Luận văn tốt nghiêp: ''''''''Nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh NHCT Khu công nghiệp Bắc Hà Nội" - Pdf 71

Luận văn tốt nghiêp: ''Nâng cao chất lượng
tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh NHCT
Khu công nghiệp Bắc Hà Nội"
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

1
LỜI MỞ ĐẦUT
hực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế, nước

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

2
Tuy mới được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2003 đến nay
nhưng chi nhánh Ngân hàng công thương (NHCT) Khu Công Nghiệp Bắc Hà
Nội đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ . Dư nợ tín dụng trung dài hạn tại
Ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ.Tuy nhiên so với nhu cầu tín
dụng trung dài hạn của các doanh nghiệp, nguồn vốn huy động được thì cho
vay trung dài hạn của ngân hàng chưa thự
c sự tương xứng với tiềm năng. Bên
cạnh đó chất lượng của tín dụng trung dài hạn cũng cần xem xét đến cùng với
sự tăng trưởng của quy mô tín dụng . Qua thời gian thực tập , tìm hiểu tại
ngân hàng, những kiến thức học được tại nhà trường , đọc được qua sách báo
và với sự giúp đỡ của các anh chị cán bộ trong ngân hàng. Nhận thức thấy vai
trò của tín dụng trung dài hạ
n nên tôi đã chọn đề tài: ''Nâng cao chất lượng
tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh NHCT Khu công nghiệp Bắc Hà Nội.''
để tìm hiểu.
Ngoài phần mở đầu , kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của chuyên đề thực tập gồm 3 chương:
Chương I : Phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân
hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh
NHCT Khu Công Nghi
ệp Bắc Hà Nội.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn
tại chi nhánh NHCT Khu Công nghiệp Bắc Hà Nội.
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên những vấn

Vậy NHTM là gì? Nó hoạt động như thế nào? Chức năng của nó là
gì? Xung quanh vấn đề này có rất nhiều quan diểm khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới thì NHTM là
một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng.
Theo Peter S.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất-đặc biệ
t là tín dụng, tiết
kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.''
Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam:''Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số
ti
ền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.''
Chức năng của NHTM :
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

4
-Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính vưói
hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với
hai loại tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế:(1) các cá nhân và tổ chức tạm
thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu
nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ
chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhậ
p hiện tại của họ lớn hơn các
khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm sự tồn
tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất
yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cung có

5
khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng
riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân
hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội
thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
- NHTM là một trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung
gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách
hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ.
Để việc
thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm
chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các
quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện
thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua
các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu
quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công
nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng được các nhà quản lý tìm cách áp
dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính
thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia
mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc
tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân
hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả phục vụ đắc
lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.2 Hoạt động cơ bả
n của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ đầu tiên, là sự khởi tạo cho hoạt động của ngân
hàng. Cho vay được cai là hoạt động sinh lời cao do đó các ngân hàng đã tìm
kiếm mọi cách để huy động vốn cho vay với chức năng này ngân hàng đóng
vai trò là nhân tố tập hợp các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thông

thiểu rủi ro, đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng,
1.1.2.3 Các hoạt động khác
NHTM thực hiện các uỷ nhiệm của khách hàng trong giao dịch
thanh toán, chuyển tiền, thu hộ, tư vấn , môi giới và nhận một khoản thu nhập
về việc làm trung gian đó.
1.2
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NHTM

1.2.1Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm và phân loại tín dụng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

7
Khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng. Vì vậy tuỳ
theo góc độ nghiên cứu mà ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.
Tín dụng(credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo( tin tưởng, tín
nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng dược hiểu theo nhiều
nghĩa khac nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ
thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ
tài chính, tín
dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:
-Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết
kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp
chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
-Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài
sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Như m
ột công ty công nghiệp
hoặc thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp

Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay được
coi là đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ cho thuê
vận hành và cho thuê tài chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài
chính khác cung cấp cho khách hàng
Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có c
ơ sở để tin rằng người đi vay
sẽ trả đúng hạn. đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trin tín dụng.
Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay
nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. Để
thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ
lạm phát, hay nói cách khác ph
ải xác định lãi suất thực dương( lãi suất thực =
lãi suất danh nghĩa- tỷ lệ lạm phát). Tuy nhiên vì lãi xuất chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố khác nhau, nên trong một số trường hợp cụ thể lãi xuất danh
nghĩa có thể thấp hơn tỷ lệ lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai
đoạn ngắn.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ
sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan
hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là lệnh phiếu, trong
đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn
thanh toán.
Dựa vào các tiêu thức khác nhau chúng ta có thể phân chia tín dụng
thành các loại sau
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

