Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phú Bình - Pdf 64

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỖ MINH ĐIỆP “NÂNG CAO CH ẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN PHÚ BÌNH” CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60 - 31 - 10LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ LÝ
Thái Nguyên, năm 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-1-


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-2-
được coi là yếu tố quan trọng mang lại lợi ích đối với ngân hàng và có ảnh
hưởng rõ nét nhất đến sức khoẻ nền kinh tế.
Chính vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng tín
dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phú Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất hoạt động tín dụng
của NHNo&PTNT&PTNT huyện Phú Bình.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến tín dụng ngân hàng
thương mại và chất lượng tín dụng;
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT&PTNT
Phú Bình;
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
NHNo&PTNT&PTNT Phú Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT&PTNT Phú Bình;
- Một số khách hàng có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT&PTNT
Phú Bình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài đề cập tới tín dụng của ngân hàng thương mại đối với phát triển
lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và nông thôn
- Thực tiễn hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT&PTNT trên địa bàn
huyện Phú Bình giai đoạn từ 2005-2007.


thái kinh tế - xã hội và có nhiều quan điểm khác nhau tuỳ theo từng cấp độ
nghiên cứu.
“Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở
hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi một lượng giá trị lớn
hơn lượng giá trị ban đầu
(
1

(1)
Khái niệm theo giáo trình “Nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng nâng cao - Học viện Ngân hàng”
)
”.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến tín dụng
ngân hàng là mối quan hệ giữa một bên là ngân hàng, còn một bên là các cá
nhân, hộ gia đình và các pháp nhân khác nhau trong nền kinh tế quốc dân,
trong đó:
+ Cá nhân được hiểu là chủ thể độc lập tham gia các quan hệ dân sự khi
có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
+ Hộ gia đình được hiểu là bao gồm các thành viên có quan hệ huyết
thống, có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung
trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh khác do pháp luật quy định là ch ủ thể khi tham gia quan hệ dân sự
thuộc các lĩnh vực này.
+ Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng
thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng
đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việ c nhất định, cùng
hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

-6-
+ Tín dụng Nhà n ước là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với dân cư
hoặc chủ thể kinh tế khác, trong đó Nhà nước là người đi vay vốn. Tín dụng
Nhà nước được thực hiện thông qua hai hình thức: Trái phiếu Chính phủ và
Trái phiếu địa phương.
+ Tín dụng chính sách cũng là một dạng của tín dụng ngân hàng tuy
nhiên điểm khác biệt là Nhà nước dùng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn
vay, vốn tài trợ... và đứng ra uỷ thác thông qua một ngân hàng chức năng
(NHCSXH) hay một NHTM để cho vay các cụ thể do Nhà nước quy định (hộ
nghèo, doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp xuất nhập khẩu chiến l ược...)
với lãi suất thường thấp hơn lãi suất của các NHTM (phần chênh lệch lãi suất
Nhà nước sẽ cấp bù bằng ngân sách Nhà nước).
1.1.2. Phân loại tín dụng
1.1.2.1. Căn cứ vào thời gian sử dụng vốn
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng
như khả năng hoàn trả của khách hàng, vì thế phân thành:
+ Tín dụng ngắn hạn: từ 1 n ăm trở xuống. Tín dụng ngắn hạn thường
được áp dụng tài trợ cho tài sản lưu động vì thường có vòng quay trên
1vòng/1năm.
+ Tín dụng trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm, loại hình này được dùng
để tài trợ cho các nhu cầu đầu tư tài sản cố định như: phương tiện vận tải, máy
móc, trang thiết bị, cây trồng vật nuôi lâu năm....
+ Tín dụng dài hạn: trên 5 n ăm. Công trình xây dựng nh ư: nhà ở, nhà
xưởng, sân bay, cầu đường, dây chuyền máy móc có giá trị lớn, có thời gian
sử dụng lâu dài.... được xem xét cấp tín dụng dài hạn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
-8-
1.1.2.4. Căn cứ vào mức độ rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu xây dựng
các mức độ rủi ro theo mức độ từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản bao
gồm cả nội và ngoại bảng, trên cơ sở đó có biện pháp phòng ngừa và trích lập
dự phòng tổn thất kịp thời.
+ Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
+ Tín dụng có vấn đề: các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ hàng hoá, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm,
khách hàng chịu rủi ro, thiên tai....
+ Các khoản nợ đủ tiêu chuẩn và cần chú ý là các khoản nợ tốt hoặc bị
quá hạn thời gian ngắn nhưng khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt.
+ Các khoản nợ xấu: là các khoản nợ quá hạn thời gian dài, khả n ăng
trả nợ rất kém, khách hàng chây ì không trả nợ, có khả năng mất vốn.
+ Các khoản nợ khó đòi: là các khoản nợ mà ngân hàng đã sử dụng quỹ
dự phòng rủi ro để xử lý và được hạch toán theo dõi ngoại bảng.
1.1.3. Vai trò của vốn tín dụng ngân hàng trong phát triển kinh tế nông
nghiệp và nông thôn
Ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát
triển của nền kinh tế quốc dân. Đối với Nhà nước thì tín dụng ngân hàng còn
là một công cụ đắc lực, hữu hiệu trong quản lý kinh tế. Đối với các doanh
nghiệp, cá nhân thì tín dụng ngân hàng là nguồn vốn đáp ứng cho sự thiếu hụt
tạm thời về vốn sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù vai trò của hệ thống ngân hàng
thương mại của ảnh hưởng rất lớn đến toàn diện nền kinh tế của mỗi quốc gia,
được các nhà kinh tế ví như mạch máu của nền kinh tế.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-10-
dụng đã trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển những ngành nghề
truyền thống và những ngành nghề mới.
1.1.3.3. Tác động của vốn tín dụng với người dân tiếp thu công nghệ mới,
nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường hạch toán kinh tế
Ngoài phần vốn tự có của nông dân, vốn ngân sách, ngân hàng đã cung
ứng tín dụng không chỉ để bổ sung nguồn vốn ngắn hạn mà còn đầu tư vốn
trung và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất
phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản xuất như xây dựng những
công trình thủy lợi, mạng lưới điện, cơ sở công nghiệp chế biến nông sản,
phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhằm phục vụ phát triển nông
nghiệp xây dựng nông thôn mới. Cùng với việc đầu tư xây dựng và cải tạo
nhân giống mới có năng suất và chất lượng cao phục vụ sản xuất, tiêu dùng và
xuất khẩu với hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cách
mạng sinh học thay đổi hàng giờ, hàng ngày đòi hỏi người nông dân muốn
sản xuất phải không ngừng nâng cao trình độ của mình. Kết quả cuối cùng đã
ảnh hưởng đến cuộc sống bản thân và gia đình họ. Ngoài việc tích cực cần cù
lao động, họ phải áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, quy trình công nghệ
vê giống cây giống con nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Cạnh tranh trong
cơ chế thị trường đòi hỏi trình độ sản xuất kinh doanh của hộ càng cao, họ rất
muốn sản xuất kinh doanh những cây trồng vật nuôi có năng suất, hiệu quả
kinh tế cao. Nguồn vốn tín dụng đã giúp cho hộ nông dân thực hiện kịp thời ý
tưởng của họ. Nhưng vốn tín dụng là cho vay phải hoàn trả cả vốn và lãi đầy
đủ đúng hạn, vốn vay phải có hiệu quả điều đó bắt buộc các hộ nông dân phải
suy nghĩ, cân nhắc hạch toán tiết kiệm chi phí để có đầu vào là nhỏ nhất, chi
phí ít nhất nhưng thu được phần lãi lớ n nhất và thực sự đứng vững trong cơ

