z
LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng tín dụng trung &
dài hạn tại SGD NHNo&PTNT
lớn thoả mãn nhu cầu của khách hàng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển
kinh tế đất nước. Ngày nay ngân hàng đã trở thành một mắt xích quan trọng cấu
thành nên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế. Cùng với các ngành kinh tế khác,
ngân hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm
phát, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, tạo công ăn việc làm cho người lao động, phát
triển thị trường ngoại hối.
Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế đang trong thời kì mới chuyển đổi sang
cơ chế thị trường, môi trường kinh tế chưa ổn định, môi trường pháp lí đang dần
được thực hiện nên hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại đang gặp
nhiều khó khăn, nhất là chất lượng tín dụng trung – dài hạn chưa cao mà biểu hiện là
nợ quá hạn, nợ khó đòi lớn. Như vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài
hạn là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của ngành ngân hàng. Vấn đề càng trở nên cần
thiết và bức xúc với hệ thống NHNNo có thị trường tín dụng chủ yếu là khu vực
nông thôn.
Xuất phát từ quan điểm đó, qua thời gian khảo sát khảo sát thực tế tại SGD
NHNo kết hợp với những lí thuyết được trang bị tại nhà trường, em đã lựa chọn đề
tài : “ Nâng cao chất lượng tín dụng trung & dài hạn tại SGD NHNo&PTNT ”
mục đích là nghiên cứu và luận giải những vấn đề lí luận, thực tiễn để khẳng định :
Việc nâng cao chất lượng tín dụng trung & dài hạn là một nhu cầu cấp thiết để đất
nước từng bước hội nhập vào nền kinh tế.
Bài viết chia làm 3 chương:
Chương 1 : Phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng
trung & dài hạn tại NHTM
Chương 2 : Thực trạng chất lượng tín dụng trung & dài
hạn tại SDG NHNo&PTNT VN
Chương 3 : Giảp pháp năng cao chất lượng tín dụng trung
& dài hạn tại SDGNHNo&PTNTVN
cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội
Với tư cách là người cho vay : Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động
sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, ngân hàng đã thực hiện chức năng
phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp
ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
Có thể thấy rõ hơn khái niệm về tín dụng ngân hàng qua ví dụ sau :
Tiến tới Seagame 22 lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam, số lượng khách du lịch
cũng như cổ động viên rất lớn. Nếu biết tận dụng cơ hội này thì việc xây dựng nên
khách sạn không những đem lại lợi nhuận cho chính bản thân mà còn đem lại sự
phát triển cho nền kinh tế. Nhưng để xây dựng được khách sạn đủ khả năng cạnh
tranh thì cần có lượng vốn rất lớn mà nguồn vốn của chính bản thân thì không thể
đáp ứng. Trong khi đó có một số người khác có món tiết kiệm do tích luỹ được trong
nhiều năm, tạm gọi là lượng tiền nhàn rỗi. Nếu 2 bên gặp được nhau và bên đối tác
sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn thì kế hoạch sẽ trở thành hiện thực. Tuy nhiên, khả
năng gặp mặt giữa 2 bên có xảy ra không? Trong nền kinh tế thị trường, hàng ngày
hàng giờ không biết xảy ra bao nhiêu mối quan hệ như vậy. Nó đã hình thành nên :
một bên là những người có tiền tích luỹ, có khả năng cung cấp và phía bên kia là
những người có nhu cầu vay cho đầu tư phát triển. Như vậy nảy sinh vấn đề là làm
như thế nào để họ có thể tìm gặp được nhau và làm thế nào để cùng một lúc thoả mãn
được nhu cầu vốn đa dạng và to lớn trong khi các nguồn tiết kiệm còn đang nằm
phân tán trong xã hội. Không phải bất kì ai cũng có khả năng hoặc đầu tư vay vốn
trên thị trường tài chính, ngoài ra khi giao dịch trên thị trường tài chính đòi hỏi chi
phí về tiền bạc và thời gian rất lớn. Do đó các ngân hàng thương mại với chức năng
cơ bản là trung gian tài chính, hoạt động như một chiếc cầu nối liền giữa khả năng
cung ứng và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội đã cơ bản giải quyết được những vấn
đề nẩy sinh trên. Đồng thời với tư cách là một trung gian, tín dụng ngân hàng đóng
vai trò là người môi giới giữa một bên là người có tiền cho vay và một bên là người
Cho vay cầm cố : Là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản khách hàng
mang đến cầm cố tại ngân hàng. Tài sản của khách hàng do ngân hàng bảo quản.