9

dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

10
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp mới thành lập.
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn
tối đa có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40
năm.
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cấp để đáp
ứng các nhu cầu
dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vậ tải có quy mô lớn,
xây dựng các xí nghiệp mới.
1.2.2. Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn.
1.2.2.1. Độ rủi ro cao.
Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn
chậm nên độ rủi ro của một khoản tín dụng trung dài hạn là cao. Kết quả của
một d
ự án đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Sự phân tích và xác định
của ngân hàng về các rủi ro này là có hạn. Các ngân hàng cũng không thể
khắc phục hết được các rủi ro này. Khi khoản cho vay dài hạn thời gian đầu tư
dài, có rất nhiều sự thay đổi trong môi trường kinh tế: Như những thay đổi về
chính sach, thị trường, thiên tai, chiến tranh…Khiến cho dự án bị thua lỗ hoặc
không có khả n
ăng thu hồi vốn
1.2.2.2. Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung dài hạn là lớn.
Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà

1.2.3.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn trung dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho tiêu dùng là loạ
i tín dụng cấp
cho các cá nhân để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các
phương tiện sinh hoạt, phương tiện đi lại…
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Là loại tín
dụng cấp cho các tổ chức kinh tế để tín hành sản xuất kinh doanh, lưu thông
hàng hoá.
1.2.3.3. Căn cứ vào tính chất có đảm bảo.
Tín dụng trung dài hạn có đảm bảo là loại tín dụng khi cho vay bên
cho vay đòi hỏi ng
ười vay phải có tài sản đảm bảo.
Tín dụng trung dài hạn không có đảm bảo: Là loại tín dụng ma khi
cho vay bên cho vay không đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo. Việc
cho vay được tín hành trên cơ sở lòng tin uy tín của bản thân khách hàng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

12
1.2.3.4. Căn cứ vào cách thức hoàn trả.
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ đều nhau theo tháng, quý,
năm là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ một lần là loại tín dụng mà
bên vay phải hoàn trả cả gốc và lãi một lần vào thời điểm kết thúc khoản vay.
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ có tính thờ
i vụ là loại tín
dụng mà người vay có thể hoàn trả vốn gốc và lãi bất cứ khi nào khi có khả
năng, có thu nhập
1.2.3.5. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay.

của ngân hàng như là công cụ để khai thác và động viên có hiệu quả nhất
lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội,
phù hợp với quá trình vận động cảu vốn.
1.2.4.1 Đối với doanh nghiệp
- Tín dụng trung dài hạn tạ
o điều kiện cho việc ứng dụng tín bộ
khoa học kỹ thuật: ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt đượ những
thành tựu rực rỡ, đặc biệt là những thành tựu trong những nghành khoa học
ứng dụng đã tạo ra thời cơ cũng như ngững thách thức đối với sự tồn tại và
phát triển của một tổ chức trên thị truờng.
Tuy vi
ệc ứng dụng này là rất cần thiết, song mọi doanh nghiệp đều
gặp phải khó khăn đó là chi phí bỏ ra ban đầu lớn, bản thân vốn tự có của
doanh nghiệp lại có hạn. Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng, đặc biệt là
tín dụng trung và dài hạn đã có những tác động hỗ trợ tích cực trong việc ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó doanh
nghi
ệp không ngừng nâng cao được vị thế trên thị trường, hiệu quả của doanh
nghiệp - qua đó nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM.
- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có
điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất đi kềm theo
đó là mở rộng thị tr
ường hoạt đọng của mình. Mở rộng hoạt đọng sản xuất
kinh doanh không phải là hoạt đọng mà donah nghiệp có thể tín hành nhanh
chóng một sớm một chiều mà còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yêu tố trong đó
quan trọng là cần có nguồn vốn dài hạn. Để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn đó,
doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới nhiều hình thức như:
- Tự tích luỹ vốn trong quá trình s
ản xuất kinh doanh của doanh

sản xuất.
- Góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả:
Trong thời h
ạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám
sát hoạt động sử dụng vốn với tư cách là chủ sở hữu vốn cho vay đối với các
doanh nghiệp. Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các
doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích có hiệu quả, đôn đốc khách hàng
vay vốn trả gốc và lãi đúng thời hạn thoả thuận đã ký trong hợp đồng tín
d
ụng. Khác với vốn tự có là không phải trả chi phí vốn, vốn vay ngân hàng
phải chịu những điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

