nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Hà Nội - Pdf 20

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 1
Lời nói đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nh hiện nay , bất kỳ một quốc gia nào trên
thế giới cũng coi mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng cần đạt đợc .
Nhng để đạt đợcmụa tiêu quan trọng đó đòi hỏ chính phủ phải có những chính
sách , chiến lợc phù hợp và hiệu quả để sử dụng tối đa những nguồn lực hiện có
của đất nớc mình , đồng thời phải kế thừa và phát triển những tinh hao của thế
giới .
Trong nền kinh tế thị trờng thì thị trờng tài chính đóng vai trò hết sức
quan trọng , sự lớn mạnh của thị trờng tài chính nó ảnh hởng rất lớn đến nền
kinh tế của một quốc gia và cuả cả thế giới . Chủ thể quan trọng của thị trờng tài
chính là Ngân hàng , nó có mặt trong tất cả các mối quan hệ kinh tế trong nền
kinh tế thị trờng . Vì thế muốn một nền kinh tế ổn định và phát triển thì đòi hỏi
bản thân hệ thống Ngân hàng cũng phải ổn định và phát triển bởi nếu nó không
ổn định thì nó sẽ phá vỡ sự ổn định trong các mối quan hệ kinh tế từ đó dẫn đến
làm suy giảm nền kinh tế .
Tín dụng là một trong ba nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thơng mại đó là:
Nhận tiền gửi , hoạt động tín dụng, trung gian thanh toán , hơn nữa nó là nguồn
sinh ra lợi nhuận nhiều nhất cho Ngân hàng thơng mại vì thế mà muốn hệ
thống Ngân hàng ổn định và phát triển thì đòi hỏi chất lợng hoạt động tín dụng
cũng phải ổn định và hiệu quả .
Xuất phát từ quan điểm đó mà em đã chọn đề tài nghiên cứu là :
Một số giải pháp nhằm nâng cao chât lợng tín dụng ngắn hạn tại Chi
nhánh Ngân hàng Đầu t & Phát triển Bắc Hà nội .
Với thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu t & Phát triển Bắc Hà
nội , một Chi nhánh hoạt động trên địa bàn Gia Lâm cùng với số liệu thống kê từ
năm 2000 trở lại đây em hy vọng rằng mình sẽ đóng góp một phần nhỏ bé nào đó
của mình vào công cuộc Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Kết cấu của chuyên đề nghiên cứu gồm:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

1.1.khái niệm và đặc điểm của tín dụng.
1.1.1. Khái niệm .
Trong nền kinh tế hàng hoá tiền là phơng tiện thanh toán chủ yếu trong tất
cả các muối quan hệ kinh tế, nền kinh tế hàng hoá càng phát triển bao nhiêu thì
tốc độ quay vòng của đồng tiền càng nhanh bấy nhiêu, lúc này bản thân mỗi chủ
thể kinh tế không thể tự đáp ứng đợc nhu cầu về vốn của mình mà họ phải dựa
vào các chủ thể kinh tế khác đặc biệt là Các tổ chức tín dụng thông qua quan hệ
tín dụng mới có thể đáp ứng đợc nhu cầu vốn của mình. Chính vì thế ta có thể
nói cơ sở hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng chính là sự tin tởng và
nhu cầu về vốn trong nền kinh tế hàng hoá. Từ cơ sở hình thành đó ta có thể đu
ra một khái niệm chung về quan hệ tín dụng nh sau :
Tín dụng là quan hệ vay mợn, sử dụng vốn của lẫn nhau một cách tạm thời
và dựa trên nguyên tắc hoàn trả tin tởng.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy tín dụng không phải là quan hệ mua bán , chỉ
xảy ra trong thời gian nhất định và phải đợc xác định trên cơ sở tin tởng lẫn
nhau. Nói chung đứng trên mỗi góc độ khác nhau ngời ta sẽ có cách hiểu khác
nhau về tín dụng , chính vì thế mà theo Luật các tổ chức tín dụng của Việt nam
đã đa ra định nghĩa về hoạt động tín dụng nh sau:
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng vốn tự có, vốn huy động
để cấp tín dụng . Trong đó cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 4
khách hàng sử dụng khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho
vay , chiết khấu , cho thuê tài chính , bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác .
Dù đứng trên quan điểm nh thế nào chăng nữa thì bản chất hoạt động tín
dụng không hề thay đổi: Trong quan hệ tín dụng ngờn cho vay chỉ nhờng
quyền sử dụng vốn cho ngời đi vay trong một thời gian nhất định chứ không
nhờng quyền sở hữu và ngời đi vay phải hoàn trả lại cho ngời cho vay khi đến
hạn đã thoả thuận . Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà còn
đợc tăng thêm dới hình thức lãi suất.

