LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết các tranh chấp quyền
sử dụng đất tại Tòa án nhân dân ở nước ta
hiện nay
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo định hướng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là chủ trương lớn của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
dân sự. Do số lượng các vụ án tăng, tính chất ngày càng phức tạp và do nhiều nguyên
nhân khác nhau mà hoạt động xét xử của Tòa án còn bộc lộ những hạn chế nhất định như
để quá thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật, tỷ lệ các bản án, quyết định bị sửa,
hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và do áp dụng sai pháp luật về nội dung, về
thủ tục tố tụng vẫn còn nhiều. Tuy số bản án bị hủy, sửa không nhiều nhưng là nhược
điểm lớn nhất trong hoạt động xét xử. Đáng chú ý có một số vụ án tranh chấp về nhà, đất
kéo dài qua nhiều năm, nhiều cấp xét xử làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Vẫn còn tình trạng một số bản án giải quyết tranh chấp nhà, đất tuyên
không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự. Trong quá trình giải quyết
vụ án, do việc nghiên cứu các văn bản pháp luật chưa đầy đủ dẫn đến việc đánh giá
chứng cứ thiếu khách quan toàn diện, áp dụng văn bản pháp luật không đúng dẫn đến
phán quyết sai lầm hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp trên phải
hủy hoặc sửa án của Tòa án cấp dưới. Trước tình hình đó ngành Tòa án nhân dân đã tập
trung mọi nguồn lực đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết các loại vụ án,
đặc biệt là các vụ án dân sự đảm bảo thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật, hạn chế
đến mức thấp nhất các bản án, quyết định của Tòa án có sai lầm nghiêm trọng, khắc phục
việc áp dụng sai pháp luật; tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy
định của pháp luật liên quan đến công tác xét xử và tổ chức hoạt động của ngành Tòa án
nhân dân. Tiếp tục củng cố và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo
đức và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp. Hầu
hết các bản án, quyết định của Tòa án được ban hành đúng pháp luật, khách quan,thấu
tình đạt lý đúng thời hạn luật định và có tính giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật trong
quần chúng nhân dân. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của ngành Tòa
án nhân dân đã và đang đặt ra những yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài để không ngừng
nâng cao chất lượng xét xử trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp ở nước ta theo
đúng đường lối của Đảng. Vì vậy, chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử
của Tòa án là một trong những yếu tố quan trọng có tính chất quyết định chất lượng xét
xử của Tòa án nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay thì
về mặt lý luận và thực tiễn có nhiều vấn đề đặt ra cần nghiên cứu, trong đó có vấn đề áp
luật cũng có những bài viết nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật. Các công trình nêu
trên hoặc nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân nói
chung hoặc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, các vụ án dân sự
của Tòa án nhân dân ở một số địa phương cụ thể. Cho đến nay chưa có một công trình
nghiên cứu nào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống dưới góc độ lý luận
chung về Nhà nước và Pháp luật vấn đề áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các
tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân - loại tranh chấp gay go nhất, phức tạp
nhất trong tất cả các tranh chấp về dân sự.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Về đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận áp dụng pháp luật vào việc
giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân, nghiên cứu thực trạng
áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên nhân
và những bất cập trong việc áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng việc áp dụng các văn bản pháp luật vào việc giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất.
* Về phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành lý luận Nhà nước và
pháp luật, luận văn chỉ bao gồm những nội dung lý luận, thực tiễn có liên quan đến vấn
đề áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung trong việc giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân.
Giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất là một lĩnh vực rộng với nhiều cơ
quan khác có thẩm quyền tham gia. Tuy nhiên, với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả
chỉ đi sâu nghiên cứu về việc áp dụng các văn bản pháp luật trong việc giải quyết các tranh
chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân trong đó đi sâu phân tích nguyên nhân và đưa
ra các giải pháp khắc phục.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Về mục đích:
Luận văn nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng
Đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân.
Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng áp dụng
pháp luật của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất.
7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận phục vụ
yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong
hoạt động xét xử nói chung và trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại
Tòa án nhân dân nói riêng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Kết quả nghiên cứu
của luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy
khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh Tư pháp nói riêng. Nội dung của luận
văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng
nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với các Thẩm phán dân sự, giải quyết các vụ án tranh
chấp quyền sử dụng đất và các vụ án có liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
chương 1
cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng
áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án
nhân dân
1.1. Khái quát những vấn đề chung về áp dụng pháp luật
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hợp các quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được cơ
quan nhà nước và người có thẩm quyền ban hành theo trình tự nhất định với các hình
thức nhất định nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hình thức thể hiện của pháp luật xã hội
là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức, cá nhân và mọi công dân
trong xã hội.