15
tiền vay nên các doanh nghiệp vay vốn phải có sự tính toán chi phí sản xuất
hợp lý, tốc độ vòng quay vốn nhanh. Để đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn
và có lợi nhuận giữ lại. Mặt khác, trong quá trình kiểm tra giám sát sử dụng
vốn vay, ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện những nhược điểm, sai sót
từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối
với doanh nghiệp cũng như rủi ro liên quan đối với ngân hàng thương mại. Có
thể nói rằng, tín dụng ngân hàng đã ràng buộc trách nhiệm giữa người sở hữu
và người sử dụng vốn, từ đó nâng cao năng lực quản lý vốn và quá trình sản
xuất kinh doanh. Đó chính là việc giúp cho nguồn vốn đầu tư đem lại hiệu
quả cao.
-Tín dụng trung dài hạn là trợ thủ đắc lực củ
a doanh nghiệp trong
việc thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp khi có các dự
án đầu tư nhưng không có nguồn vốn để đáp ứng do lượng vốn cần đầu tư

vai trò quan trọng đố
i với hoạt động của ngân hàng.
- Tín dụng Ngân hàng tạo ra lợi nhuận cho NHTM. Không có hoạt
động tín dụng thì không thể có NHTM.
Các NHTM là những trung gian tài chính lớn nhất, đóng vai trò
quan trọng trong việc khơi nguồn vốn từ những nơi chưa có điều kiện sinh lời
đem cho vay ở những nơi có cơ hội sinh lời. Như vậy, hoạt đọng chủ yếu của
NHTM một mặt thu hút các nguồn vấn tiền t
ệ nhàn rỗi trong xã hội, mặt khác
phân phối nó dưới hình thức cho vay để thu lợi nhuận. NHTM hoạt động theo
3 nghiệp vụ chính: nghiệp vụ nợ( huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có( cho
vay đối với nền kinh tế) và nghiệo vụ trung gian.
Ba nghiệp vụ trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mặc dù cả 3
nghiệp vụ đền quan trọng trong hoạt động vủa một ngân hàng thương mại,
nhưng nghiệp vụ cho vay vẫn đóng vai trò quan trọng nhất vì đó là nghiệp vụ
đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Việc cho vay thường mang lại lợi
tức cao nhưng mức độ rủi ro trong nghiệp vụ cho vay thường cao hơn các loại
dịch vụ hoặc ngành sản xuất dịch vụ khác. Bởi vậy, các Ngân hàng nếu muốn
tồn tại và phát triển buộc phải tìm nhiều biện pháp thự
c hiện việc đầu tư vốn
nhằm bảo đảm thu được hiệu quả cao, đồng thời giảm rủi ra đến mức thấp
nhất. Việc đầu tư vốn là một nghiệp vụ chủ yếu nhưng cũng rất phức tạp đối
với các NHTM. Khi tiến hành cho vay, các Ngân hàng đều phải tính toán cẩn
trọng và phải tôn trọng những nguyên tắc tín dụng nhất định. Tuy nhiên, đối
tượng vay vốn rất đa dạng và Ngân hàng trên thực tế không thể lường trước
được hết mọi rủi ro.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D


đầu bằng tiền và kết thúc cũng bằng tiền, tạo điều kiện để tái mở rộng sản
xuất.
Trong chu kỳ này, tăng nhanh vòng quay vốn tiền tệ là một trong
các yếu tố quan trọng quyết định thành công trong sản xuất kinh doanh. Để
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

18
rút ngắn thời gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn mỗi chủ thể kinh doanh
phải chủ động thực hiện nhiêuu biện pháp như đổi mới công nghệ đa dạng
hoá các mặt hàng, mở rộng thị trường, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh
doanh những việc làm này cũng đòi hỏi một lượng vốn lớn, tín dụng ngân
hàng sẽ đáp ứng nhu cầu về vốn đó theo nguyên tắc vay m
ượn có hoàn trả
vốn và lãi sau một thời gian như trong thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Trường hợp nguyên tắc trên bị vi phạm thì tổ chức kinh tế phải chịu phạt về
kinh tế như phải chịu lãi xuất quá hạn cao hơn lãi suất thông thường hoặc bị
tước quyền vay vốn hay bị tước đoạt tài sản thế chấp để tránh những hậu quả
kinh t
ế đó, các tổ chức kinh tế phải tìm cách tăng nhanh vòng quay của vốn
thu hồi vốn để trả nợ và lãi vay ngân hàng đúng hạn. Chính vì vậy, các tổ
chức kinh tế phải không ngừng đổi mới để cạnh tranh có hiệu quả trên thị
trường. Có thể nói tín dụng ngân hàng đã gián tiếp thúc đẩy cạnh tranh trên
thị trường, thúc đẩy kinh tế phát triển.
-Tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
dịch cơ cấ
u kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhạn, tăng tỷ trọng
các ngánh sản xuất vật chất, là nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, đáp
ứng nhu cầu trước mắt cuãng như lâu dài. Đầu tư cho vay trung dài hạn trực

