Tài liệu LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Tp Hà Nội - Pdf 10


LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài
hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại Chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Tp Hà Nội LỜI MỞ ĐẦU

Hoạt động ngân hàng là một mắt xích không thể thiếu trong sự vận động của nền
kinh tế. Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam, trong đó có Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã có những đổi mới sâu sắc, những bước phát triển mạnh
đóng góp tích cực vào kiềm chế lạm phát, ổn định lưu thông tiền tệ và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội, trải qua 50 năm xây
dựng và phát triển đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, luôn giữ vai trò đầu tàu
trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Trước bối cảnh cạnh tranh mới
trong nền kinh tế, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội đã thực hiện triệt để các biện
pháp để lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính song song với xử lý tốt nợ tồn
đọng, cơ cấu lại hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng
đã không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị
phần để khẳng định vị thế và nâng cao tính cạnh tranh của Ngân hàng trên địa bàn.
Trong hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội, hoạt động tín dụng
đóng vai trò then chốt, mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng ẩn chứa nhiều rủi ro, đặc biệt


CHƯƠNG 1
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân
hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặt biệt là chính sách tiền tệ, do vậy ngân hàng là
một kênh quan trọng trong chính sách của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế.
Khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) được tiếp cận trên nhiều phương diện.
Căn cứ vào các hoạt động chủ yếu của NHTM, Điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng sửa
đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi:
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân
hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với

tư và trung gian khác.
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần
lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Trong nghiệp vụ này, ngân
hàng chuyển giao tạm thời quyền sử dụng vốn cho bên đi vay, sau một khoảng thời gian
nhất định bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho Ngân hàng.
Ngân hàng đầu tư vào chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hóa tài sản.
Các loại chứng khoán mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để gia tăng ngân
quỹ khi cần thiết. Ngân hàng nắm giữ nhiều loại chứng khoán như chứng khoán Chính
phủ, giấy nợ ngắn hạn của các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính…

Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện các hoạt động khác như tham gia góp vốn với
các tổ chức khác, cung cấp các dịch vụ liên quan đi kèm cho khách hàng để thu phí hoa
hồng…
1.2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa hai chủ thể, trong đó
có sự chuyển giao một lượng giá trị từ chủ thể này sang chủ thể khác theo những điều
kiện mà hai bên thỏa thuận. Quan hệ tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như
tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng…
Tín dụng ngân hàng là hình thức phát triển cao nhất, thể hiện mối quan hệ tín dụng
bằng tiền tệ, giữa một bên là ngân hàng-tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ,
với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Quan hệ này được thực hiện trên cơ sở
tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi.
Theo điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự
có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận
để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ
cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.”
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì khối lượng tín dụng ngân hàng được thực hiện
càng lớn. Tín dụng ngân hàng hiện nay đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị

ngân hàng. Hơn nữa, thương phiếu có tính thanh khoản cao nên ngân hàng có thể thực
hiện tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước.
- Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo
những thỏa thuận nhất định. Sau một thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc và
lãi cho ngân hàng.
1.2.2.3. Căn cứ theo tài sản đảm bảo
Theo tiêu thức này, tín dụng được chia thành 2 loại:

- Tín dụng không có tài sản đảm bảo : loại tín dụng này có thể được cấp cho các
khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài
chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa…
- Tín dụng có tài sản bảo đảm : là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế
chấp hoặc cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý
để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc
chắn.
1.2.3. Tín dụng trung, dài hạn của NHTM
1.2.3.1. Khái niệm và các hình thức tín dụng trung, dài hạn của NHTM
Quan niệm về tín dụng trung, dài hạn rất khác nhau ở các nước trên thế giới. Ở Việt
Nam, tín dụng trung, dài hạn là các khoản tín dụng có thời hạn trên 1 năm.
- Tín dụng trung hạn : từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản cố định như
phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn.
- Tín dụng dài hạn : trên 5 năm tài trợ cho các công trình xây dựng như nhà, sân
bay, cầu đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu.
Dựa và mục đích cho vay, tín dụng trung, dài hạn được phân chia thành nhiều hình
thức khác nhau:
- Cho vay kỳ hạn : thường dùng để tài trợ cho các mục đích chung của doanh
nghiệp, bao gồm tài trợ mua sắm bất động sản phục vụ sản xuất kinh doanh, các thiết bị
sản xuất, tài trợ vốn cho việc thanh toán các khoản nợ như nợ đến hạn mua máy móc thiết
bị trả chậm nước ngoài đã được ngân hàng bảo lãnh…Việc thanh toán tiền theo định kỳ
có thể bằng nhau hoặc khác nhau, có thời hạn ân hạn.

