LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng tín dụng đối với
doanh nghiệp nghiệp vừa và nhỏ tại chi
nhánh ngân hàng công thương Hoàng Mai
LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng một
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Đảng và nhà nước đã có
nhiều chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể phát huy hết hiệu
quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình kinh tế này. Tuy
nhiên, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gặp phải không ít những khó khăn, nhất là trong
vấn đề tiếp cận các nguồn vốn. Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân
hàng đầu tư cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất hạn chế vì các doanh
nghiệp vừa và nhỏ khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn ngân hàng và khi tiếp cận
nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sử dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả. Vì
thế việc nâng cao chất lượng tín dụng nhằm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang
là một vấn đề bức xúc hiện nay của các ngân hàng thương mại. Xuất phát từ quan
nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là
doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao
động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở
mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước
mình. Ở Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có số vốn
đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300 người
được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa (không có tiêu chí xác định cụ thể đâu là doanh
nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa).
Theo Nghi định 90/2001/NĐ – CP ngày 23/11/2001, tiêu chí xác định doanh
nghiệp vừa và nhỏ như sau: “doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh
độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá
10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Ở nước ta
doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng khá cao, chiếm trên 95% tổng số doanh
nghiệp cả nước.
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có lượng vốn đăng kí ít nên việc thành lập tương đối
dễ dàng và thuận lợi, bộ máy tổ chức sản suất kinh doanh và quản lý gọn nhẹ, tiết kiệm được chi phí. Việc hoạt động của doanh nghiệp khá độc lập tự chủ do có ít lao động,
doanh nghiệp có thể dễ dàng thoả thuận về tiền lương và điều chỉnh hoạt động sản xuất
khi cần thiết.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ so với các doanh nghiệp lớn. Đặc
điểm này giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ linh hoạt, dễ dàng thích ứng với biến
động của thị trường, có khả năng tiếp cận và đáp ứng các nhu cấu nhỏ lẻ tốt hơn so với
các doanh nghiệp lớn. Đồng thời có thể nhanh chóng tiếp cận các công nghệ mới hiện
đại để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như theo kịp nhu cầu của thị trường .
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực tài chính hạn chế, gây bất lợi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh. Muốn cho quá trình sản xuất được thuận lợi thì doanh
nghiệp buộc phải tiến hành các hoạt động tín dụng. Nguồn tín dụng chủ yếu của các
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đã giải quyết hơn một phần tư việc làm cho các lao
động. Con số này đã thực sự nói lên vai trò quan trọng của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong việc thu hút lao động, tạo công ăn việc làm góp phần giải quyết tốt sức ép
thất nghiệp đang ngày càng gia tăng.
Thứ ba, doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Ở phần lớn
các nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn là những nhà thầu phụ cho các
doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ ở từng thời điểm cho phép nền
kinh tế có được sự ổn định. Vì thế doanh nghiệp vừa và nhỏ được ví như những thanh
giảm sóc cho nền kinh tế
Thứ tư, doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong việc khai thác
nguồn tài chính của dân cư trong vùng và sử dụng tối ưu nguồn lực tại chỗ của các địa
phương. Nếu như những doanh nghiệp lớn thường được đặt cơ sở ở các trung tâm kinh
tế của đất nước thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại có mặt ở khắp các địa phương và đóng góp quan trọng vao thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa
phương.
Thứ năm, doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tạo nên tính đa dạng của các
ngành nghề. Với một nền kinh tế đang phát triển như nước ta, điều đó sẽ khuyến khích
xuất khẩu các hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản… góp phần tăng GDP cho đất nước.
Ngoài ra, doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chuyên môn hóa vào việc sản xuất một vài
chi tiết dùng để lắp ráp thành chi tiết hoàn chỉnh. Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp
vừa và nhỏ đã tạo ra nền công nghiệp và dịch vụ phụ trợ vô cùng quan trọng.
1.2 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
1.2.1 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.1 Vốn và tầm quan trọng của vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
* Nhu cầu về vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn là một vấn đề mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng đang phải đối mặt. Nhu
cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang là vấn đề cấp thiết của các doanh nghiệp,
cao.Vì vậy nguồn vốn huy động từ thị trường tự do chỉ phù hợp với những doanh
nghiệp đang rất cần vốn.
* Nguồn vốn tín dụng từ các Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác:
Đây chính là kênh huy động vốn chủ yếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện nay, ước tính có đến gần 80% lượng vốn cung ứng cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ là từ kênh ngân hàng. Nhưng theo một điều tra mới đây của Cục Phát triển doanh
nghiệp, chỉ có 33% doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn
của các ngân hàng; 34% khó tiếp cận và 33% không tiếp cận được. Nguồn vốn này
khó tiếp cận nếu các doanh nghiệp không đáp ứng đủ thủ tục cấp tín dụng của ngân
hàng.
