Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng công thương khu vực II Hai Bà Trưng - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, cộng thêm sự cạnh
tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường. Đặc biệt với sự kiện trọng đại của nước ta
trong năm 2006 vừa qua, đó là chúng ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
WTO, đã đưa hệ thống các Ngân hàng đứng trước những cơ hội và thách thức lớn. Do
vậy đòi hỏi các Ngân hàng không những phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng mà còn phải có những chính sách quản lý chặt chẽ và linh hoạt. Từ đó mới có
thể cạnh trạnh với các cường quốc trên thế giới khi họ thâm nhập vào Việt Nam.
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó DNV&N chiếm một phần đáng
kể, phát triển với quy mô ngày càng lớn mạnh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất
lượng hàng hoá dịch vụ vươn lên cạnh tranh với hàng hoá dịch vụ của các nước trong
khu vực và thế giới. Bởi vậy mà nhu cầu vốn của các doanh nghiệp này ngày càng
tăng và các NHTM là nơi cung cấp nguồn vốn chủ yếu để các doanh nghiệp thực hiện
chiến lược sản xuất kinh doanh. Vì thế sự phát triển của các NHTM có ý nghĩa quan
trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.
NHTM hoạt động kinh doanh vừa với danh nghĩa là một doanh nghiệp tổ chức
hạch toán kinh doanh vừa với vai trò trung gian tài chính. Với vai trò là trung gian tài
chính, ngân hàng tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân
phối cho các nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, theo nguyên
tắc tín dụng. Các rủi ro của tất cả các doanh nghiệp vay vốn đều ít nhiều trực tiếp
hoặc gián tiếp tác động, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NHTM. Vì thế hoạt
động cho vay được đảm bảo, an toàn, hiệu quả, có chất lượng cao và đúng pháp luật
có ý nghĩa sống còn đối với mỗi ngân hàng.
Nhận thức được vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
nói chung và DNV & N nói riêng, cũng như trong thời gian khảo sát thực tế về tình
hình tín dụng tại chi nhánh NHCT khu vực II Hai Bà Trưng đối với DNV & N, trong
thời gian thực tập, em đã chọn đề tài:
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
1
“Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi

1.1.1. Khái niệm tín dụng.
Danh từ “Tín dụng” xuất phát tù gốc Latinh Creditum có nghĩa là một sự tin
tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân gian
Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.
Khó có có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng, tuỳ theo góc độ nghiên
cứu mà có thể có những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên các khái niệm đều thể hiện
hai nội dung chủ yếu:
- Thứ nhất: Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác
sử dụng trong một thời gian nhất định.
- Thứ hai: Người sử dụng cam kết hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá đó cho người sở
hữu với một giá trị lớn hơn, đó gọi là lợi tức hay là tiền lãi.
Quá trình vận động đó được biểu diễn trên sơ đồ sau:
Cho vay
Hoàn trả
Người cho vay Người đi vay
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
3
Người sử dụng
Người sở hữu
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở
hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lai quay về với một lượng giá trị
lớn hơn giá trị ban đầu.
Theo quan điểm này phạm trù tín dụng có ba nội dung chủ yếu đó là: Tính chuyển
nhượng tạm thời một giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay
thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
hoặc hàng hoá, thể hiện qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn một: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, giá
trị vốn tín dụng được chuyển sang cho người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được

- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là
người đi vay phải trả thêm lãi ngoài phần vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn
trả vô điều kiện.
Việc các Ngân hàng Thương mại tập trung tiền vốn dưới hình thức huy động vốn
và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín dụng ngân hàng. Chính nhờ
có tín dụng ngân hàng mà những đồng tiền nhàn rỗi trở thành tiền hoạt động, biến tiền
phân tán thành nguồn vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, từ đó
thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập hiện nay.
1.1.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với
nhiều hình thức khác nhau. Người ta phân loại tín dụng dựa trên nhiều tiêu thức vì:
- Thứ nhất: Phân loại tín dụng để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả.
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
5
- Thứ hai: Để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh thì việc cấp tín dụng phải
gắn liền với đối tượng vay, nhằm tạo điều kiện cho sự vận động của vốn phù hợp với
sự vận động của vật tư hàng hoá.
- Thứ ba: Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng là huy động từ nền kinh tế, từ
vốn tạm thời nhàn rỗi của cá nhân và các doanh nghiệp được giải phóng ra khỏi quá
trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm nhiều
loại: Tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn…Do đó phải tiến hành phân loại tín
dụng để thực hiện cân đối giữa vốn và sử dụng vốn trong Ngân hàng Thương mại,
giúp cho quá trình quản lý điều hành ngày càng có hiệu quả.
1 .1.2.1 Dựa vào thời hạn cho vay
* Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn hết 12 tháng và được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân.
* Cho vay trung hạn: Có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng trung hạn