Ngoài ra, do các khoản tín dụng trung, dài hạn có tính thanh khoản thấp, khả năng
chuyển đổi thành tiền thấp hoặc chịu chi phí cao nên ngân hàng thường đặt mức lãi suất
cao cho các khoản vay này. Thêm vào đó, các khoản tín dụng trung, dài hạn có số vốn
lớn nên thu nhập mà các khoản tín dụng này đem lại cho ngân hàng là lớn.
1.3. Doanh nghiệp xây lắp
1.3.1. Khái niệm doanh nghiệp xây lắp

Doanh nghiệp xây lắp (hay còn gọi là doanh nghiệp xây dựng) là doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký
kinh doanh về xây dựng (Theo điều 16 Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 của
Chính phủ).
Các doanh nghiệp này thực hiện quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo các
công trình nhà máy, đường xá, cầu cống, nhà cửa… nhằm phục vụ sản xuất và đời sống
xã hội.
Trách nhiệm của các doanh nghiệp xây lắp :
- Đăng ký hoạt động xây dựng tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp
luật.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng với
chủ đầu tư, bao gồm số lượng, chất lượng, tính chính xác của sản phẩm theo thời gian
thực hiện hợp đồng, thực hiện bảo hành chất lượng sản phẩm xây dựng theo quy định.
- Thực hiện an toàn lao động, các chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, bảo vệ môi
trường sinh thái trong quá trình xây dựng…Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của
doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn.
1.3.2. Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp xây lắp
Hoạt động của từng doanh nghiệp xây lắp phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh
mà doanh nghiệp đăng ký với pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động cơ bản của doanh nghiệp
xây lắp thường bao gồm như sau:
- Xây dựng
+ Xây dựng các công trình công nghiệp, công cộng và dân dụng : các nhà máy (cơ
khí, điện, điện tử viễn thông, hóa chất, hóa dầu, phân bón, may mặc da giày, thuốc lá…),

ngành xây lắp cũng như đặc điểm về sản phẩm của ngành.
- Sản phẩm xây lắp là các công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp. Sản phẩm
xây lắp mang tính cố định, nơi sản xuất ra sản phẩm đồng thời là nơi sản phẩm được
hoàn thành và đưa vào sử dụng. Các điều kiện sản xuất như vật liệu, lao động, máy móc
thi công phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm công trình.

Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất. Việc bố trí các công
trình tạm phục vụ thi công như lán trại cùng phương tiện, máy móc thiết bị làm nảy sinh
nhiều vấn đề phức tạp và tốn kém. Do đó, các doanh nghiệp xây lắp cần lựa chọn loại
hình tổ chức quản lý sản xuất thích hợp, linh hoạt, tăng cường tính cơ động về mặt trang
thiết bị, máy móc phục vụ thi công.
- Quá trình xây dựng lâu dài, chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên, khiến cho
máy móc thiết bị, công trình dễ bị hư hỏng, ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Đặc điểm
này làm cho các đơn vị xây lắp không lường trước được hết những khó khăn do tác động
của thời tiết, khí hậu. Rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tới tiến độ thi công công trình, giá
thành công trình, thậm chí cả chất lượng công trình.
Hơn nữa, cũng do quá trình xây dựng kéo dài nên đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp
phải lập dự toán (dự toán thiết kế và thi công). Dự toán là chi phí cần thiết cho việc đầu
tư xây dựng được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật xây dựng, không vượt
tổng mức đầu tư đã duyệt.
- Sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, thường được sản xuất theo đơn đặt hàng.
Vì thế, chi phí bỏ vào sản xuất cũng khác nhau giữa các công trình. Chi phí cho sản phẩm
xây lắp rất đa dạng, phong phú, sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu, máy móc thi công và
nhiều loại thợ các ngành nghề khác nhau.
- Sản phẩm xây lắp có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản phẩm có ý
nghĩa quyết định. Vì vậy, mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa, gây
thiệt hại nghiêm trọng. Do vậy, trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra,
giám sát chất lượng công trình.
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc theo giá thỏa thuận với chủ
đầu tư (hay giá đấu thầu). Do vậy, tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể

doanh nghiệp bàn giao những công trình không đảm bảo chất lượng và thời gian thì có
thể sẽ không được chủ đầu tư chấp nhận, gây khó khăn cho việc thanh quyết toán và uy
tín của doanh nghiệp xây lắp sẽ bị giảm.
1.3.3.3. Về tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp

- Vốn tự có của doanh nghiệp xây lắp thấp, chủ yếu là máy móc thiết bị đã qua sử
dụng. Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp xây lắp chỉ chiếm khoảng 5-
15% trong tổng nguồn vốn, còn lại là vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng khác. Do đó,
gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất lượng công
trình đòi hỏi doanh nghiệp phải trang bị những thiết bị thi công hiện đại. Vì vậy, nhu cầu
vốn (cả vốn lưu động và vốn đầu tư trung, dài hạn) ngày càng tăng. Do đó, trong hoạt
động của các đơn vị này, nhu cầu vay vốn ngân hàng để tài trợ là thường xuyên và rất
lớn.
- Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp xây lắp thường chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các ngân hàng thường cho vay các
doanh nghiệp xây lắp chủ yếu để tài trợ vốn lưu động, phục vụ thi công các công trình.
Đối với nhu cầu đầu tư mới, ngân hàng thường chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn
lại các doanh nghiệp xây lắp phải bỏ vốn tự có của mình.
- Tốc độ chu chuyển vốn trong các doanh nghiệp xây lắp thường không cao. Do
quy mô lớn, thời gian sản xuất kéo dài nên vốn dùng để đầu tư vào công trình dễ bị ứ
đọng, gây ra tình trạng thất thoát lãng phí. Nếu công trình thiếu vốn hoạt động thì quá
trình thi công sẽ bị gián đoạn, thời gian xây dựng bị kéo dài hơn. Khi công trình hoàn
thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh toán phụ thuộc nhiều vào chủ đầu tư. Do
vậy, các doanh nghiệp xây lắp thường bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài, tốc độ quay
vòng vốn lưu động thấp. Nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho thi công lớn trong khi vốn
chủ sở hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn nên các doanh nghiệp xây lắp phải huy
động vốn bên ngoài, chủ yếu là vốn vay ngân hàng.
1.3.3.4. Về tổ chức quản lý của doanh nghiệp xây lắp
Hoạt động tổ chức quản lý, điều hành có ảnh hưởng lớn đến tiến độ hoàn thành,

nắm được tình hình tổ chức cũng như chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với
vai trò của mình, tín dụng ngân hàng góp phần điều hòa vốn giữa các doanh nghiệp xây
lắp, thúc đẩy toàn bộ ngành xây dựng phát triển, tăng cường chữ tín với khách hàng.

Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng đặc biệt là tín dụng trung, dài hạn thường được tập
trung tài trợ cho các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Điều này bắt buộc
các doanh nghiệp xây lắp phải chủ động đứng vững và có sức cạnh tranh lớn trên thị
trường.
Hơn nữa, khi cho vay, ngân hàng thường tìm hiểu tình hình tài chính của doanh
nghiệp, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, rủi ro của doanh nghiệp. Do vậy, để có thể vay vốn
ngân hàng, các doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng tài chính tốt. Tín dụng ngân hàng
trở thành công cụ kích thích quá trình sản xuất, quản lý kinh tế, kiểm tra, giám sát các
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Tín dụng trung, dài hạn góp phần tác động đến tăng cường chế độ hạch toán kinh
tế của doanh nghiệp xây lắp.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng là dựa trên cơ sở cho vay có hoàn trả cả
gốc và lãi. Điều này buộc các doanh nghiệp phải tính toán để có một tỷ lệ lãi trên vốn vay
lớn hơn lãi suất cho vay của ngân hàng, kích thích việc sử dụng vốn có hiệu quả. Khi sử
dụng vốn vay ngân hàng, các doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay đúng
hạn, thực hiện đúng theo hợp đồng tín dụng.Vì thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải sáng
tạo trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay vốn,
nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp.
Tóm lại, tín dụng trung, dài hạn có vai trò rất quan trọng, được coi như một mắt
xích không thể thiếu đối với hoạt động của các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế.
Tín dụng trung, dài hạn mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, giúp doanh nghiệp làm ăn
có lãi. Đặc biệt trong điều kiện Việt Nam hiện nay, khi cơ cấu kinh tế nhiều mặt chưa
hợp lý, thất nghiệp ở mức độ cao, thì đầu tư tín dụng trung, dài hạn góp phần sắp xếp lại
sản xuất, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Hoạt động tín dụng trung, dài hạn
giúp cho việc khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, nguồn tài nguyên, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, góp phần giải quyết tốt các vấn đề của xã hội.

Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ
nên ngoài việc đảm bảo an toàn vốn vay thì việc gia tăng lợi nhuận là mục tiêu mà ngân

hàng luôn hướng tới. Một khoản cho vay có chất lượng là khoản cho vay được hoàn trả
đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi.
Ngoài ra, chất lượng tín dụng đối với ngân hàng thương mại còn được đánh giá qua
khả năng mở rộng thị phần, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ, tối ưu hóa lợi nhuận
ngân hàng.
Như vậy, có thể thấy chất lượng tín dụng là mục tiêu tổng hợp, phản ánh mức độ
thích nghi của ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thể hiện
sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn phản ánh kết quả hoạt động tín dụng trung, dài
hạn của ngân hàng thương mại. Chất lượng tín dụng trung, dài hạn được thể hiện qua các
chỉ tiêu như chỉ tiêu khả năng sinh lãi, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu…
1.5.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn
1.5.2.1. Các chỉ tiêu định tính
- Các khoản tín dụng trung, dài hạn được thực hiện theo đúng quy trình tín dụng.
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín
dụng. Việc có thực hiện đúng các quy trình tín dụng hay không ảnh hưởng trực tiếp đến
tính an toàn và khả năng sinh lời của khoản vay.
- Thời gian xét duyệt một khoản tín dụng trung, dài hạn. Tín dụng trung, dài hạn
thường được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư, mua sắm trang thiết bị. Do độ rủi ro
cao nên thời gian xét duyệt tín dụng trung, dài hạn thường dài hơn so với một khoản tín
dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu thời gian xét duyệt quá dài sẽ gây ảnh hưởng đến nhu cầu
vốn, khả năng sản xuất kinh doanh của khách hàng. Đối với doanh nghiệp xây lắp, thời
gian xét duyệt tín dụng ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành công trình, khả năng thực hiện
hợp đồng của doanh nghiệp xây lắp.
- Mức độ hài lòng của khách hàng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Tuy nhiên, những chỉ tiêu định tính này rất khó để có thể lượng hóa, với những
khách hàng khác nhau thì sự thỏa mãn và đánh giá sẽ khác nhau. Vì thế, ngân hàng

doanh nghiệp xây lắp Dư nợ tín dụng TDH Chỉ tiêu dư nợ tín dụng trung, dài hạn đối với doanh nghiệp xây lắp phản ánh quy
mô và sự tăng trưởng hoạt động tín dụng trung, dài hạn đối với doanh nghiệp xây lắp của
ngân hàng. Tổng dư nợ tín dụng trung, dài hạn đối với doanh nghiệp xây lắp cao và tăng
trưởng cho thấy ngân hàng đã và đang mở rộng thị phần trong ngành xây lắp. Ngược lại,
dư nợ tín dụng trung, dài hạn đối với doanh nghiệp xây lắp qua các năm giảm chứng tỏ
chính sách thu hẹp tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng.
Chỉ tiêu dư nợ tín dụng trung, dài hạn đối với DNXL cần xem xét kết hợp với chỉ
tiêu tỷ trọng dư nợ tín dụng trung, dài hạn đối với DNXL để đánh giá đầy đủ hơn về tình
hình tăng trưởng tín dụng đối với các doanh nghiệp thuộc ngành nghề này. Chỉ tiêu dư nợ
tín dụng mới chỉ phản ánh sự tăng trưởng tuyệt đối nhưng nếu dư nợ trung, dài hạn đối
với DNXL tăng với tốc độ thấp hơn dư nợ tín dụng trung, dài hạn thì tỷ trọng này lại
giảm. Điều này phụ thuộc chủ yếu vào chính sách tín dụng của ngân hàng trong từng thời
kỳ.
Tỷ trọng dư nợ trung, dài hạn mới chỉ đánh giá được một phần chất lượng tín dụng
trung, dài hạn của ngân hàng. Để đánh giá cụ thể hơn, ta cần xem xét đến tính an toàn,
lành mạnh và khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung, dài hạn.
* Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN : “nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần
hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Một khoản vay không trả đầy đủ, đúng hạn
như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì trở thành nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín
dụng của ngân hàng, phản ánh những rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải
đối mặt. Tỷ lệ này được xác định qua công thức sau :
Dư nợ quá hạn trung, dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = ————————————————
trung và dài hạn Tổng dư nợ tín dụng trung, dài hạn


Qua chỉ tiêu này, ngân hàng có thể xem xét đánh giá khả năng trả nợ của các
DNXL, trên cơ sở đó có những chính sách tín dụng thích hợp đối với ngành nghề này.
* Chỉ tiêu lợi nhuận
Chất lượng tín dụng của ngân hàng ngoài yêu cầu an toàn còn cần tạo ra lợi nhuận.
Nếu một khoản tín dụng chỉ thu được gốc mà không thu được lãi thì sẽ không tạo ra thu
nhập cho ngân hàng, không bù đắp được những chi phí mà ngân hàng bỏ ra để huy động
vốn và các chi phí khác. Do vậy, việc phân tích chỉ tiêu lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng
đối với đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng nói chung cũng như đánh giá chất
lượng tín dụng trung, dài hạn nói riêng.