suất quá cao, nó là nguyên nhân gây ra những tiêu cực ở nông thôn.Thông qua
các chính sách cho vay hộ sản xuất, các NHTM đang dần dần nhận được sự
tín nhiệm của khách hàng đặc biệt là hộ sản xuất vì nhờ có vốn của Ngân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-12-
hàng mà các hộ đã tận dụng được cơ hội kinh doanh với chi phí hợp lý, giúp
cho người dân sản xuất, kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn.
- TDNH còn góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn
trong nông nghiệp. Vốn giúp cho sản xuất hàng hoá phát triển làm thu nhập
của người sản xuất tăng. Do đó tích luỹ của mỗi người dân tăng làm tiền đề
kích thích nền kinh tế tăng tích luỹ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Các
NHTM với tư cách là trung gian tài chính, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
đã thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập trung sản xuất trên cơ sở đó góp phần
tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
1.1.3.6. Vốn tín dụng tác động đến cơ cấu kinh tế nông thôn
Nước ta những năm trước đây tồn tại cơ cấu kinh tế nông thôn mang
tính truyền thống với quan hệ hiện vật là hình ảnh bao trùm sinh hoạt kinh tế
và chi phối các quan hệ kinh tế. Các quan hệ tiền tệ đã có lúc hình thành
nhưng không đủ sức thay thế các quan hệ hiện vật, có lúc có nơi lại tạo tiền đề
để duy trì các quan hệ này. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì các
quan hệ kinh tế này từng bước được thay thế bởi các quan hệ tiền tệ. Lúc đó
cơ cấu kinh tế nông thôn được xác lập lại phù hợp với yêu cầu của cơ cấu thị
trường và các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội.
TDNH góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
nông thôn. Thông qua việc đầu tư vốn góp phần thay đổi các ngành nghề, tỷ
trọng sản xuất giữa các ngành nghề với nhau. Từ việc chỉ có trồng lúa nước,
nhờ có vốn TDNH mà người dân đã mạnh dạn đầu tư vào một số lĩnh vực khác