Thi hành pháp luật (còn gọi là chấp hành pháp luật): Các chủ thể pháp luật thực
hiện nghĩa vụ pháp lý chủ động, tích cực bằng các hành vi cụ thể mà pháp luật quy định
được thực hiện trong những hoàn cảnh, những quan hệ pháp luật cụ thể. Ví dụ: Thực hiện
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
đang sử dụng đất, thực hiện các quy định về sinh đẻ có kế hoạch, thực hiện các nghĩa vụ
chăm sóc, nuôi dưỡng con cái của cha mẹ v.v Chủ thể thực hiện hình thức thi hành
pháp luật này là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các cá nhân, tổ chức và
mọi công dân trong xã hội.
Sử dụng pháp luật: Các chủ thể thực hiện pháp luật, chủ động sử dụng các quyền
thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình.
Hình thức thực hiện pháp luật này khác hai hình thức tuân thủ pháp luật và chấp hành
pháp luật là các chủ thể quan hệ pháp luật có quyền thực hiện hoặc không thực hiện các
quyền của mình, không bị bắt buộc phải thực hiện như 2 hình thức tuân thủ pháp luật và
chấp hành pháp luật. Ví dụ: Quyền khởi kiện hay không khởi kiện vụ án dân sự của cá
nhân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, quyền chuyển nhượng hay không
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở của mình.v.v Chủ thể thực hiện hình thức sử dụng
pháp luật là tất cả các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, cá nhân, tổ chức và mọi
công dân trong xã hội.
áp dụng pháp luật: Là một trong những hình thức thực hiện pháp luật và bao giờ
cũng có sự tham gia của cơ quan nhà nước, cán bộ Nhà nước có thẩm quyền. áp dụng
pháp luật là một trong những hình thức của thực hiện pháp luật. Nhà nước thông qua các
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền để ban hành các quyết định
làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Thông qua đó,
hoạt động áp dụng pháp luật bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng, thi hành nghiêm
chỉnh và thống nhất: các quyền của chủ thể pháp luật được thực hiện và được bảo vệ trên
thực tế; các hành vi vi phạm pháp luật được xử lý nghiêm minh và kịp thời. Hoạt động áp
dụng pháp luật diễn ra hàng ngày trong các cơ quan nhà nước và chỉ do nhân viên nhà
pháp luật quy định. áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, là thủ tục bắt buộc
để các cơ quan nhà nước thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp
luật; khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các
chủ thể hoặc khi nhà nước cần phải can thiệp để thực thi các quyền của chủ thể theo quy
định của pháp luật. áp dụng pháp luật có vai trò rất to lớn và rất quan trọng trong việc
thực hiện quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh
tế,văn hóa, an ninh quốc phòng.
1.1.2. Đặc điểm của việc áp dụng pháp luật
áp dụng pháp luật có các đặc điểm chủ yếu sau:
- áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước. Hoạt động
áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền tiến
hành và mỗi cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được giao một số hoạt động
áp dụng pháp luật nhất định trong phạm vi thẩm quyền của mình. Trong một số trường
hợp cá biệt, một số tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền cũng có thể tiến hành áp
dụng pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn
phương của các cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào
ý chí của những chủ thể có liên quan. Trường hợp cần thiết, áp dụng pháp luật được bảo
đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Trong quá trình áp dụng pháp luật các
cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền phải xem xét, cân nhắc thận trọng và
dựa trên những quy phạm pháp luật đã được xác định để ra văn bản áp dụng pháp luật cụ
thể. Văn bản áp dụng pháp luật là hình thức thể hiện chính thức của hoạt động áp dụng
pháp luật; là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền xây dựng, được Nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở những quy
phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ
chức hoặc xác định những biện pháp, trách nhiệm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp
luật.
- áp dụng pháp luật là hoạt động theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy
định. Pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên tham gia trong quá trình áp dụng pháp luật. Các cơ quan nhà nước, người có
cảnh điều kiện của vụ việc thực tế đã xảy ra.