Trong suốt thời gian cầm cố, khách hàng không được sử dụng nhượng bán, cho
thuê
Cho vay thế chấp : là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng
để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng. Tài sản không cần mang đến ngân
hàng, khách hàng có quyền sử dụng nhưng không có quyền bán và cho thuê.
+ Cho vay không có tài sản thế chấp ( Tín chấp ) : Ngân hàng cho vay trên cơ
sở tin tưởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách hàng. Ngoài ra
còn có hình thức cho vay thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể
chính trị – xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn.
- Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
+ Cho vay bằng tiền : Là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền : thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp
+ Cho vay bằng tài sản : Phổ biến là tài trợ thuê mua.
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng.
+ Cho vay trực tiếp : ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho khách hàng và khách
hàng trực tiếp trả lãi và gốc cho ngân hàng.
+Cho vay gián tiếp : Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn lại trong thời hạn thanh toán
- Căn cứ vào thời hạn cho vay
+ Tín dụng ngắn hạn
+ Tín dụng trung hạn
+ Tín dụng dài hạn
II/Vai trò của tín dụng trung & dài hạn đối với nền kinh tế
1. Tín dụng trung – dài hạn
Là những khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng với mục đích là sửa chữa, khôi
nước, của các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước.
3.2 Đối tượng cho vay trung và dài hạn
Đó là các chi phí cấu thành trong tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng
mới, mở rộng, cải tạo, khôi phục, đổi mới kĩ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ bao
gồm : giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao, sáng chế và phát minh,
chi phí nhân công, giá thuê và chuyển nhượng đất đai, giá thuê mua các tài sản khác
trong khuôn khổ luật định, chi phí mua bảo hiểm tài sản thuộc dự án đầu tư và các
chi phí khác.
Mức cho vay đối với một dư án đầu tư bằng tổng mức vốn đầu tư của dự án
trừ đi vốn tự đầu tư cho dự án của bên vay, nhưng tối đa bằng 70% giá trị tài sản thế
chấp, cầm cố.
3.3 Thời hạn cho vay trung và dài hạn.
- Thời hạn cho vay là thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay
cho đến khi bắt đầu trả nợ gốc và lãi tiền vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng giữa ngân hàng và khách hàng.
- Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng tới 60 tháng.
- Thời hạn cho vay dài hạn trên 60 tháng nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại
theo quyết định thành lập của giấy phép kinh doanh đối với pháp nhân, không quá 15
năm đối với cho vay các dự án phục vụ đời sống.
3.4 Các hình thức tín dụng trung – dài hạn
Ngày nay, về mặt hình thức, tín dụng trung và dài hạn không chỉ đơn thuần là
việc phát tiền vay với thời hạn trên 1 năm mà nó tiềm ẩn dưới nhiều hình thức, trong
đó có thể các hình thức phổ biến sau :
Cho vay theo kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp là loại cho
vay được thực hiện theo phương pháp cho vay, thông thường dựa trên cơ sở nhu cầu
vốn vay của từng công trình, hạng mục công trình được xác định trong kế hoạch đầu
tư xây dựng cơ bản của mỗi doanh nghiệp.