của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
* Cho thuê: Bao gồm cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê
bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị.
1.1.2.3 D ựa vào mức độ tín nhiệm
* Cho vay không đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng.
* Cho vay có đảm bảo là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp
hoặc cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
1.1.2.4 D ựa vào phương pháp hoàn trả
* Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo
hợp đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm:
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
7
- Cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp) là loại cho vay
thanh toán một lần theo thời hạn đã thoả thuận.
- Cho vay có nhiều kì hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp: Là loại
cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này
chủ yếu được áp dụng đối với người kinh doanh nhỏ, cho vay để mua sắm máy móc
thiết bị.
- Cho vay hoàn trả nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà việc trả nợ
phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay, hoặc cho vay này được áp dụng
theo kỹ thuật thấu chi.
Đối với loại cho vay có thời hạn, khách hàng có thể trả nợ trước thời hạn nhưng
ngân hàng được quyền thu lãi trong toàn bộ kỳ trả nợ theo hợp đồng, trừ trường hợp
có thoả thuận khác.
* Cho vay không có thời hạn cụ thể: Ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người vay tự
nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này
có thể được thoả thuận trong hợp đồng.

trong giai đoạn thử thánh của quá trình hội nhập nên khả năng tích luỹ vốn chưa được
vững mạnh. Tiêu chí về DNV &N của nước ta được xác định dựa vào hai chỉ tiêu
(Vốn <= 10 tỷ; Lao động <=300 người). Với tiêu chí như vậy mà các DNV &N đã tồn
tại những hạn chế: Không mở rộng kinh doanh được; Khó cạnh tranh trong bối cảnh
hội nhập của nước ta hiện nay; Khó đầu tư tài chính như liên doanh liên kết và đầu tư
chứng khoán... Vì vậy các DNV &N phải dựa vào các NHTM để có sự hỗ trợ về vốn
kinh doanh.
Thực tế hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta đang có nhu cầu bức
xúc về vốn để phát triển doanh nghiệp, lo lắng làm sao vay được vốn để vừa sức chi
trả mà vẫn đảm bảo kinh doanh có lãi, đồng thời tìm được chỗ vay thích hợp với lãi
suất hợp lý. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, mặc dù số lượng các doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng trên 80% trong tổng số doanh nghiệp của cả nước,
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
9
song tổng số vốn cho sản xuất kinh doanh mới chỉ chiếm khoảng hơn 30% so với tổng
số vốn của các doanh nghiệp trong cả nước. Điều này phản ánh mức độ thu hút vốn
vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa & nhỏ đều gặp khó khăn thiếu vốn
để sản xuất và mở rộng để sản xuất. Thực tế các doanh nghiệp này không được tiếp
cận nhiều với những khoản vay trung dài hạn. Hiện nay chỉ có khoảng 30% số doanh
nghiệp nhỏ được vay vốn để bổ sung số vốn ít ỏi của mình. Trong số đó, chỉ có một
số doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng (có khoảng 30%) còn
đại đa số (70%) thường dựa vào thị trường tài chính, chọn giải pháp huy động vốn
trong gia đình, họ hàng, bạn bè và sử dụng tín dụng thương mại của các đối tác kinh
doanh (mua trả chậm). Rất nhiều chủ doanh nghiệp vừa & nhỏ cho rằng tốc độ tăng
trưởng và khả năng cạnh tranh của họ bị hạn chế là do không có khả năng tiếp cận
nguồn vốn tín dụng cũng như do chi phí lãi vay quá cao. Thiếu vốn, các doanh nghiệp
này không những bị ảnh hưởng đến qui mô, công nghệ sản xuất ngay từ khi mới thành
lập mà khi đi vào hoạt động khả năng duy trì, mua nguyên vật liệu, khả năng hiện đại
hoá và mở rộng sản xuất cũng bị hạn chế rất nhiều.