hai yếu tố còn lại. Nếu có vốn thì mỗi doanh nghiệp sẽ mua đợc máy móc
thiết bị , vây dựng nhà xởng v.v.v. Đồng thời họ cũng thuê đợc lao động ,
đào tạo đợc đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn ngày càng cao hơn.
Nhng rõ ràng là với số vốn tự có của mình thì bản thân mỗi doanh nghiệp sẽ
không thể đảm bảo đợc tất cả các mối quan hệ kinh tế , chính vì thế mà trong
nguồn vốn của doanh nghiệp luôn tồn tại hai nguồn chính đó là Nợ và Vốn chủ
sở hữu. Do đó quan hệ tín dụng đợc hình thành một cách khách quan trong
chính nhu cầu của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trờng , chỉ có quan
hệ tín dụng ra đời mới đáp ứng đợc nhu cầu của nền kinh tế nói chung , các
doanh nghiệp nói riêng . Ngân hàng sẽ là tổ chức tài chính trung gian cung cấp
nghiệp vụ đó , đồng thời là ngời điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu góp
phần làm ổn định và phát triển nền kinh tế .
1.2.2. Trong nền kinh tế thị trờng ở bất kỳ thời điểm nào cũng xuất hiện
tợng: Tạm thời thừa vốn và Tạm thời thiếu vốn
1.2.2.1. Tạm thời thừa vốn.
Thừa ở đây với nghĩa là tổ chức , đơn vị đó có một lợng vốn nhàn rỗi
trong một thời gian nhất định. Điều nay đợc thể hiện cụ thể trong từng chủ thể
của nền kinh tế .
- Chính phủ :
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 6
Trong nền kinh tế quốc dân việc thu chi xảy ra không đồng thời, thông
thờng các khoản thu nhập thì tạp trung theo định kỳ còn các khoả chi thì đợc
phân bổ dần dần nên trong một khoảng thời gian nhất định sẽ xuất hiện số tiền
nhàn rỗi từ Ngân sách nhà nớc
- Các doanh nghiệp :
Nguồn thu của các doanh nghiệp và nguồn chi của các doanh nghiệp có sự
không thống nhất về mặt thời gian vì những lý do: Hàng hoá sản xuất ra đã tiêu
thụ đợc ; Lơng của các công nhân cha đến hạn trả; Tiền cha phải trả do
mua chịu hàng hoá; Dự trữ của doanh nghiệp ; Cha phải thực hiện nghĩa vụ tài