Lợi nhuận từ tín dụng trung, dài hạn
Chỉ tiêu lợi nhuận = ————————————————
Tổng dư nợ tín dụng trung, dài hạn
Chỉ tiêu lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung, dài hạn. Khi bỏ ra
một đồng vốn cho vay, ngân hàng sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Xét trên giác độ ngân hàng, nếu chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ lợi nhuận thu được
từ tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng càng lớn. Khi khoản tín dụng được đầu tư hiệu
quả, doanh nghiệp có lợi nhuận sau khi trả nợ cả gốc và lãi cho ngân hàng. Ngân hàng
cũng thu được lợi nhuận từ khoản vay. Từ đó, chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng tăng, có
thể kết luận chất lượng tín dụng của ngân hàng đã được nâng cao.
Tuy nhiên, nếu trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn vay không hiệu quả,
phải dùng nguồn vốn khác để trả nợ ngân hàng thì không thể kết luận chất lượng tín dụng
của ngân hàng đã được nâng cao. Do vậy, khi đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn
qua chỉ tiêu lợi nhuận, cần xem xét dưới hai giác độ ngân hàng-chủ thể cho vay và doanh
nghiệp-chủ thế đi vay.
Đối với doanh nghiệp xây lắp, ngân hàng sử dụng chỉ tiêu sau :
Lợi nhuận từ tín dụng TDH đv DNXL
Tỷ trọng thu nhập từ tín dụng = ————————————————
TDH đối với DNXL Tổng lợi nhuận từ tín dụng TDH


Ngoài ra, các chính sách về lãi suất, phí suất tín dụng, thời hạn tín dụng hay chính
sách về bảo đảm tiền vay cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng trung, dài hạn của
ngân hàng. Những chính sách hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế rủi ro trong hoạt
động tín dụng đặc biệt là tín dụng trung, dài hạn, mở rộng khách hàng, tăng trưởng dư nợ
tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng.
* Chất lượng thông tin
Thông tin rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực
ngân hàng. Ngân hàng trước khi cấp tín dụng phải tiến hành thu thập và xử lý các thông
tin liên quan như năng lực sử dụng vốn vay, khả năng tạo ra lợi nhuận, nguồn ngân quỹ
và các điều kiện kinh tế khác liên quan đến người vay. Số lượng và chất lượng các thông
tin thu thập được liên quan trực tiếp đến mức độ chính xác trong việc phân tích, nhận
định thị trường, khách hàng… để đưa ra các quyết định đúng đắn.
Các khoản tín dụng trung, dài hạn chủ yếu để tài trợ cho các dự án đầu tư, mua sắm
máy móc thiết bị. Các khoản vay này thường có giá trị lớn, thời hạn dài nên việc thu thập
thông tin là rất quan trọng. Ngân hàng cần thu thập các thông tin liên quan đến ngành
nghề, lĩnh vực, thị trường để đánh giá khả năng thực hiện của dự án.
Cho vay đối với DNXL thường gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập thông tin về
năng lực tài chính, năng lực quản lý kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến việc đánh giá
sai về khách hàng hoặc bị khách hàng lừa đảo, lợi dụng. Nếu thông tin về khách hàng bị
sai lệch, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao, có khả năng bị mất vốn, chất
lượng tín dụng thấp.
* Trình độ cán bộ tín dụng
Yếu tố con người luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động ngân
hàng, quyết định sự thành bại của hoạt động ngân hàng. Trong nghiệp vụ tín dụng, cán bộ
tín dụng là người trực tiếp liên quan đến các khâu của quy trình tín dụng như tiếp nhận hồ
sơ, thẩm định đến khi tất toán khoản vay, thanh lý hợp đồng. Vì vậy, trình độ năng lực,
phẩm chất của cán bộ tín dụng là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo chất
lượng tín dụng ngân hàng.

Cán bộ tín dụng có kiến thức vững vàng về nghiệp vụ, am hiểu về ngành nghề, lĩnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status