giao.
Với các định nghĩa như vậy, ta thấy chất lượng tín dụng được đánh giá trên ba
góc độ: Ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
- Đối với ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức
độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với năng lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo
tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
- Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được đánh giá theo tính chất phù hợp
với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý. Bên cạnh đó
là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng được đánh giá qua mức phục vụ sản
xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và
tăng trưởng kinh tế, hoà nhập với cộng đồng quốc tế…
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
11
1.3.2. Các tiêu thức đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng
Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại, trong đó
tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Do đó, chất lượng tín dụng là một trong
những nhân tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Nó
quyết định đến khả năng sinh lời, thế lực và độ an toàn trong kinh doanh của ngân
hàng. Cũng như tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế, các ngân hàng mong muốn
sản phẩm mình cung cấp cho nền kinh tế (trong đó quan trọng nhất là các khoản cho
vay) sẽ đạt được chất lượng cao cũng như có nhiều khách hàng đến sử dụng sản phẩm
của ngân hàng. Tuy nhiên ngân hàng có quan hệ với nhiều khách hàng thuộc mọi lĩnh
vực và mọi thành phần kinh tế nên việc nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng là
một vấn đề rất phức tạp. Để có thể nâng cao chất lượng tín dụng thì đo lường chất
lượng tín dụng là một nội dung quan trọng. Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá
chất lượng tín dụng ngân hàng tuỳ theo mục đích phân tích, tuy mỗi chỉ tiêu có nội
dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau.
1.3 .2.1 Các khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế có thu hồi được

* Dư nợ (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) / Tổng dư nợ: Đây là chỉ tiêu định
lượng, xác định cơ cấu tín dụng trong trường hợp dư nợ được phân loại theo thời hạn
cho vay (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn). Chỉ tiêu này còn cho thấy biến động của tỷ
trọng giữa các loại dư nợ tín dụng của một ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau.
1.3.2.3 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả hay
không của ngân hàng.
1.3 .2.4 Chỉ tiêu thu lãi từ hoạt động cho vay
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
13
Đây là chỉ tiêu quan trọng vì qua chỉ tiêu này ngân hàng biết được hiệu quả của
hoạt động cho vay. Việc thu lãi cũng rất quan trọng bởi hoạt động của ngân hàng chủ
yếu là đi vay để cho vay. Để huy động và đi vay được vốn thì ngân hàng phải trả lãi
cho người cho vay thêm vào đó là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt
động đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn để bù đắp. Vì vậy việc thu lãi cho vay đầy đủ
và đúng hạn sẽ đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được tiến hành bình thường
đồng thời cũng phản ánh tính lành mạnh của các khoản tín dụng. Ngoài ra ta có thể sử
dụng chỉ tiêu:
` Thu lãi từ hoạt động cho vay / Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng, cứ một đồng đầu tư tín
dụng thì thu được bao nhiêu đồng. Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ chất lượng tín
dụng tốt.
Ngoài các chỉ tiêu trên ta còn có thể sử dụng chỉ tiêu: Chênh lệch lãi suất tín dụng
Chênh lệch lãi suất Lãi suất bình quân Lãi suất bình quân
= -
tín dụng về cho vay tiền gửi

ngân hàng nào hoạt động cũng mong muốn tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi cho
phép. Với tư cách là hoạt động sinh lời chủ yếu thì việc nâng cao chất lượng tín dụng
sẽ góp phần đảm bảo và làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời tạo điều kiện
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng không chỉ từ nghiệp vụ tín dụng mà còn từ các dịch
vụ khác mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Bởi vì khi ngân hàng và khách hàng
có mối quan hệ tốt, thường xuyên, đáng tin cậy trong hoạt động tín dụng cũng sẽ thu
hút, hấp dẫn khách hàng đến với ngân hàng để thực hiện các dịch vụ khi họ có nhu
cầu về loại sản phẩm dịch vụ nào đó của ngân hàng.
1.4.2 Mục tiêu tạo được uy tín, thế lực trên thị trường.
Bùi Thị Ngọc Phương MSV: 03A01116 – Lớp
8A101
15

Trích đoạn Định hướng của Ngân hàng Nhà nước về chất lượng tín dụng. Về hoạt động tín dụng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status