Trước khi quyết định áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền phải điều tra, xem xét, kể cả các biện pháp chuyên môn đặc biệt như xem xét thực
địa, trưng cầu giám định, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để làm sáng tỏ những
sự việc có liên quan. Khi điều tra, xem xét phải đảm bảo sự khách quan, toàn diện và đầy
đủ những tình tiết của vụ việc; phải nghiên cứu, xác định vụ việc đó thực sự có ý nghĩa
pháp lý hay không, đánh giá được tầm quan trọng về mặt pháp lý của nó; tuân thủ các
quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc. Các cơ quan áp dụng pháp luật phải
quan tâm không chỉ kết quả việc xem xét đánh giá sự việc khách quan mà phải xác minh
kết quả đó có mang tính chân lý và đúng pháp luật hay không?
Trên cơ sở đó xem xét có cần phải áp dụng pháp luật đối với vụ việc cụ thể hay
không? Nếu cần thì chuyển sang giai đoạn tiếp theo của quy trình.
* Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp, phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa
của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng pháp luật.
Trước hết, phải xác định ngành luật điều chỉnh để đi đến lựa chọn quy phạm
pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc. Quy phạm được lựa chọn phải từ các văn bản
quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra sự việc cần áp dụng. Trong
trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi
tố) thì áp dụng theo quy định đó. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy
định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy phạm trong văn bản pháp luật có
hiệu lực pháp lý cao hơn. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật không quy
định trách nhiệm pháp lý hoặc quy trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra
trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng quy phạm pháp luật của văn bản mới.
Khi đã lựa chọn được quy phạm pháp luật cụ thể, cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền phải tư duy khoa học, logic, biện chứng làm sáng tỏ, nhận thức đúng đắn nội
dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật.
* Ban hành văn bản áp dụng pháp luật. Giai đoạn này là quan trọng nhất của quá
trình áp dụng pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật cá biệt hóa, cụ thể hóa những quyền
và nghĩa vụ chung chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật để ấn định những
Cuộc sống xã hội hàng ngày có không ít những sự kiện, những quan hệ xảy ra
trong thực tế liên quan tới lợi ích cá nhân, tổ chức cần phải được pháp luật điều chỉnh
ngay lập tức để đảm bảo lợi ích của công dân, các tổ chức và của Nhà nước, song pháp
luật không thể điều chỉnh hết các quan hệ xã hội để có những quy phạm pháp luật mới,
điều chỉnh vấn đề này đòi hỏi phải có thời gian. Mặt khác, rất nhiều sự kiện xảy ra đột
xuất, nhất thời nên cũng chưa hẳn đã cần đến các quy phạm pháp luật mới. Giải pháp cho
những tình huống này là áp dụng pháp luật tương tự để giải quyết. Tuy nhiên, việc áp
dụng pháp luật tương tự phải rất hạn chế, chỉ khi thật sự cần thiết mới nên áp dụng. Việc
áp dụng pháp luật tương tự phải xuất phát từ lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của
công dân, đồng thời phải đảm bảo những yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Không
được tùy tiện áp dụng nguyên tắc tương tự.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và quy trình áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân
1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân
Theo pháp luật hiện hành thì xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng riêng có
của Tòa án nhân dân. Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là hoạt động trung tâm và
chủ yếu của hoạt động tư pháp. áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án là
một nội dung cụ thể, đặc biệt và quan trọng của hình thức áp dụng pháp luật nói chung.
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân hiện nay là
việc thực hiện pháp luật của Thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong quá trình xác định sự
thật khách quan của vụ án để ban hành các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phán xét, phân xử đúng, sai, xác định tính có căn cứ hay
không có căn cứ, có hợp pháp hay không hợp pháp đối với các tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật. Xét xử là chức năng đặc biệt của Tòa án, "Tòa án
nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án
khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
[20, tr. 3].
quyết được thì họ có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền để
yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sau khi
nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và giải quyết theo
trình tự mà pháp luật tố tụng dân sự quy định như thẩm tra, xác minh các tình tiết liên
quan đến vụ án; lựa chọn quy phạm pháp luật điều chỉnh để giải quyết vụ án và cuối cùng
là ra bản án, quyết định buộc các đương sự thi hành bằng các hình thức tự nguyện thi
hành hoặc có sự cưỡng chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự.
áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất, ngoài
cơ quan Tòa án còn có sự tham gia của cơ quan Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án dân
sự cùng giữ vai trò là chủ thể của hoạt động áp dụng pháp luật. Nếu thiếu sự tham gia của
các chủ thể này thì có thể sẽ dẫn tới việc áp dụng pháp luật không chính xác, khách quan
và triệt để. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân luôn là chủ thể chủ yếu trong việc áp dụng pháp
luật để giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất.
