Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế, nước ta
đã bước đầu đạt được những thành tựu to lớn như: tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao và ổn định, tốc độ lạm phát được kiểm soát, đời sống nhân dân ngày càng
được cải thiện.Tuy nhiên do xuất phát điểm của chúng ta không cao, nền sản
xuất ở mức độ thấp, công nghệ kỹ thuật còn lạc hậu. Mặt khác do đất nước ta
trải qua thời kỳ chiến tranh lâu dài, đất nước thống nhất chưa được bao lâu.
Trong điều kiện hiện nay, khi mà xu thế hội nhập và hợp tác trong tất cả các lĩnh
vực của nền kinh tế ngày càng trở nên rõ ràng và cần thiết hơn bao giờ hết. Đất
nước chúng ta cũng không thể tránh khỏi những quy luật tất yếu khách quan
trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Nền kinh tế của chúng ta cũng
phải trải qua những giai đoạn mà các nước phát triển đã trải qua, ở giai đoạn quá
độ lên chủ nghĩa xã hội này nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta là cực kỳ khó
khăn, chúng ta vừa phải phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng quan hệ
sản xuất của chúng ta là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn quá
độ này chúng ta phải đầu tư nhiều để phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế,
tạo đà cho sự phát triển vững chắc sau này. Vì thế vấn đề đặt ra hiện nay đối với
các doanh nghiệp và các định chế kinh tế khác đó là đầu tư mua sắm tài sản cố
định, mở rộng cơ sở xuất, đầu tư theo chiều sâu nhằm hiện đại hoá kỹ thuật công
nghệ, hoàn thành và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phục vụ nhu cầu
ngày càng cao của xã hội.
Muốn thực hiện được điều này các doanh nghiệp phải cần đến một lượng
vốn khá lớn và khoảng thời gian tương đối dài. Nguồn vốn mà các doanh nghiệp
dùng để đầu tư có thể là nguồn vốn tự có, vốn do Nhà nước cấp, vốn liên doanh
liên kết, vốn cổ phần hay vốn vay ngân hàng…Trong điều kiện nước ta hiện nay
thì tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng
trong việc đáp ứng vốn đầu tư cho các doanh nghiệp.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hoá.Ngân hàng thương mại(NHTM) ra đời là kết
quả của một quá hình thành và phát triển lâu dài, phù hợp và gắn liền với tiến
trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Nó được coi là sản phẩm của nền sản
xuất hàng hoá, là một bộ phận không thể tách rời và tồn tại như một tất yếu
trong nền kinh tế hiện đại.
Vậy NHTM là gì? Nó hoạt động như thế nào? Chức năng của nó là gì?
Xung quanh vấn đề này có rất nhiều quan diểm khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới thì NHTM là một
doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng.
Theo Peter S.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm
và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.''
Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam:''Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.''
Chức năng của NHTM :
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính vưói hoạt
động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại tổ
chức và cá nhân trong nền kinh tế:(1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt
chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương
tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
- NHTM là một trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung gian
thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân
hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh
chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều
hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại
thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền
giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với
nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán.
Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng
công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua
ngân hàng được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức
thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không
chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn
thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả
thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan
trọng và có hiệu quả phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
2. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
2.1. Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ đầu tiên, là sự khởi tạo cho hoạt động của ngân hàng.
Cho vay được cai là hoạt động sinh lời cao do đó các ngân hàng đã tìm kiếm
mọi cách để huy động vốn cho vay với chức năng này ngân hàng đóng vai trò là
nhân tố tập hợp các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thông qua các hình
thức:
- Nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế. Đây là nguồn tiền
chiếm tỉ lệ chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng
- Nguồn đi vay: Trong quá trình kinh doanh, đôi khi NHTM có thể cũng
lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng dược hiểu theo nhiều nghĩa khac
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật
ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể
hiểu theo các nghĩa sau:
-Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển
dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
-Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty công nghiệp hoặc
thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này
người bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định
theo thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao dịch
giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân
thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền cay cho bên đi vay và
sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
-Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng.
-Trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật
ngữ cho vay
Mục đích của chương này là xem xét tín dụng như là một chức năng cơ
bản của ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của
ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài
sản( tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay( ngân hàng và các định chế tài chính
khác) và bên đi vay( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên
đi vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định
theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi
cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Căn cứ theo thời hạn cho vay: Cho vay theo thời hạn là việc tín dụng cấp
dựa vào thời hạn của khoản vay. Đó là cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài
hạn.
- Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: Theo hình thức này
tín dụng được phân chia dựa vào tiêu thức khả năng bảo đảm hoàn trả cả gốc và
lãi đối với khoản vay. Đó là cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm
hoặc cho vay có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
- Căn cứ theo phương pháp hoàn trả: Theo hình thức này cho vay của
NHTM căn cứ vào cách thức chi trả vốn gốc và lãi cho ngân hàng. Ví dụ: Cho
vay có thời hạn, cho vay không có thời hạn…
-Căn cứ theo xuất xứ tín dụng: Là việc tín dụng được cấp dựa vào sự tiếp
xúc trực tiếp hay không trực tiếp giữa người cho vay và người trả nợ. Gồm có
cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp.
1.2. Khái niệm tín dụng trung dài hạn
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, nó là hình
thức tín dụng phân theo thời hạn.
Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam, cho vay trung
hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử
dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công
nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ với
thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để
đầu tư vào các đối tượng sau: Máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây
công nghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình
thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp mới thành lập.
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa
có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hành thu hồi vốn đầu tư khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quản, dẫn đến thời
hạn thu hồi vốn chậm.
3. Phân loại tín dụng trung dài hạn
3.1. Căn cứ vào đồng tiền cho vay
Tín dụng trung dài hạn bằng bản tệ: Là việc cho vay bằng đồng nội tệ
Tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ nhằm cấp tín dụng cho ngườ vay có
nhu cầu thanh toán các công trình xây dựng cơ bản, các khoản chi phí có liên
quan đến nước ngoài bằng đồng ngoại tệ.
3.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn trung dài hạn
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho tiêu dùng là loại tín dụng cấp cho các
cá nhân để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các phương
tiện sinh hoạt, phương tiện đi lại…
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng
cấp cho các tổ chức kinh tế để tín hành sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá.
3.3. Căn cứ vào tính chất có đảm bảo
Tín dụng trung dài hạn có đảm bảo là loại tín dụng khi cho vay bên cho
vay đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo.
Tín dụng trung dài hạn không có đảm bảo: Là loại tín dụng ma khi cho
vay bên cho vay không đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo. Việc cho vay
được tín hành trên cơ sở lòng tin uy tín của bản thân khách hàng.
3.4. Căn cứ vào cách thức hoàn trả
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ đều nhau theo tháng, quý, năm là
loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ một lần là loại tín dụng mà bên
vay phải hoàn trả cả gốc và lãi một lần vào thời điểm kết thúc khoản vay.
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ có tính thời vụ là loại tín dụng mà
người vay có thể hoàn trả vốn gốc và lãi bất cứ khi nào khi có khả năng, có thu
nhập
kỹ thuật: ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt đượ những thành tựu rực rỡ,
đặc biệt là những thành tựu trong những nghành khoa học ứng dụng đã tạo ra
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thời cơ cũng như ngững thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ
chức trên thị truờng.
Tuy việc ứng dụng này là rất cần thiết, song mọi doanh nghiệp đều gặp
phải khó khăn đó là chi phí bỏ ra ban đầu lớn, bản thân vốn tự có của doanh
nghiệp lại có hạn. Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng
trung và dài hạn đã có những tác động hỗ trợ tích cực trong việc ứng dụng khoa
học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp không
ngừng nâng cao được vị thế trên thị trường, hiệu quả của doanh nghiệp - qua đó
nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM.
- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất đi kềm theo đó là
mở rộng thị trường hoạt đọng của mình. Mở rộng hoạt đọng sản xuất kinh doanh
không phải là hoạt đọng mà donah nghiệp có thể tín hành nhanh chóng một sớm
một chiều mà còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yêu tố trong đó quan trọng là cần có
nguồn vốn dài hạn. Để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn đó, doanh nghiệp có thể
huy động vốn dưới nhiều hình thức như:
- Tự tích luỹ vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
mình. Nguồn vốn này nó có ưu tiên là nó giúp doanh nghiệp giảm được chi phí,
giảm bớt được sự phụ thuộc vào bên ngoài nhưng nó có hạn chế là doanh nghiệp
không thể tích luỹ một lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn. Hơn nữa doanh
nghiệp chỉ có thể tích luỹ khi doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả, có lợi
nhuận, có thể tiếp tục đầu tư.Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: Doanh nghiệp có thể
huy động được vốn trung dài hạn để tín hành sản xuất kinh doanh thông qua
việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Nếu doanh nghiệp phát hành cổ phiếu,
các cổ đông cũ phải phân chia quyền kiểm soát mới nếu các cổ đông cũ không
ràng buộc trách nhiệm giữa người sở hữu và người sử dụng vốn, từ đó nâng cao
năng lực quản lý vốn và quá trình sản xuất kinh doanh. Đó chính là việc giúp
cho nguồn vốn đầu tư đem lại hiệu quả cao.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Tín dụng trung dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc
thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp khi có các dự án đầu
tư nhưng không có nguồn vốn để đáp ứng do lượng vốn cần đầu tư nhiều và thời
gian dài. Nên không thể thực hiện được các dự án này. Cũng có những dự án
nhiều doanh nghiệp biết và có cơ hội thực hiện nhưng không có nguồn vốn để
đáp ứng, do đó các dự án này cũng không thực hiện được. Tín dụng trung dài
hạn giúp doanh nghiệp thoả mãn lượng vốn đầu tư cho các dự án và chớp các cơ
hội kinh doanh. Ngoài ra khi các doanh nghiệp đi vay vốn trung dài hạn tại
NHTM, họ có thể điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn
thời gian quy định trong hợp đồng tín dụng khi họ không cần đến vốn trung dài
han nữa. Ngược lại khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời
điểm nhất định nào đó thì có thể xin ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc
gia hạn nợ.
Việc trả nợ vốn vay trung dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phân
chia ổn định và hợp lý, do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn
trả nợ một cách dễ dàng hơn.
4.2. Đối với ngân hàng
Hoạt động của NHTM truyền thống là nghiệp vụ nhân tiền và gửi và cho
vay. để thực hiện cho vay, NHTM phả tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và
trên cơ sở nguồn vốn đố bổ sung nhu cầu tamh thời thiếu hụt về vốn của các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế hặc của các cá nhân trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Trong quá trình phát triển m du cho có sự thay đổi nào có thể ảnh
hưởng đến hoạt động của NHTM nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt
động cơ bản.
Tín dụng trung dài hạn là một hình thức tín dụng ngân hàng, nó có vai trò
- Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng của mình trong tương lai,
tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng
khẳng định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh tế. Khi ngân hàng không đa
dạng hoá hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vay tiền thì ngân
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng không thể đứng vững được trong nền kinh té thị trường với sự cạnh trong
gay gắt của các ngân hàng khác.
- Mặt khác tín dụng trung dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết
nguồn vốn huy động còn dư thừa tại mỗi NHTM, đồng thời là cách để ngân
hàng gọi vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt động của
mình, tăng cường khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác.