thu thuế dẫn đến sự thiếu vốn đấu t Chính phủ phải đi vay
- Các doanh nghiệp :
Nh ta đã biết các doanh nghiệp khác nhau về điều kiện sản xuất kinh
doanh dẫn đến tuần hoàn luôn chuyển vốn khác nhau . Đồng thời mỗi doanh
nghiệp lại là một thực thể sở hữu khác nhau cho nên luôn tồn tại hai nhóm
doanh nghiệp này thừa vốn thì doanh nghiệp khác thiếu vốn vì cha bán đợc
hàng, cha thu đợc tiền nhng đã đến thời hạn phải thanh toán các khoản nợ ,
phải trả lơng ... Dẫn đến các doanh nghiệp có nhu cầu đợc vay vốn.
- Cá nhân:
Ngời tiêu dùng đôi khi có những khoản phải chi bất thờng hoặc những
khoản chi tiêu ngoài khả năng tài chính tạm thời của họ nhng họ có khả năng
bù đắp những thiếu hụt đó trong tơng lai . Điều này dẫn đến nhu cầu vay tiêu
dùng của cá nhân .
Từ sự phân tích ở trên ta thấy trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhu cầu
cho vay và đi vay . Hai nhu cầu này có đặc điểm chung là đều nhằm thoả mãn
nhu cầu hiện tại của các chủ thể kinh tế và nó xảy ra trong thời gian ngắn. Khác
nhau ở cho vay và đi vay là quyền sở hữu, ngời cho vay vẫn có quyền sở hữu
đối với khoản tiền cho vay còn ngời đi vay chỉ có quyền sử dụng đối với
khoản tiền đợc vay trong khoảng thời gian thoả thuận giữa hai bên. Để giải
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 8
quyết vấn đề Tạm thời thừa vốn và Tạm thời thiếu vốn thì quan hệ tín
dụng ra đời và nó không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại.
2. Chức năng và vai trò của tín dụng.
2.1. Chức năng của tín dụng.
Nhìn tổng thể tín dụng có hai chức năng:
- Huy động và phân phối nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi dới hình thức
cho vay.
- Giám đốc và kiểm soát bằng đồng tiền đối với các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Dùng tiền để xây dựng các chỉ tiêu, thớc đo để tiến hành quản lý

3. Các hình thức tín dụng Ngân hàng.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ: Cho vay, chiết
khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính.
3.1. Hoạt động cho vay.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của Ngân hàng thơng mại. Tuy
nhiên trong hoạt động tín dụng thì hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng
và chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản và nó cũng là hoạt động mang lại
lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng.
ứng với mỗi tiêu thức khác nhau ngời ta phân loại cho vay khác nhau, ta có
thể dựa trên những tiêu thức sau:
- Theo kỳ hạn nợ.
- Theo mục đích sử dụng vốn.
- Theo hình thức đảm bảo tiền vay.
- Theo phơng pháp hoàn trả .
- Theo loại hình tiền tệ.
3.1.1. Theo kỳ hạn nợ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 10
Theo kỳ hạn nợ cho vay của Ngân hàng thơng mại(NHTM) đợc phân làm
ba loại: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn
- Cho vay ngắn hạn.
Là loại cho vay có kỳ hạn dới 1 năm và đợc sử dụng để bù đắp sự thiếu
hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân. Khoản cho vay ngắn hạn chủ yếu tài trợ cho các hoạt động sau:
+ Cho vay mua hàng dự trữ.
Từ trớc tới nay, ngân hàng thờng cho các hãng vay ngắn hạn bổ xung
tạm thời vốn hoạt động. Trên thực tế cho tới sau chiến tranh thế giới thứ II,
ngân hàng chủ yếu tập trung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dới hình thức
các khoản cho vay mang tính tự thanh toán (self-liquidating loans). Các khoản
cho vay này chủ yếu đợc sử dụng để tài trợ cho việc mua hàng dự trữ nh