Cho vay theo dự án là một phương pháp cho vay dựa trên một văn bản hoàn
chỉnh về vay vốn và trả nợ được nghiên cứu, soạn thảo, xét duyệt, kí kết giữa người
- Quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng
- Điều lệ tổ chức và hoạt động
3.6.2 Thẩm định hồ sơ kinh tế của doanh nghiệp
- Giấy phép đăng kí kinh doanh
- Giấy phép hành nghề ( nếu có)
- Đăng kí mã số thuế, mã số xuất nhập khẩu
3.6.3 Thẩm định năng lực tài chính của doanh nghiệp
- Căn cứ vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp ít nhất 02 năm liền kề với thời điểm
xin vay
- Đánh giá năng lực tài chính thông qua các hệ số tài chính, chú ý làm rõ một số chỉ
tiêu như nguồn vốn CSH, giá trị TSCĐ, công nợ phải thu, phải trả, dư nợ ngân hàng,
vốn hoạt động thuần
3.6.4 Thẩm định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính
- Cơ cấu doanh thu, lợi nhuận
- Năng lực thực hiện của doanh nghiệp đối với dự án xin vay.
3.6.5 .Thẩm định dự án
-Căn cứ pháp lý của dự án
- Phân tích khả năng đáp ứng thị trường của dự án có tính đến các dối thủ cạnh tranh
( dự báo cho cả vòng đời dự án)
- Thẩm định các phương án khả năng của dự án
- Thẩm định công nghệ của dự án, tác động của dự án tới môi trường
- Khả năng tổ chức, quản lý dự án của chủ đầu tư
-Thẩm định tính chính xác của giá trị dự toán từng hạng mục ( căn cứ vào định mức
kinh tế – kỹ thuật của ngành, của địa phương), giá trị dự phòng.
- Thẩm định chi phí vận hành dự án hàng năm
- Xác định tổng mức đầu tư của dự án
- Phân tích hiệu quả kinh tế – tài chính của dự án (Dựa vào các chỉ số NPV,IRR, thời
gian hoàn vốn nhờ lợi nhuận và khấu hao, công suất hoạt động hoà vốn, độ nhạy của
đổi mới đầu tư trang thiết bị hiện đại, mở rộng dây chuyền sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm thì mới thắng được trong cạnh tranh và chiếm lĩnh được thị trường.
Do đó, vấn đề đầu tư cho phát triển, sản xuất được đưa ra như một yêu cầu bức thiết
đối với mỗi doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, ngoài nguồn vốn
ngân sách hạn hẹp, họ phải chủ động tìm kiếm các nguồn vốn trung và dài hạn nhằm
đáp ứng nhu cầu đổi mới, phát triển và mở rộng sản xuất đảm bảo giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế. Còn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nguồn vốn tự có
ban đầu phải được hỗ trợ bằng nguồn vốn bên ngoài. Về lí thuyết, có thể huy động
vốn trung và dài hạn bằng 2 cách chủ yếu sau:
- Phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán
- Vay ngân hàng
ở các nước kinh tế phát triển, cách thứ nhất tỏ ra ưu thế hơn. Đây là thị trường
vốn dài hạn rất có hiệu quả. Khi có nhu cầu đầu tư mới, công ty có thể phát hành cổ
phiếu, trái phiếu ra thị trường, với chi phí phát hành thấp, hay công ty có thể thuê
ngân hàng đầu tư làm đại lý bán hộ hay bao tiêu số cổ phiếu phát hành. Lãi trả cho
mỗi cổ phiếu là do công ty chủ động quyết định, công ty càng có uy tín trong kinh
doanh thì trị giá cổ phiếu càng lớn, thu hút được nhiều cổ đông.Thậm chí công ty có
thể phát hành trái phiếu đợt này để thanh toán cho đợt phát hành trước. Nếu sử dụng
cách này, lãi trả cho cổ phiếu thấp hơn lãi suất ngân hàng vì phần lớn các cổ đông
trông chờ vào thị giá cổ phiếu tăng trong tương lai chứ không phải là một khoản cổ
tức nho nhỏ. Hơn nữa, khối lượng cổ phiếu phát hành là tuỳ thuộc vào nhu cầu vốn
trung và dài hạn của công ty, chứ không bị lệ thuộc vào hạn mức tín dụng của ngân
hàng
Song ở nước ta hiện nay, sự hoạt động của thị trường chứng khoán chưa thực
sự đa dạng và mang tính hiệu quả cao. Đối tượng phát hành mới chỉ là các Ngân hàng
và một số ít các công ty, doanh nghiệp có uy tín. Mặt khác, khuôn khổ pháp lý, môi
trường kinh tế, thói quen, tâm lý của dân chúng chưa cho phép lưu hành cổ phiếu, trái
phiếu một cách rộng rãi để thị trường này trở thành thị trường vốn trung và dài hạn
tiềm năng, hoạt động có hiệu quả. Do vậy, doanh nghiệp không còn cách nào khác là
Trong điều kiện thị trường vốn của ta chưa phát triển hoàn thiện thì hiện tại và
thời gian tới tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng vẫn đóng vai trò quyết định cho
tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, nâng cao chất lượng tín
dụng trung và dài hạn là điều kiện cần thiết góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
của đất nước.