ế. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh
doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông
dụng. Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này.
Lúc này NHTM sẽ là trợ thủ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh
xuất nhập khẩu. ở các nước đang phát triển như nước ta, để thực hiện được
các chính sách phát triển kinh tế cần thi
ết phải thu hút và tiếp nhận các khoản
viện trợ ban đầu, vay nợ của các nước phát triển thông qua các hình thức tín
dụng quốc tế. Từ đó tạo môi trường thuận lợi cho việc đầu tư vốn làm động
lực cho sự tăng trưởng kinh tế
1.3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN
CỦA NHTM
1.3.1 Khái niệm
Trong điều kiện hiện nay khi nước ta đang trong quá trình hội nhập
với nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này càng
mạnh mẽ, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải khong ngừng
nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Muốn vậy các doanh nghiệp không
nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp. Trong đó chất lượng chiếm vị
trí quan trọng hàng
đầu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Đặc
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

20
biệt là đối với các NHTM. Khi đây là doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh
doanh trên kĩnh vực tiền tệ.
Chất lượng nói chung có thể được hiểu là mưc độ phù hợp của sản
phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng hay là tập hợp tính chất của sản
phẩm, chứa đựng mức độ thích ứng của nó để thoả mãn nhu cầu nhất định

cho các NHTM, song không phải tất cả các NHTM đều thực hiện tốt hoạt
động này. Một số ngân hàng gặp khó khăn trong việc không thể tìm được dự
án thích hợp cho vay hoặc gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Vì vậy việc
xem xét chất lượng hiệu quả tín dụng trung dài hạn là hết sức cần thiết, nó
giúp ngân hàng có thể đánh giá lại ho
ạt động cho vay của mình từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa
hoạt động cho vay.
Để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn, đứng trên giác độ là
một nhà ngân hàng chúng ta phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định tính
và mặt định lượng. Về mặt định tính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một số
khía cạnh sau.
- Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt
nhu cầu của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh
chóng, kịp thời, an toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu
kỳ kinh doanh của khách hàng.
- Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang
thiết bị tốt, đồng thời ngân hàng tham gia vào nhi
ều hình thức huy động vốn,
đa dạng hoá và không ngừng ứng dụng các dịch vụ ngân hàng mới. Ngân
hàng có tổng nguồn vốn huy động lớn, ổn định có lượng khách hàng vay đông
đảo chứng tỏ ngân hàng có uy tín.
- Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của
ngân hàng trên địa bàn hoạt động.
1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng.
Chỉ tiêu định lượng gồm một số
chỉ tiêu cơ bản như
- Chỉ tiêu về dư nợ
Tổng dư nợ tín dụng ngân hàng bao gồm: Dư nợ vốn ngắn hạn, dư

song rủi ro đối với ngân hàng cũng cao.
-Vòng quay vốn tín dụng

Doanh số thu nợ trung dài hạn trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ trung dài hạn bình quân trong kỳ

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Đình Tam Lớp: TCDN 44D

23
Ngân hàng thu nợ theo kế hoạch thoả thuận trong hợp đòng tín
dụng. Sau đó lại tiến hành cho vay dự án mới. Vòng quay tín dụng nhỏ hơn
hoặc bằng chu kỳ sản xuất kinh doanh chứng tỏ khách hàng hoàn trả nợ vay
đúng hạn, có nghĩa là chất lượng tín dụng tốt và ngược lại ngân hàng phải gia
hạn nợ và có thể chuyển nợ quá hạn, đưa tìa sảo có không sinh lời tăng, phản
ảnh chất lượ
ng tín dụng yếu.
Tuy nhiên chúng ta không chỉ thể dựa vào một chỉ tiêu vòng quay
vốn tín dụng trung dài hạn thường dùng để đầu tư vào tài sản cố định, đổi mới
công nghệ do vậy thời gian thu hồi vốn lâu:

-Hệ số sử dụng vốn
Tổng dư nợ trung dài hạn
Hệ số sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn trung dài hạn

Hệ số sử d
ụng vốn cho biết khả năng sử dụng nguồn vốn trung dài

khác như việc quản lý và chất lượng các khoản tín dụng đó.

-Chỉ tiêu về lợi nhuậ
n

Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu lợi nhuận 1 =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn

Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu lợi nhuận 2 =
Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này phả ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung dài hạn.
Nó cho biết một đồng dư nợ tín dụng trung dài hạn mang lại bao nhiêu đồng
lợ nhuận. Bất kì một kho
ản tín dụng nào cũng sẽ không thể được đánh giá là
có chất lượng cao nếu không đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng. Tỷ lệ
này càng cao chức tỏ chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng càng tốt,
mang lại lợi nhuân cao cho cả ngân hàng. Mỗi một ngân hàng có một cách
đánh giá về chỉ tiêu này khác nhau song hầu như không có một con số chính
xác cụ thể nào để làm căn cứ đưa ra so sánh, mà các ngân hàng dựa vào chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status