Thông thờng các khoản cho vay vốn lu động đợc đảm bảo bằng các
khoản phải thu hoặc thế chấp bằng hàng tồn kho và khách hàng sẽ phải chịu lãi
suất thả nổi trên lợng tiền thực tế họ đã sử dụng. Khoản lệ phí cam kết đợc
tính trên phần tín dụng thuộc hạn mức không sử dụng và đôi khi tính trên toàn
bộ giá trị của hạn mức. Ngân hàng thờng yêu cầu khách hàng phải có số d bù
tiền gửi. Số d bù tiền gửi bao gồm lợng tiền gửi tối thiểu bắt buộc đợc xác
định trên cơ sở quy mô hạn mức tín dụng và một lợng tiền gửi bắt buộc bổ
xung bằng một tỉ lệ phần trăm quy định trên tổng lợng tín dụng mà khách
hàng thực sử dụng.
+ Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng.
Một hình thức cho vay ngắn hạn có bảo đảm phổ biến trong ngân hàng
thơng mại là cho vay hỗ trợ các công trình xây dựng, nhà ở, các toà nhà văn
phòng, trung tâm thơng mai, các công trình khác. Mặc dù thời gian xây dựng
công trình kéo dài nhng các khoản cho vay lại mang tính tạm thời. Các khoản
cho vay này cung cấp vốn cho bên thi công để thuê công nhân, thuê thiết bị xây
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 12
dựng, mua vật liệu xây dựng và giải phóng mặt bằng. Khi giai đoạn xây dựng
kết thúc, bên thi công thờng vay thế chấp dài hạn từ các tổ chức tài chính
khác, để lấy tiền thanh toán cho các khoản vay xây dựng ngắn hạn. Trong thực
tế chỉ khi Công ty xây dựng chắc chắn có một cam kết cho vay thế chấp để tiếp
tục tài trợ dài hạn cho các dự án sau khi kết thúc giai đoạn xây dựng thì ngân
hàng mới thực hiện các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn. Gần đây một vài
ngân hàng đã cho vay với thời hạn khá dài 5 đến 7 năm, cung ứng vốn cho việc
xây dựng và hoạt động trong giai đoạn đầu của công trình.
+ Cho vay kinh doanh chứng khoán.
Những ngời kinh doanh chứng khoán Chính phủ và chứng khoán t nhân
thờng cần sự hỗ trợ vốn ngắn hạn để mua chứng khoán mới và duy trì danh
mục đầu t chứng khoán hiện có cho tới khi các chứng khoán này đợc bán
hoặc đến hạn thanh toán. Các ngân hàng lớn nhất thờng sẵn sàng cho vay đối

tháng. Để có đợc khoản tín dụng này ngời bán lẻ phải ký hợp đồng bảo đảm
an toàn cho phép ngân hàng có quyền sở hữu hàng hoá trong trờng hợp họ
không thể thanh toán khoản vay. Sau đó, nhà sản xuất sẽ có thể chuyển hàng
cho ngời bán lẻ và gửi đơn thanh toán cho ngân hàng. Định kỳ ngân hàng sẽ
cử cán bộ đến kiểm tra hàng hoá trong kho của ngời bán lẻ để xác đinh lợng
hàng đã đợc bán và lợng hàng tồn kho. Sau khi bán đợc hàng hoá, ngời
bán lẻ sẽ gửi séc tới ngân hàng để thanh toán dần khoản nợ cho ngân hàng.
Nếu cán bộ ngân hàng xác định thấy bất kỳ một hàng hoá nào đã đợc bán
mà ngân hàng không nhận đợc tiền thanh toán thì cán bộ ngân hàng sẽ yêu
cầu ngời bán lẻ viết ngay séc trả tiền cho số hàng hoá đó. Nếu ngời bán lẻ
không thanh toán đợc, ngân hàng có thể buộc thu hồi hàng và trả một phần
hoặc toàn bộ số hàng đó cho nhà sản xuất kinh doanh để thu hồi số vốn cho
vay. Hợp đồng kế hoạch sàn thơng bao gồm một khoản dự phòng tổn thất tín
dụng, tích luỹ các khoản lãi thu đợc khi ngời vay trả tiền.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 14
Quy mô của quỹ dự phòng sẽ giảm nếu có bất cứ khoản vay nào không đợc
hoàn trả. Khi dự phòng tổn thất tín dụng đạt tới mức định trớc, ngời bán lẻ sẽ
đợc giam trừ một phần số lãi của hợp đồng trả góp.
+ Cho vay trên tài sản.
Trong những năm gần đây, những khoản cho vay trên tài sản là khoản tín
dụng đợc đảm bảo bằng các tài sản ngắn hạn của hãng đợc dự tính sẽ
chuyển thành tiền mặt trong tơng lai. Ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng cho vay ngắn hạn. Tài sản chủ yếu đợc dùng để bảo đảm cho các khoản
vay bao gồm các khoản phải thu, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn kho.
Ngân hàng cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ của tài
khoản phải thu, hoặc trên giá trị hàng tồn kho. Ví dụ ngân hàng có thể sẵn sàng
cho vay một khoản tiền bằng 70% khoản phải thu trên tài khoản thanh toán
vãng lai của doanh nghiệp. Một cách khác ngân hàng có thể cho vay tới 40%
giá trị hàng tồn kho hiện tại của doanh nghiệp gồm hàng hoá đang bán hoặc