III/ Phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng
trung -dài hạn của NHTM và các nhân tố ảnh hưởng.
1.Chất lượng tín dụng trung – dài hạn.
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
được thì phải thắng trong cạnh tranh. Khi nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển
thì cạnh tranh ngày càng găy gắt. Cạnh tranh diễn ra trên 3 phương diện : Chất lượng,
số lượng, giá cả trong đó chất lượng đóng vai trò quan trọng hàng đầu, tạo điều kiện
nâng cao chiếm lĩnh thị trường. Vậy chất lượng tín dụng ngân hàng như thế nào?
“ Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của
khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng
lợi nhuận cho ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội”.
Chất lượng tín dụng trung – dài hạn là chất lượng tín dụng của các món vay có
thời hạn trên 1 năm Xét về tổng thể, Ngân hàng vừa phải tạo ra hiệu quả kinh tế vừa
đem lại hiệu quả xã hội.
Để có được chất lượng tín dụng tốt thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và
quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động
Hiểu đúng bản chất về chất lượng tín dụng, phân tích, đánh giá đúng chất lượng tín
dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên nhân của những tồn tại về chất
lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được các biện pháp quản lí thích hợp để có
thể đững vững trong nền kinh tế thị trường hoạt động sôi động và có sự cạnh tranh
găy gắt.
2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung – dài hạn.
phát hiện vấn đề nảy sinh trong tín dụng các điều kiện kèm theo cũng xuất phát từ
việc tôn trọng các nguyên tắc đó. Thông qua thái độ, cung cách tổ chức đảm bảo cho
việc thực hiện các nguyên tắc ta có thể có những đánh giá bước đầu về chất lượng tín
dụng. Chất lượng tín dụng thể hiện kết quả thực hiện trọn vẹn hai nguyên tắc tín
dụng, được phản ánh bởi hiệu quả kinh doanh của từng tổ chức kinh tế, tốc độ tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội qua từng giai đoạn
2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu lợi nhuận
h¹n dµi trung dông tÝn nî d Tæng
h¹n dµi trung dông tÝn tõ nhuËn Lîi
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung – dài hạn. Lợi
nhuận ở đây phải hiểu là chênh lệch giữa chi phí đầu vào( tức lãi suất huy động) và
thu nhập từ lãi suất cho vay của tín dụng trung – dài hạn. Xét cho cùng thì khoản tín
dụng dù không có nợ quá hạn, nợ quá hạn khó đòi thì cũng chỉ nhằm mục đích tăng
lợi nhuận cho ngân hàng. Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng với các ngân hàng chưa
phát triển các dịch vụ ngân hàng thu từ hoạt động tín dụng là chủ yếu.