- Thông qua tín dụng trung dài hạn, ngân hàng thực hiện chức năng xã hội
của mình. Thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng đã thể hiện vai trò người tài
troẹ lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, góp phần mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản
phẩm xã hội và cải thiện đời sống nhânh dân.
4.3. Đối với nền kinh tế
-Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển kinh tế,
thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường,
tiền tệ là công cụ kinh tế phục vụ cho tất cả các mặt hoạt động kinh tế xã hội.
Trong lĩnh vực và kinh doanh hàng hoá dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt đầu bằng
tiền và kết thúc cũng bằng tiền, tạo điều kiện để tái mở rộng sản xuất.
Trong chu kỳ này, tăng nhanh vòng quay vốn tiền tệ là một trong các yếu
tố quan trọng quyết định thành công trong sản xuất kinh doanh. Để rút ngắn thời
gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn mỗi chủ thể kinh doanh phải chủ động
thực hiện nhiêuu biện pháp như đổi mới công nghệ đa dạng hoá các mặt hàng,
mở rộng thị trường, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh doanh những việc làm
này cũng đòi hỏi một lượng vốn lớn, tín dụng ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu về
vốn đó theo nguyên tắc vay mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian như
trong thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp nguyên tắc trên bị vi
một kênh truyền dần vốn có hiệu quả. Thông qua cho vay trung dài hạn mà xâu
dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, góp phần đẩy nhanh qúa trình tái sản
xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế.
-Tín dụng trung dài hạn là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong quá trình mở
rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông dụng. Vốn là nhân tố
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này. Lúc này NHTM sẽ là trợ
thủ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu. ở các nước
đang phát triển như nước ta, để thực hiện được các chính sách phát triển kinh tế
cần thiết phải thu hút và tiếp nhận các khoản viện trợ ban đầu, vay nợ của các
nước phát triển thông qua các hình thức tín dụng quốc tế. Từ đó tạo môi trường
thuận lợi cho việc đầu tư vốn làm động lực cho sự tăng trưởng kinh tế
III. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢG TÍN DỤNG
TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm
Trong điều kiện hiện nay khi nước ta đang trong quá trình hội nhập với
nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này càng mạnh
mẽ, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải khong ngừng nâng cao
vị thế của mình trên thị trường. Muốn vậy các doanh nghiệp không nâng cao
chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp. Trong đó chất lượng chiếm vị trí quan
trọng hàng đầu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Đặc biệt là đối
với các NHTM. Khi đây là doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên
kĩnh vực tiền tệ.
Chất lượng nói chung có thể được hiểu là mưc độ phù hợp của sản phẩm
đối với yêu cầu của người tiêu dùng hay là tập hợp tính chất của sản phẩm, chứa
đựng mức độ thích ứng của nó để thoả mãn nhu cầu nhất định theo công dụng
của nó với những chi phí xã hội cần thiết.
Qua đây chúng ta có thể hiểu chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng
định lượng. Về mặt định tính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh
sau.
- Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu
cầu của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp
thời, an toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh
của khách hàng.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết
bị tốt, đồng thời ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng
hoá và không ngừng ứng dụng các dịch vụ ngân hàng mới. Ngân hàng có tổng
nguồn vốn huy động lớn, ổn định có lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ
ngân hàng có uy tín.
- Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của ngân
hàng trên địa bàn hoạt động.
