranh chấp tối ưu.
1.4.2 Các yếu tố tác động bên ngoài
Ngoài những yếu tố tác động từ bên trong quá trình giải quyết tranh chấp
KD – TM, còn có những tác động từ phía bên ngoài tới quá trình giải quyết tranh
chấp. Các yếu tố đó là sự phát triển của hoạt động kinh doanh – thương mại;
quan điểm của giới doanh nhân về việc giải quyết tranh chấp KD_TM bằng con
19


đường Tòa án, hệ thống các cơ quan bổ trợ tư pháp và các điều kiện vật chất
khác.
Những yếu tố này có tác động không trực tiếp nhưng lại gián tiếp tạo ra
môi trường lành mạnh để quá trình giải quyết tranh chấp có thể diễn ra thuận lợi
hoặc khó khăn.
(i): Sự phát triển của nền kinh doanh – thƣơng mại
Sự phát triển của nền kinh doanh thương mại tạo ra sự muôn mặt trong
quá trình GQTC KD-TM. Thực tiễn chỉ ra rằng, nền kinh tế - thương mại phải
phát triển đến một mức nhất định thì hoạt động GQTC KD-TM mới trở thành
một hoạt động giải quyết tranh chấp đặc thù, thoát khỏi quá trình giải quyết các
tranh chấp dân sự thông thường.
Đối với nền kinh tế kém phát triển và mang tính tự cung, quan hệ hợp
đồng dường như không tồn tại. Các loại hợp đồng chỉ đơn thuần với những nội
dung như vay nợ, mua bán. Sự phát triển của nền kinh tế đã dẫn tới vô vàn các
hình thức do Doanh nhân sáng tạo như tín dụng, đầu tư, sở hữu trí tuệ …Những
hình thức sáng tạo đó đã mang lại cho hoạt động giải quyết tranh chấp vẻ mặt
mới, đặc thù hơn và cũng phức tạp hơn.
(ii): Quan điểm của giới Doanh nhân đối với việc giải quyết tranh
chấp bằng con đƣờng Tòa án

với các phương thức giải quyết tranh chấp khác.
(iii): Hệ thống các cơ quan bổ trợ tƣ pháp đối với việc giải quyết
tranh chấp KD-TM
Theo từ điển Tiếng Việt, từ Bổ trợ có nghĩa là “giúp thêm vào, phụ thêm
vào cho đầy đủ hơn, tốt hơn” [3, 66, tr 78]. Như vậy, Bổ trợ tư pháp có thể hiểu
là hoạt động giúp thêm vào để bảo vệ pháp luật được tốt hơn. Nghĩa của từ là
như vậy, nhưng trong giới hạn của đề tài này, hoạt động Bổ trợ tư pháp chỉ được
tác giả đề cập đến trong phạm vi hẹp là hoạt động giúp thêm cho Tòa án khi giải
quyết các tranh chấp.
Tư pháp hiện đại chỉ ra rằng, hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp luôn gắn
liền với nhau. Nhà nước đề cao việc bảo vệ pháp luật bao nhiêu thì cũng đề cao
hoạt động Bổ trợ tư pháp bấy nhiêu. Một trong những đặc trưng của Nhà nước
21


pháp quyền là luôn tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp và hoạt động bổ trợ tư
pháp song song cùng phát triển.
Sự tồn tại của các cơ quan bổ trợ tư pháp không những giúp cho Tòa án
mà còn giúp cho các công dân bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích của
mình. Các hoạt động bổ trợ tư pháp sẽ góp phần làm bôi trơn và hỗ trợ cho
guồng máy giải quyết tranh chấp được chạy thông suốt.
Hoạt động đó có thể được kể ra là:
- Hoạt động giám định, định giá
- Hoạt động luật sư và tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý
- Hoạt động thi hành các bản án, quyết định của Tòa án
- Hoạt động phát mại tài sản
Đó là một số các hoạt động bổ trợ tư pháp mang tính cổ điển và thường
xuyên hỗ trợ cho hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án. Tòa án, về bản
chất, là cơ quan có rất ít sức mạnh vật chất. Sức mạnh của nó nằm ở trí tuệ, ở
phán đoán và lòng yêu công bằng. Vì thế, để cho các phán quyết của Tòa án,

Điều kiện về phòng xử, phòng hòa giải, phòng làm việc, các công cụ lao
động không chỉ ảnh hưởng đến năng suất lao động của Thẩm phán mà còn ảnh
hưởng cả tới các đương sự, và tồi tệ hơn, có thể làm suy giảm đi sự uy nghiêm
của hoạt động tố tụng.
Do đó, nâng cao các điều kiện về cơ sở vật chất của Tòa án cũng là một
trong những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến việc giải quyết tranh chấp.

23


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI TẠI TAND CẤP HUYỆN HIỆN NAY
2.1 Một số khó khăn khi áp dụng thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp KD
– TM theo quy định hiện hành.
Làm việc chuyên nghiệp hóa cần phải có quy trình. Một quy trình làm
việc hợp lý sẽ tổ chức quá trình lao động khoa học và nâng cao hiệu suất làm
việc. Đó là ý nghĩa mang tính quyết định của thủ tục tố tụng trong việc giải quyết
tranh chấp KD – TM. Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa quy trình, Luật tố tụng còn
đảm bảo tố quyền của người dân và nâng cao dân chủ trong hoạt động công
quyền. Vì thế, nghiên cứu và hoàn thiện thủ tục tố tụng góp phần quan trọng
trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp KD – TM, đảm bảo các
quyền và lợi ích cho người dân.
BLTTDS năm 2004 ra đời đã có những cải thiện đáng kể về cả về thủ tục
tiến hành tố tụng và triết lý ẩn sau những thủ tục đó (xem quy trình giải quyết tại
Sơ đồ 1). Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, trên thực tế BLTTDS vẫn còn
những vướng mắc cần khắc phục.
2.1.1 Về Quyền khởi kiện
Quyền khởi kiện (Tố quyền) chính là khả năng thừa nhận đối với các chủ
thể được cầu viện đến công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền và lợi ích
chính đáng. Các quyền của chủ thể đuợc quy định trong luật nội dung là cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status