Tuy nhiên đối với một số dự án trung – dài hạn theo kế hoạch nhà nước
thì chỉ tiêu này đôi khi tỏ ra không đầy đủ để phản ánh chất lượng tín dụng trung –
dài hạn. Vì mục tiêu kinh tế xã hội hay chiến lược phát triển các ngành công nghiệp
mũi nhọn, những ngành công nghiệp non trẻ thì đôi khi mục tiêu lợi nhuận không
phải là hàng đầu. Lúc này lợi nhuận không phản ánh thực chất của khoản tín dụng.
- Chỉ tiêu vòng quay vốn
h¹n dµi trung nî d Tæng
h¹n dµi trung nî Thu
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của ngân hàng theo kế hoạch trong hợp
- Chỉ tiêu sử dụng vốn
Tổng dư nợ cho vay
Vốn huy động
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả ngân hàng, thể hiện quy mô tín dụng.
Nếu tỷ lệ tổng dư nợ so với số dư tiền gửi lớn, chứng tỏ ngân hàng đã cải thiện được
phần nào mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn, tạo được tính cân đối giữa
hai hoạt động cơ bản ấy
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung – dài hạn
Hiện nay vấn đề tín dụng trung và dài hạn đang được các ngân hàng rất quan
tâm và đang tìm mọi cách để có thể nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn
một cách tốt nhất. Muốn có giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dung trung
và dài hạn chúng ta cần phải xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến nó.
Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn chính là
những nhân tố gây ra sự biến động tốt hoặc xấu của các chỉ tiêu đánh giá chất lượng.
Có nhiều nhân tố , chủ quan và khách quan , nhân tố bên trong và bên ngoài nhưng
tựu chung lại có thể phân thành 4 nhóm nhân tố chính:
- Môi trường kinh tế
- Môi trường pháp lý
- Nhân tố từ phía ngân hàng
- Nhân tố từ phía khách hàng
3.1. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động kinh doanh
tiền tệ của ngân hàng sẽ thấy được ảnh hưởng của nó tới chất lượng tín dụng. Bất kỳ
một ngân hàng nào cũng chịu sự chi phối của những chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn
nền kinh tế hưng thịnh thì các doanh nghiệp làm ăn phát đạt, xuất hiện nhiều nhu cầu
mở rộng sản xuất, nên nhu cầu tín dụng cũng tăng, hoạt động tín dụng của ngân hàng
sẽ phát triển . Trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái thì tất yếu nhu cầu tín dụng giảm
doanh tiến hành thuận lợi và đạt kết quả cao. Chỉ trong trường hợp các chủ thể tham
gia quan hệ tín dụng, chấp hành luật pháp một cách nghiêm minh thì quan hệ tín
dụng mới đạt kết quả mong muốn đem lại chất lượng cho hoạt động tín dụng ngân
hàng.
Hiện nay hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ đã gây khó khăn cho ngân
hàng khi kí kết, thực hiện các hợp đồng tín dụng. Thực tế cho thấy rằng, luật ngân
hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ với các quy định, văn bản dưới luật. Điều này
ảnh hưởng đến việc quản lí chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Sự thay đổi chủ trương,chính sách của nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ của doanh nghiệp nhất là về cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu,
do thay đổi một cách đột ngột, gây xáo trộn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm hay chưa có phương án kinh doanh mới
dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi.
Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp còn nhiều sơ hở, nhà nước cho
phép nhiều doanh nghiệp được sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng, nhiệm vụ
vượt quá trình độ, năng lực quản lý dẫn đến rủi ro thua lỗ làm giảm sút chất lượng tín
dụng. 3.3 Nhóm nhân tố thuộc về phía ngân hàng
*Thẩm định tín dụng
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan toàn
diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án để ra quyết
định đầu tư và cho phép đầu tư.