2.2. Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng gồm một số chỉ tiêu cơ bản như
- Chỉ tiêu về dư nợ
Tổng dư nợ tín dụng ngân hàng bao gồm: Dư nợ vốn ngắn hạn, dư nợ vốn
trung dài hạn, vốn góp đồng tài trợ. Chỉ tiêu dư nợ này được tính bằng số tuyệt
đối, nó phản ánh doanh số cho vay của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định
thường là một năm. Tổng dư nợ cao chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều, uy
tín của ngân hàng tương đối tốt, có khả năng thu hút khách hàng. Ngược lại, khi
tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không có khả năng mở rộng và phát triển
cho vay, từ đó có thể thấy rằng uy tín của ngân hàng chưa cao, chưa có khả năng
thu hút khách hàng, khả năng tiếp thị kém, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của cả ngân hàng. Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ dựa vào riêng một chỉ tiêu
này để đánh giá, Tuỳ từng thời điểm chỉ tiêu này sẽ phản ánh những thực trạng
khác nhau. Do đó khi đánh giá chúng ta phải đặt vào mối quan hệ với nguồn vốn
Tổng nguồn vốn trung dài hạn
Hệ số sử dụng vốn cho biết khả năng sử dụng nguồn vốn trung dài hạn
huy động được để cho vay trung dài hạn là cao hay thấp.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Chỉ tiên về nợ quá hạn
Nợ quá hạn tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Nợ khó đòi trung dài hạn
Chỉ tiêu nợ khó đòi 1 =
Nợ quá hạn trung dài hạn
Nợ khó đòi trung dài hạn
Chỉ tiêu nợ khó đòi 2 =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn xem xét giá trị các khoản nợ quá hạn trung dài hạn trong
tổng dư nợ trung dài hạn, còn tỷ lệ nợ khó đòi xem xét đến giá trị các khoản nợ
trung dài hạn khó đòi trong nợ quá hạn. Các chỉ tiêu trên là những chỉ tiêu quan
trọng khi đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài
hạn cao biểu hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp, rủi ro cao vì số lượng
lớn nợ không được hoàn trả đúng hạn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của
ngân hàng. Do vậy không phả dư nợ tín dụng trung dài hạn càng cao thì càng tốt
bởi điều đó còn phải phụ thuộc nhiều yếu tố khác như việc quản lý và chất lượng
các khoản tín dụng đó.
-Chỉ tiêu về lợi nhuận
Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu lợi nhuận 1 =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chuẩn tín dụng của ngân hàng: Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay, các
NHTM thường đặt ra những điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại, chọn
ra những khách hàng có thể hay không thể cho vay. Chỉ những khách hàng nào
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của ngân hàng thì mới được xem xét cho vay.
Những điều kiện tiêu chuẩn này có thể rất khác nhau tuỳ theo ngân hàng cụ thể,
song nhìn chung các ngân hàng đều quan tâm tới một số vấn đề sau: tính hợp lý,
hợp pháp của mục đích sử dụng vốn, năng lực tài chính, năng lực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tính khả thi của dự án, các biện pháp bảo đảm. Rõ ràng
khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tín
dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Bởi nếu đa
số các khách hàng không thể đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng, có thể do
điều kiện đặt ra quá khắt khe, không thực tế hoặc do khả năng của các doanh
nghiệp quá thấp, thì ngân hàng không thể mở rộng cho vay trong khi vẫn bảo
đảm an toàn tín dụng.
- Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng khoản vay có
hiệu quả: Khi cho vay thì ngân hàng trông đợi khoản trả nợ sẽ được lấy từ chính
kết quả hoạt động của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sản thế
chấp, cầm cố. Điều này lại phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay
của doanh nghiệp. Có nhiều yếu tố cần thiết để đảm bảo cho việc sử dụng vốn
vay của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, trong đó có một số nhân tố giữ vai trò
quyết định như vị thế, năng lực thị trường của doanh nghiệp, năng lực công
nghệ, chất lượng đội ngũ nhân sự, trình độ quản lý của doanh nghiệp.
2. Nhân tố thuộc phía Ngân hàng
- Quy mô và cơ cấu kỳ hạn của nguồn vốn NHTM: Muốn cho vay được
thì điều kiện trước tiên là ngân hàng phải có vốn. Nhưng chỉ có vốn thôi thì chưa
đủ, do yêu cầu phải đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên nên các khoản
vay trung và dài hạn của ngân hàng cần phải được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn
trung và dài hạn, bao gồm nguồn vốn có thời hạn từ một năm trở lên và các
25