nớc ta nhng áp dụng còn rất hạn chế bởi mức sống trung bình của ngời dân
cha cao, việc thanh toán bằng thẻ đang đợc chú trọng nhng cha thực sự
phát triển, hiểu biết của ngời dân về loại hình tín dụng này cha nhiều.
- Cho vay sản xuất và lu thông hàng hoá.
Là hoạt động cho vay đối với các chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất và
lu thông hàng hoá. Hoạt động cho vay này đã xuất hiện từ rất sớm và rất
phát triển trên thế giới, chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của các
ngân hàng thơng mại.
3.1.3. Theo hình thức bảo đảm tiền vay.
Trong cho vay, để giảm thiểu rủi ro, tổn thất có thể xảy ra cho Ngân hàng
đối với những khách hàng không thực hiện đúng cam kết thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng, ngân hàng thờng yêu cầu các
khoản cho vay phải có bảo đảm. Việc bảo đảm đối với khoản vay là rất cần thiết
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 16
bởi một mặt với doanh nghiệp sẽ phải có ý thức hơn trong kinh doanh và trả món
nợ, mặt khác đối vơi ngân hàng việc có bảo đảm đối với các khoản vay của doanh
nghiệp tạo nên tâm lý yên tâm hơn và giảm rủi ro. Có nhiều loại bảo đảm và do
đó cũng có nhiều loại cho vay theo hình thức bảo đảm khác nhau nh cho vay
cầm cố, cho vay thế chấp, cho vay bảo lãnh....
Theo hình thức này ta có thể phân loại cho vay thành cho vay có bảo đảm và
không có bảo đảm.
- Cho vay có bảo đảm.
Là một loại hình tín dụng đợc cấp phát trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ 3.
- Cho vay không có bảo đảm.
Là việc cấp tín dụng không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh mà
dựa trên uy tín của chính khách hàng hay ngời ta còn gọi là tín chấp. Khách
hàng đợc ngân hàng cho vay theo hình thức này thờng là những khách hàng
truyền thống của ngân hàng có uy tín và độ tin cậy cao.

Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại thơng phiếu , giấy tờ có giá
ngắn hạn khác của ngời thụ hởng trớc khi đến hạn thanh toán.
Trong hoạt động này có một hoạt động đáng chú ý đó là hoạt động tái
chiết khấu. Hoạt động tái chiết khấu là việc mua lại thơng phiếu, giấy tờ có giá
ngắn hạn khác đã đợc chiết khấu trớc khi đến hạn thanh toán.
Chiết khấu là một nghiệp vụ đã xuất hiện từ rất sớm trên thế giới. Tại Việt
nam do việc kém phát triển trong việc phát hành và lu thông các thơng phiếu
cũng nh các giấy tờ có giá khác, nên hoạt động này mặc dù đã xuất hiện nhng
cha phát triển mạnh. Hoạt động chiết khấu tại Ngân hàng thơng mại chủ yếu
đợc tiến hành với trái phiếu Chinh phủ hoặc trái phiếu , kỳ phiếu của các Ngân
hàng thơng mại quốc doanh.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 18
Hoạt động tín dụng có nhiều nghiệp vụ nh vậy nhng trong chuyên đề
nghiên cứu này ta chủ yếu đi sâu nghiên cứu hoạt động cho vay ngắn hạn của
Ngân hàng. Vì vậy từ giờ trở đi ta thống nhất một thuật ngữ tín dụng ngắn hạn
là để chỉ hoạt động cho vay ngắn hạn.
II. Quy trình phân tích tín dụng của Ngân hàng.
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách
hàng, các Ngân hàng thờng đặt ra quy trình phân tích tín dụng. Đó chính là các
bớc(hoặc nội dung công việc) mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quan
trong Ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng.
Bớc1: Phân tích trớc khi cấp tín dụng.
Đây là bớc quan trọng nhất, quyết định đến chất lợng của phân tích tín
dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập và sử lý thông tin liên quan đến khách hàng
bao gồm năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và
nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên
quan đến ngời vay.
Bằng các phơng pháp nh : phỏng vấn trực tiếp, mua hoặc tìm kiếm thông