Mục đích của việc thẩm định dự án là nhằm giúp ngân hàng có các kết luận
chính xác về tính khả thi, tính hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và những khả năng
rủi ro có thể xảy ra của dự án để ra quyết định cho vay hay từ chối. Đồng thời, cũng
từ việc thẩm định ngân hàng có thể tham gia góp ý cho chủ đầu tư, xác định số tiền
cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý phù hợp với năng lực của doanh
cao chất lượng tín dụng.
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng có một ý nghĩa to lớn quyết định đến sự thành công hay
thất bại của cả hệ thống ngân hàng. Do vậy, khi xây dựng chính sách tín dụng cần
phải đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và
của người sử dụng vốn vay. Đồng thời chính sách tín dụng phải phù hợp với đường
lối phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước và cần được dựa trên những cơ sở thực tiễn
và khoa học nhất định.
Đối với các ngân hàng thương mại một chính sách tín dụng đúng đắn phải
đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ
pháp luật và đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước đảm bảo công bằng xã hội.
* Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng.
Trang thiết bị góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng
của ngân hàng. Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức quản lý ngân hàng,
kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay và thực hiện nghiệp vụ giao dịch với khách hàng.
Đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin hiện nay, các trang thiết
bị tin học đã giúp cho ngân hàng cập nhật được thông tin nhanh chóng, kịp thời,
chính xác. Trên cơ sở đó đưa ra quyết định tín dụng đúng đắn, không bỏ lỡ thời cơ
trong kinh doanh, giúp cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện,
nhanh chóng và chính xác.
3.4 Nhóm nhân tố thuộc về phía khách hàng.
Để đảm bảo khoản tín dụng được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả,
mang lại lợi ích cho ngân hàng, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã
hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan trọng. Một khách hàng có tư cách đạo đức
tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những
khoản vay vốn của ngân hàng khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất
lượng tín dụng. Nhóm nhân tố này phụ thuộc vào năng lực khách hàng
và tỷ trọng vốn tự có trên tổng nguồn vốn huy động. Ngoài ra, năng lực tài chính của
doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với các khoản
nợ. Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tín dụng trung – dài hạn còn đòi hỏi
doanh nghiệp có số vốn lưu động tối thiểu cho việc duy trì hoạt động thường xuyên
của tài sản cố định. Vì vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao thì càng
thuân lợi cho Ngân hàng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng.
+ Năng lực quản lý của doanh nghiệp
Việc xem xét khả năng thích nghi của bộ máy quản lý doanh nghiệp với biến
động của cơ chế thị trường là điều cần thiết trước khi Ngân hàng quyết định cho vay.
Ngoài ra, việc xem xét sự phù hợp của hệ thống hạch toán kế toán và quản lý tài
chính của doanh nghiệp với quy định của pháp luật sẽ cho kết quả đánh giá về năng
lực quản lý của doanh nghiệp một cách chính xác hơn.
3.5 Các yếu tố tự nhiên
Đây là những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh
Khi xảy ra thường gây ra hậu quả lớn tác động đến cả ngân hàng và khách hàng, ngân
hàng không có khả năng thu hồi được vốn. Điều đó ảnh hưởng đến chất lượng tín
dụng. Trước sự tác động của các yếu tố này, Ngân hàng khi tiến hành đầu tư cần phải
cân nhắc, báo cáo một cách cụ thể, chủ độngphòng ngừa nhằm giảm thiểu rủi ro.
Như vậy việc nắm vững các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân
hàng nói chung cũng như chất lượng tín dụng trung – dài hạn nói riêng
và biết tận dụng các nhân tố này trong hoàn cảnh thực tế của ngân hàng mình
sẽ tạo ra một chất lượng tín dụng tốt, góp phần vào sự phát triển vững mạnh của ngân
hàng và của nền kinh tế quốc dân.
Chương II
Thực trạng tín dụng trung & dài hạn
nhân viên, góp phần thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước.
Trong những năm gần đây, ngân hàng đã không ngừng tăng cường quan hệ đa
phương và các hoạt động kinh doanh đối ngoại, uy tín quốc tế của ngân hàng nhanh