Qua sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân là hình thức thực hiện pháp
luật mang tính tổ chức, tính quyền lực của Nhà nước được thực hiện thông qua Hội đồng
xét xử, do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chủ trì nhằm xác định sự thật khách quan, phân
xử đúng, sai, xác định tính có căn cứ hay không có căn cứ để ban hành các bản án, quyết
định nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giải quyết các tranh
chấp quyền sử dụng đất đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự góp phần
ổn định trật tự xã hội và củng cố mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án
nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân và tổ chức, góp phần to lớn
vào việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do
dân, vì dân.
1.2.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân
áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa
quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện thì Tòa án nhân dân cũng yêu cầu các chủ thể này
cung cấp những tài liệu, chứng cứ cần thiết và Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập những
chứng cứ trong trường hợp cần thiết do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong nhiều trường
hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ, nhất là các chứng cứ có liên quan đến
việc quản lý hồ sơ của các cơ quan nhà nước thì Tòa án phải làm thay họ.
Việc quy định nhiệm vụ xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân trong
giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất như trên là cơ sở để Tòa án nhân dân thực hiện
tốt nhiệm vụ tố tụng của mình, mặt khác tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng
khác thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Thực trạng ở
nước ta hiện nay trình độ dân trí nói chung, sự hiểu biết pháp luật nói riêng của các
đương sự chưa cao, cho nên Tòa án nhân dân cần phải tích cực giúp đỡ, hướng dẫn
đương sự hiểu rõ quyền lợi hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thực hiện tốt nghĩa vụ chứng
minh.
- Hoạt động áp dụng pháp luật nói chung được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn
phương của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể
bị áp dụng pháp luật. Trong quan hệ pháp luật dân sự, chủ thể chủ yếu của tranh chấp quyền
sử dụng đất là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình. Xuất phát trừ nguyên tắc bình đẳng và quyền
tự định đoạt của các đương sự, Tòa án nhân dân với vai trò là chủ thể chính của hoạt động áp
dụng pháp luật chỉ là "trọng tài" trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự.
Trước khi đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa, Tòa án nhân dân phải tiến hành hòa giải, chỉ khi
nào các bên đương sự (với sự trung gian hòa giải của Tòa án nhân dân) không tự giải quyết
được tranh chấp với nhau thì Tòa án nhân dân mới đưa ra phán quyết trên cơ sở pháp luật để
bảo vệ quyền và các lợi ích chính đáng của các đương sự buộc bên vi phạm phải thực hiện.
Khi các đương sự không tự giác thi hành phán quyết của Tòa án nhân dân thì mới thực hiện
sự cưỡng chế của cơ quan thi hành án.
- Khi áp dụng pháp luật đối việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất,
pháp luật có quy định nguyên tắc áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật. Đây là
đặc điểm riêng biệt, khác hẳn với áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các loại vụ án
khác. Nguyên tắc này xuất phát từ tính đa dạng, phong phú, phức tạp của các quan hệ dân
tin được thu thập qua nghiên cứu hồ sơ không kết nối thành một thể thống nhất. Để có sự
đánh giá mang tính khách quan và toàn diện, cần có phương pháp nghiên cứu đúng đắn.
Người Thẩm phán sẽ rất dễ ràng phát hiện các thông tin, các tình tiết chủ yếu của vụ việc
thông qua hồ sơ vụ án. Từ đó, việc phân loại đánh giá chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp,
chứng cứ có ý nghĩa quyết định, chứng cứ có ý nghĩa bổ trợ, liên quan…cũng sẽ dễ dàng và
thuận lợi.
Thông thường, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất cần
được tiến hành từ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ của bên nguyên đơn trước.
Xuất phát từ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo Tòa án xác định cụ thể
vấn đề họ yêu cầu, các tài liệu kèm theo có độ tin cậy hay không, còn thiếu những tài liệu
gì, mức độ chứng minh của của các tài liệu này như thế nào. Người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan, nhân chứng của bên nguyên đơn, bên bị đơn đã khai báo những gì…Cũng
tương tự, việc nghiên cứu, xem xét các tài liệu chứng cứ liên quan phía bị đơn nhằm làm
sáng tỏ lý lẽ, chứng cứ phản bác yêu cầu của nguyên đơn có hay không có cơ sở; mức độ
chứng minh và độ tin cậy của các tài liệu chứng cứ do bị đơn xuất trình ra sao, có cần
phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ mới hay không Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc sẽ
giúp cho người Thẩm phán có được sự tự tin và tính chủ động hơn, giúp việc áp dụng
pháp luật có chất lượng tốt hơn.