giá khả năng của ngời vay trong việc đáp ứng trách nhiệm tài chính ngắn
hạn và khả năng tạo lợi nhuận của ngời vay.
- Các điều kiện kinh tế: Có thể thấy nghĩa vụ của khách hàng đối với Ngân
hàng đều xảy ra trong tơng lai vì thế khả năng hoạt động kinh doanh của
khách hàng trong tơng lai đợc Ngân hàng đặc biệt quan tâm phân tích.
Thời hạn càng dài, dự đoán càng khó chính xác, đó là do tác động của các
điều kiện kinh tế. Thiên tai, các thay đổi bất thờng trong đời sống chính trị,
khủng hoảng kinh tế vùng, quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành... làm thay
đổi các tính toán ban đầu, dẫn đến giảm hoặc mất khả năng trả nợ của khách
hàng.
Bơc 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 20
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa ngời nhận tài
trợ(khách hàng) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp
cho khách hàng một khoản tín dụng(hoặc hạn mức tín dụng) trong một khoản
thời gian và lãi suất nhất định. Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính pháp luật
xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải
tuân thủ các điều khoản của các luật, các quy định. So vậy, cả Ngân hàng và
khách hàng phải cân nhắc kỹ lỡng trớc khi ký kết hợp đồng tín dụng.
Nội dung của hợp đồng tín dụng gồm những khoản mục chính là: Họ tên, địa
chỉ của khách hàng; mục đích sử dụng vốn; số lợng tín dụng; lãi suất; phí; thời
hạn tín dụng; các loại bảo đảm; kế hoạch giải ngân; điều kiện thanh toán và các
điều kiện khác.
Bớc 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Sau khi hợp đồng tín dụng đã đợc ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệm cấp
tiền cho khách hàng nh thoả thuận. Kèm theo việc cấp tín dụng, ngân hàng kiểm
soát khách hàng sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng tiến độ không? Quá
trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc
làm ăn thua lỗ hay không?... Quá trình này cho phép ngân hàng thu thập thêm

phải là dễ, bởi lẽ mỗi khái niệm đa ra đòi hỏi phải chỉ ra nó xuất phát từ đâu
trên quan điểm nào. Nh ta đã biết mỗi quan điểm khác nhau sẽ có những quan
niệm khác nhau về chất lợng tín dụng.
1.1. Chất lợng tín dụng theo quan điểm của khách hàng.
Khách hàng là đối tợng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt là
dịch vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.
Mục tiêu của họ là tối đa hoá giá trị tài sản của mình hay nói cụ thể hơn là tối đa
hoá giá trị sử dụng của khoản vốn vay. Chính vì thế với khách hàng để đánh giá
chất lợng tín dụng của ngân hàng cái họ quan tâm đầu tiên là lãi suất, kỳ hạn,
quy mô, phơng thức giải ngân và phơng thức thu nợ của khoản tín dụng mà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 22
ngân hàng cung cấp có thoả mãn nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ
tục đợc giải quyết một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý.
Nếu tất cả các yếu tố này đều đáp ứng đợc nhu cầu của khách hàng thì khoản tín
dụng đó đợc coi là có chất lợng tốt và ngợc lại.
Do đó theo quan điểm của khách hàng thì chất lợng tín dụng là: Sự thoả
mãn nhu cầu của họ về khoản tín dụng trên các phơng diện, lãi suất, quy
mô, thời hạn, phơng thức giải ngân, phơng thức thu nợ...
1.2 Chất lợng tín dụng theo quan điểm của ngân hàng.
Cũng nh bất cứ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế Ngân hàng cũng
phải hoạt động kinh doanh làm sao để đem lại càng nhiều thu nhập cho chủ sở
hữu thì càng tốt. Nhng điều rất khác của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp
khác là Ngân hàng thơng mại là đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ
với 3 nghiệp vụ cơ bản: Nhận gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Vì
thế theo quan điểm của Ngân hàng thì chất lợng tín dụng với các yếu tố cấu
thành cơ bản đó là mức độ an toàn của tín dụng và khả năng sinh lời do hoạt
động tín dụng mang lại.
Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận hay mối quan hệ giữa an toàn và khả
năng sinh lời là mối quan hệ biện chứng. Mối quan tâm hàng đầu của tất cả các