1.2.1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
* Khái niệm tín dụng ngân hàng:
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín
dụng có một số nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các
nghĩa sau:
+ Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ
người cho vay sang người đi vay + Trong quan hệ tài chính cụ thể tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
có hoàn trả giữa hai chủ thể
+ Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay và các định chế tài chính cung
cấp cho khách hàng thì tín dụng được hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tái sản ( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên
cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo
thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả về điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho
vay khi đến hạn thanh toán.
đầu mối dàn xếp phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Cho vay hợp vốn thường
được áp dụng đối với các dự án có nhu cầu lớn, vượt quá khả năng của một ngân hàng
hoặc có phạm vi qui mô rộng mà một ngân hàng khó có thể kiểm soát nổi. Hình thức
tín dụng này giúp cho các ngân hàng giảm thiểu rủi ro, đồng thời bổ sung kinh nghiệm,
kiến thức cho nhau
Cho vay trả góp
Đây là hình thức tín dụng mà qua đó ngân hàng cho khách hàng vay để mua tài
sản, hàng hóa khi khách hàng không đủ tiền trả một lúc. Khi vay vốn, ngân hàng cho
vay và khách hàng xác định, thỏa thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc
được chia ra để trả nợ theo nhiều kì hạn trong thời hạn cho vay. Tài sản mua bằng vốn
vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay sau khi họ trả đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Với
hình thức này, để được vay vốn khách hàng phải có phương án trả nợ gốc và lãi vay
khả thi bằng các khoản thu nhập có cơ sở chắc chắn, ổn định.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng là việc ngân hàng cho vay cam kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định
để đầu tư cho dự án. Theo hình thức này, căn cứ vào nhu cầu của khách hàng, ngân
hàng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng : hạn mức tín dụng dự phòng.
Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc không sử
dụng hết hạn mức, khách hàng phải trả phí cam kết theo thỏa thuận. Khi khách hàng
vay chính thức, phần vốn vay được tính theo lãi suất tiền vay hiện hành
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ
Với hình thức này, ngân hàng cho phép khách hàng trong phạm vi hạn mức để
thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở bán hàng có chấp nhận thanh toán thẻ hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động. Hình thức tín dụng này đem lại cho
khách hàng tính tự chủ cao và tiết kiệm thời gian.
Ngoài các hình thức tín dụng kể trên, trong tình hình kinh doanh hiện nay để
tăng tính cạnh tranh trên thị trường, thu hút được nhiều khách hàng các ngân hàng còn
dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp và nếu sử dụng thì giá vốn sẽ
cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận. Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có
một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lí, nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa
hóa lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất
Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và
đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Đặc biệt
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh
ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một
vấn đề khó khăn. Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên
doanh, liên kết tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để
tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển
trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích lũy thấp thì phải mất nhiều năm mới
thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như vậy để có thể
đáp ứng kịp thời, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng.
Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thực hiện được mục đích của
mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
1.2.2 Chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại luôn lấy chất lượng tín
dụng làm tiêu thức quan tâm hàng đầu.Chất lượng tín dụng là việc ngân hàng đáp ứng
kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng. Các khoản tín dụng này sẽ được
đưa vào đầu tư đổi mới trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất
kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường.
Chất lượng tín dụng được xem xét trên các phương diện:
- Đối với Ngân hàng:
Chất lượng tín dụng thể hiện ở việc các khoản vay phải được hoàn trả đầy đủ,
đúng hạn.
đó mới đưa ra quyết định có nên cấp tín dụng cho doanh nghiệp đó hay không.
Hiệu quả xã hội của khoản vay Một trong những yếu tố đánh giá chất lượng tín dụng là hiệu quả xã hội mà
khoản vay đó đem lại. Hoạt động tín dụng không những hướng tới mục tiêu lợi nhuận
mà còn phải đảm bảo hiệu quả xã hội. Có nghĩa là hoạt động tín dụng phải phục vụ sản
xuất và lưu thông theo đúng đường lối kinh tế của Đảng và Nhà nước, góp phần giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động, hạn chế tệ nạn xã hội, khai thác có hiệu
quả nguồn lực của quốc gia như: tài nguyên, con người, vốn, khoa học công nghệ thúc
đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, giải quyết tốt
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín dụng và ổn định kinh tế xã
hội.
* Các chỉ tiêu định lượng:
Chỉ tiêu dư nợ tín dụng
Dư nợ tín dụng DNVVN
Tỷ trọng dư nợ tín dụng DNVVN = x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô dư nợ tín dụng của doanh nghiệp trong tổng dư
nợ tín dụng của ngân hàng. Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp cao hay thấp
cho thấy hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp đạt kết quả tốt hay chưa tốt .
Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng
Dư nợ tín dụng DNVVN năm sau
Tốc độ tăng trưởng tín dụng = x100%
Dư nợ tín dụng DNVVN năm trước
Chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng hoạt động tín dụng đối với doanh
nghiệp của ngân hàng. Dư nợ tín dụng năm sau cao hay thấp hơn năm trước cho thấy
quy mô tín dụng của ngân hàng tăng hay giảm, ngân hàng đã tạo được uy tín đối với
TN từ hoạt động tín dụng DNVVN
Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động = x 100%
tín dụng Tổng thu nhập của ngân hàng
Chỉ tiêu này phản ánh phần trăm thu nhập tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong tổng thu nhập của ngân hàng. Nó trực tiếp cho thấy hiệu quả của hoạt động
tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ và khả năng sinh lời từ hoạt động này. Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ càng cao thì
càng chứng tỏ chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ càng cao và ngược
lại.
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Các nhân tố thuộc về ngân hàng:
- Chính sách tín dụng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý nghĩa
quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng. Chính sách tín dụng phải
phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước đã đề ra, đồng
thời phối hợp hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng với người sử
dụng vốn vay. Để đạt được như vậy chính sách tín dụng phải được xây dựng một cách
khoa học và thực tiễn.
- Thông tin tín dụng:
Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần
thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, nâng cao hiệu quả tín dụng,
giảm thiểu rủi ro tín dụng. Thông tin tín dụng có thể thu nhập được từ các nguồn thông
tin sẵn có của ngân hàng hay từ các khách hàng, các đối thủ cạnh tranh…
- Công tác tổ chức ngân hàng:
Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác động đến
mọi hoạt động của Ngân hàng. Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức được sắp
thị trường, yếu kém trong khâu Marketing sản phẩm… Do sự bảo thủ, không dám đổi
mới làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp kém hiệu quả, dẫn
đến tình trạng ngân hàng không thu hồi được khoản cho vay.
- Đạo đức của người đi vay
Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có liên
quan đế khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốn vay.
Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp nhận được tiền vay. Thực
tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không hợp lý dẫn đến không đạt được hiệu
quả trong sản xuất kinh doanh. Ngoài ra những người có đạo đức kém còn có thể tham
nhũng làm cho hiệu quả sử dụng vốn vay thấp, nhiều khi làm ngân hàng không thu hồi
được khoản cho vay. Do vậy, công tác kiểm tra giám sát của ngân hàng là rất quan
trọng.
* Các nhân tố khách quan khác: Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn có nhiều nhân tố khách quan mà tác
động của nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các khoản tín dụng ngân
hàng
- Tác động của môi trường kinh tế
Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay rõ
hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn,
ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng do đó ảnh
hưởng đến chât lượng của khoản tín dụng đó của ngân hàng. Ngược lại nếu môi trường
kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuận
lợi, thu hồi được vốn nhanh đồng thời lợi nhuận thu được sẽ cao và từ đó khả năng trả
nợ của doanh nghiệp được đảm bảo. Khoản vay sẽ được trả đúng hạn, khoản tín dụng
ngân hàng sẽ có chất lượng tốt.
- Tác động của môi trường pháp lý:
Ngân hàng là một doanh nghiệp luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lý
hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào. Vì vậy, một hệ thống
2.1. Khái quát về NHCT Chi nhánh Hoàng Mai
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NHCT Chi nhánh Hoàng Mai
Ngân hàng Công thương là một trong bốn ngân hàng thương mại lớn nhất Việt
Nam. Ngày 26 tháng 03 năm 1988, Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam
được thành lập theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức
bộ máy NHNNVN, và chính thức được đổi tên thành “Ngân hàng Công thương Việt
Nam” theo quyết định số 402/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 14 tháng 11
năm 1990.
Ngày 27 tháng 03 năm 1993, Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 67/QĐ-
NH5 về việc thành lập Ngân hàng Công thương Việt Nam thuộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính Phủ,
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 285/QĐ-NH5 về việc thành lập
lại Ngân hàng Công thương Việt Nam theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước được quy
định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính
Phủ.
Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển đến nay, Ngân hàng Công thương Việt
Nam đã phát triển theo mô hình ngân hàng đa năng với mạng lưới hoạt động được
phân bố rộng khắp trên 56 tỉnh, thành phố trong cả nước, bao gồm 01 Hội sở chính; 03
Sở Giao dịch; 138 chi nhánh; 188 phòng giao dịch; 258 điểm giao dịch; 191 quỹ tiết kiệm; 742 máy rút tiền tự động (ATM); 02 Văn phòng đại diện; và 03 Công ty con bao
gồm Công ty cho thuê tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán (VietinbankSC) và
Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản; 03 đơn vị sự nghiệp bao gồm Trung tâm thẻ,
Trung tâm Công nghệ thông tin, Trường Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực. Ngoài
ra, NHCT còn góp vốn liên doanh vào Ngân hàng Indovina và Công ty Liên doanh
Bảo hiểm Châu Á Ngân hàng Công thương Việt Nam (IAI); góp vốn vào 07 công ty
trong đó có Công ty cổ phần Chuyển mạch Tài chính quốc gia Việt Nam, Công ty cổ
phần Xi măng Hà Tiên, Công ty cổ phần cao su Phước Hòa, Ngân hàng thương mại cổ
phần Gia Định, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương v.v.
của ngân hàng công thương Việt Nam đề ra mà định hướng hoạt động cho chi nhánh
của mình. Ban giám đốc ra các chính sách cụ thể cho chi nhánh của mình, thực hiện
quyền quản trị chung và quản lí chung về tình hình hoạt động ,kinh doanh của chi
nhánh. Đưa ra các chính sách về nhân sự, kế hoạch kinh doanh và xét duyệt các đề án
Phòng khách hàng:
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp có quan hệ giao dịch với khách hàng có quan hệ
với khách hàng bao gồm khách hàng là doanh nghiệp và là cá nhân ,để khai thác vốn
bằng VNĐ và ngoại tệ,thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới tín dụng ,quản lí các sản
phẩm tín dụng phù hợp với chế độ,thể lệ hiện hành và hướng dẫn của ngân hàng Công
thương Việt Nam.Thực hiện quảng cáo tiếp thị ,giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ
cho khách hàng Phòng kế toán giao dịch:
Là phòng trực tiếp giao dịch với khách hàng. Tham mưu cho giám đốc và tổ
chức thực hiện công tác tài chính ,chi tiêu nội bộ;thực hiện công tác hạch toán kế toán
.Cung cấp các dich vụ ngân hàng liên quan tới nghiệp vụ thanh toán, xử lí hạch toán
giao dịch. Xử lí và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy ; quản lí quỹ
tiền mặt đến các thanh toán viên theo đúng quy định của nhà nước và ngân hàng công
thương Việt Nam
Phòng tổ chức hành chính:
Phòng tổ chức hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện các công tác tổ chức
cán bộ, đào tạo cán bộ theo chủ trương chính sách của nhà nước và của ngân hàng
công thương Việt Nam. Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động
kinh doanh của chi nhánh. Thực hiện công tác an ninh bảo vệ an toàn chi nhánh
Phòng tiền tệ kho quỹ:
Phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lí kho quỹ an toàn ,quản lí tiền
mặt theo quy định của ngân hàng nhà nước và ngân hàng công thương Việt Nam.Ứng
và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các giao dịch viên; thu tiền mặt cho các doanh
nhgiệp có chi tiền mặt lớn. Tham mưu cho giám đốc về điều hành tiền mặt hàng ngày
điểm cuối năm hoạt động của các Ngân hàng thương mại bắt đầu trở lên sôi động trở
lại hứa hẹn một đợt phát triển mới cho Ngân hàng Công thương Hoàng Mai. 2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Công thương Hoàng Mai
Đơn vị : tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tổng Nguồn vốn huy động 2900 3427 2994
Tiền gửi VNĐ 2331 2693 2273
Tỷ trọng ( % ) 80.39 78.58 75.91
Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của chi nhánh
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
tổng nguồn vốn
Tiền gửi VND
Năm 2007 nguồn vốn được huy động từ các tổ chức kinh tế tăng mạnh so với
năm 2006 và năm 2008. Nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế là những nguồn tiền lớn,
vì vậy Chi nhánh đã rất quan tâm đến việc huy động được nguồn tiền từ các tổ chức
kinh tế này. Nguồn tiền gửi từ dân cư đang có xu hướng giảm dần nhưng không đáng
kể, nguồn vốn huy động từ dân cư giảm là do nhiều nguyên nhân; có thể lí giải là do
lạm phát tăng cao làm cho đồng tiền mất giá nên đối với các nhà dầu tư gửi tiền tiết
kiệm không còn là sự lựa chọn hấp dẫn. Trong khi đó thị trường bất động sản, thị
trường vàng lại đang rất sôi động, hấp dẫn các khách hàng dân cư đầu tư hơn là gửi tiết
kiệm. 2.1.3.2. Hoạt động tín dụng
Bảng 2.3: Tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng Công thương Hoàng Mai
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu Tổng dư nợ tín dụng
Dư nợ VNĐ Dư nợ ngoại tệ
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
Tỷ trọng
(%)
Năm 2006 1573,68 1140 72,47 433.68 27,53
Năm 2007 1761,32 1229 69,75 532,32 30,25
Năm 2008 2133,13 1475,13
69,11 658 30,89
Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
Tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh tăng liên tục qua các năm đặc biệt là năm