* Giai đoạn thứ hai: Tìm lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với vấn đề cần
giải quyết của vụ việc
Tìm và lựa chọn quy phạm pháp luật là đối chiếu tình tiết sự việc xảy ra với quy
phạm pháp luật để điều chỉnh phù hợp. Có hay không có quy phạm pháp luật điều chỉnh?
quy pháp luật điều chỉnh còn hiệu lực không? nếu chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh
thì có quy phạm pháp luật nào gần giống để áp dụng tương tự hay không?
Trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung, trong việc giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng, việc tìm và lựa chọn quy phạm pháp luật để áp
dụng là một giai đoạn bắt buộc, có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm tính đúng đắn và
hợp pháp của quyết định khi ban hành. Hiện nay số lượng văn bản quy phạm pháp luật
liên quan lĩnh vực quản lý đất đai được Nhà nước ta ban hành là rất lớn để đáp ứng yêu
quyền sử dụng đất phải biết tổng hợp các tình tiết vụ việc một cách chính xác, lôgic từ
việc đối chiếu các chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ với các lời khai, tài liệu đã
được xem xét tại phiên tòa thì mới chọn được quy phạm pháp luật một cách chính xác để
ban hành bản án và quyết định một cách đúng đắn. Bản án, quyết định giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân phải đảm bảo khách quan, nghiêm minh,
đúng pháp luật, nhưng có tình, có lý, có tính thuyết phục lòng người; nội dung, hình thức
bản án phải theo đúng quy định của pháp luật. Cách lập luận, phân tích, đánh giá, nhận
định bằng lời văn trong sáng. Chất lượng của bản án, của quyết định là một trong những
thước đo rất quan trọng để đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật trong việc xét xử của
cơ quan Tòa án, đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn của người Thẩm phán.
1.3. Tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng áp dụng pháp
luật trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân
1.3.1. Các tiêu chí đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Tiêu chí đánh giá chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân bao gồm:
* Tiêu chí thứ nhất: Mức độ chính xác, đúng pháp luật, phù hợp với thực tiễn và
khả năng thi hành của bản án, quyết định của Tòa án nhân dân về giải quyết các tranh
chấp quyền sử dụng đất.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân về việc giải quyết các tranh chấp quyền
sử dụng đất là một loại văn bản áp dụng pháp luật, đòi hỏi phải được ban hành một cách
hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, có căn cứ pháp lý, phù hợp với thực
tiễn cụ thể của sự việc và có khả năng thi hành trên thực tế. Muốn vậy, nội dung, lý lẽ và
nhận định của bản án và quyết định của Tòa án nhân dân phải xuất phát từ sự nhận xét,
đánh giá khách quan sự việc, không thiên lệch vì bất cứ lý do gì để đưa ra những phán
quyết công bằng, phù hợp, thuyết phục được lòng người, có khả năng thi hành.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân trong giải quyết các tranh chấp quyền sử
dụng đất được ban hành đúng thẩm quyền, theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân
sự là một trong những nội dung quan trọng thể hiện tính hợp pháp của bản án, quyết định
Tính chính xác và tính khách quan trong các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân còn
biểu hiện ở việc chọn quy phạm pháp luật đúng, viện dẫn điều luật, giải thích nội dung
quy phạm pháp luật đầy đủ và chính xác; nếu như viện dẫn điều luật không đầy đủ, giải
thích, áp dụng pháp luật theo chủ quan của mình thì bản án, quyết định được ban hành
không còn khách quan, chính xác nữa.
Tính chính xác, khách quan của bản án, quyết định của Tòa án nhân dân thể hiện ở
khả năng tìm và lựa chọn quy phạm pháp luật, khả năng áp dụng chính xác pháp luật. Thực
tế cho thấy, pháp luật về đất đai cũng như pháp luật liên quan đến đất đai được các cơ quan
có thẩm quyền ban hành nhiều, liên tục để điểu chỉnh cho phù hợp với chính sách, pháp luật
của Nhà nước qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau, do đó đòi hỏi người Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân phải nghiên cứu, tìm tòi và lựa chọn chính xác văn bản pháp luật để áp dụng