hàng mà còn đối với toàn xã hội nữa.
Về phía Ngân hàng: Ngân hàng thơng mại giống nh các nhà kinh doanh:
bỏ vốn của mình ra và mong muốn thu đợc lợi nhuận và thu hồi vốn. Nh vậy
đảm bảo chất lợng cho các khoản vay và cho vay bản thân nó đối với Ngân
hàng đã là một nhu cầu cấp thiết. Đặc biệt đối với các Ngân hàng thơng mại ở
Việt nam hiện nay không còn là cái bóng của Ngân hàng Trung Ương mà đã và
đang dần trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập, tự kiếm lợi nhuận lời ăn lỗ
chịu, chịu trách nhiệm với khách hàng, với Ngân hàng Trung Ương. Do vậy mà
Ngân hàng không thể không cần đến sự an toàn với các khoản vay.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 24
Nền kinh tế nớc ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một
nền kinh tế thị trờng. Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cha thoát
khỏi t tởng bao cấp, t duy về nền kinh tế thị trờng còn nhiều hạn chế, do đó
việc làm ăn của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn. Vì thế để
nâng cao chất lợng tín dụng Ngân hàng không chỉ là ngời cung cấp vốn cho
các doanh nghiệp mà Ngân hàng còn phải là ngời hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh
vực kinh doanh của doanh nghiệp, có nh thế thì Ngân hàng mới mở rộng đợc
các dịch vụ của mình nh dịch vụ t vấn...giúp doanh nghiệp tránh khỏi đợc
những rủi ro không đáng có.
Nh vậy, có thể thấy mục tiêu nâng cao chất lợng cho vay là điều kiện tối
u cần thiết cho mỗi Ngân hàng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho
Ngân hàng duy trì hoạt động mà còn giúp Ngân hàng phát triển. Nếu đi ngợc
lại mục tiêu trên, Ngân hàng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình.
Về phía nhà đầu t: Khách hàng của Ngân hàng có hai loại: Ngời gửi tiền
và ngời vay tiền. Ngời gửi tiền thì họ quan tâm đến khả năng thanh toán của
Ngân hàng mà khả năng thanh toán của Ngân hàng lại có mối quan hệ mật thiết
với chất lợng của các khoản tín dụng vì vậy đối với họ nâng cao chất lợng tín
dụng là vấn đề cần thiết vì nó ảnh hởng trực tiếp đến những khoản tiền gửi của
họ vào Ngân hàng. Ngời vay tiền là ngời trực tiếp sử dụng giá trị sử dụng của

sách tín dụng của Ngân hàng là đờng lối chủ trơng cuả Quốc gia, địa phơng.
Lý do chủ yếu để Ngân hàng đợc tồn tại là nhằm phục vụ các nhu cầu tín dụng
của cộng đồng xã hội. Về mặt lý luận các Ngân hàng chỉ cho ngời nào vay nếu
đa ra đợc yêu cầu xin vay hợp lệ, hợp pháp và lành mạnh về kinh tế, phù hợp
với chủ trơng của Nhà nớc.
Mức độ phát triển kinh tế của địa phơng quy định quy mô và khối lợng
đầu t tín dụng. Nếu đầu t tín dụng vợt quá khối lợng cần thiết, không phù
hợp với sự phát triển kinh tế sẽ ảnh hởng trực tiếp tới chất lợng tín dụng.
Nhiều Ngân hàng thơng mại do nóng vội mở rộng đầu t, nâng cao d nợ, đẩy

Trích đoạn Xây dựng chính sách khách hàng và chính sách lãi suất hợp lý nhằm đa Đẩy mạnh công tác huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status