động trong nông thôn và hình thành nên thị trường sức lao động trong khu
vực nông thôn.
Tóm lại, vốn tín dụng có vai trò to lớn trong việc phát triển sản xuất,
tạo điều kiện phát triển các ngành nghề, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng hàng hoá ngày càng nhiều, thu nhập của người dân
nông thôn ngày càng cao, đời sống kinh tế và văn hoá của ngườ i dân từng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-14-
bước được nâng lên, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng thu
hẹp dần.
1.1.3.7. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế
hộ sản xuất
Trong nhiều năm qua, từ khi thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
(tháng 5/1951) đến nay, dù đất nước ta đã trải qua những giai đoạn khó khăn
nhưng Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc hỗ trợ vốn cho đồng bào ở các
vùng nông thôn, đảm bảo phát triển kinh tế gia đình cũng như phát huy tiềm
năng của hộ sản xuất trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm và những
sản phẩm thiết yếu cho xã hội. Nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội ngày
càng cao, các NHTM đã tham gia cung ứng vốn cho sản xuất nông nghi ệp mà
chủ yếu là thông qua hộ sản xuất. Tín dụng Ngân hàng đã đóng góp một phần
rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển kinh tế
hộ nông dân nói riêng. Đặc biệt đối với Việt Nam - một nước nông nghiệp với
hơn 80% dân cư sống v à làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn,
chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ, chia cắt, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, năng
suất lao động thấp. Mặt khác, trong cơ chế quản lý mới hiện nay, theo khoán
10 Nhà nước đã giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ sản xuất, mỗi hộ giờ
đây đã là một đơn vị kinh tế tự chủ, có quyền làm chủ mảnh ruộng của mình.

tế, nhà ở và các công trình văn hoá phúc lợi công cộng khác. Từ đó tạo ra sự
phát triển toàn diện trong kinh tế nông thôn, tạo ra sự biến đổi sâu sắc đời
sống kinh tế xã hội nông thôn cả về lượng và chất. Mặt khác, trình độ dân trí
của người dân cũng ngày càng tăng lên, kinh doanh có hiệu quả hơn làm thu
nhập tăng lên, tiêu dùng cũng tăng lên. Như vậy đời sống vật chất tinh thần
của người lao động được cải thiện.
- TDNH tạo ra những mô hình kinh tế mới ở nông thôn, góp phần mở
rộng sản xuất hàng hoá, tiêu biểu là mô hình kinh tế trang trại, VAC,...
Các hộ sản xuất nhờ có vốn của Ngân hàng đã đầu tư mua sắm các vật
dụng dùng cho sản xuất tương ứng với tiềm năng sẵn có của gia đình mình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-16-
Ví dụ, có hộ thì mua máy móc để kinh doanh dịch vụ, chế biến nông sản; có
hộ đầu tư vào chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Tuỳ theo điều kiện sẵn có của
từng hộ mà có phương án sản xuất kinh doanh phù hợp, có khả năng thu lợi
cao.Vì vậy mà nói kinh tế hộ sản xuất là đơn vị kinh tế có sự kết hợp hài hoà
giữa sản xuất và xã hội, giữa quy mô, phương thức, điều kiện sản xuất với lực
lượng lao động cụ thể của gia đình.
Cũng nhờ có các hình thức đầu tư vốn của Ngân hàng như cho vay trực
tiếp đến hộ sản xuất, cho vay tổ hợp tác, cho vay tổ vay vốn, cho vay thông
qua doanh nghiệp nhà nước mà kinh tế hộ sản xuất và kinh tế hộ nông trường
viên kết hợp với kinh tế quốc doanh, hợp tác xã tạo ra các vùng sản xuất hàng
hoá lớn như vùng chuyên canh cây công nghiệp, cà phê, cao su, mía đường,
lúa... Từ đó tạo ra được một số hàng nông sản xuất khẩu có sức cạnh tranh
trên thị trường trong và ngoài nước.
Như vậy, TDNH có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc phát triển
kinh tế hộ sản xuất mà còn đối với cả sự phát triển của nền kinh tế. Nó đẩy

lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp. Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có đủ năng lực pháp
luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ theo thời gian cam kết: có vốn
tự có tham gia và phương án, dự án; kinh doanh có hiệu quả; không có nợ quá
hạn hoặc nợ khó đòi tại ngân hàng.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả.
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính
phủ, NHNN Việt Nam và hướng dẫn cụ thể của mỗi ngân hàng thương mại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-18-
1.1.4.3. Quy trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại
Quy trình cho vay được bắt đầu từ khi CBTD tiếp nhận hồ sơ khách
hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán - thanh lý hợp đồng tín dụng, được
tiến hành theo ba bước:
-
Thẩm định trước khi cho vay;
- Kiểm tra, giám sát trong khi cho vay;
- Kiểm tra, giám sát, tổ chức thu hồi nợ sau khi cho vay.

Quy trình tín dụng được tóm tắt ở sơ đồ sau:
giám đốc

Xác định thị
trường và các thị
trường mục tiêu
NHU CẦU
KHÁCH HÀNG
THẨM ĐỊNH

THƯƠNG LƯỢNG

 Tiếp nhận yêu cầu
khách hàng
 Tìm hiểu triển vọng
 Tham khảo ý kiến
bên ngoài
 Mục đích vay
 HĐKD
 Quản lý
 Số liệu

 Kỳ hạn
 Thanh toán
 Các điều khoản
 Bảo đảm tiền vay

Các vấn đề

khác


 Các điều khoản
 Bảo đảm tiền vay
 Thanh toán

Đánh giá tín dụng

Trả nợ đúng hạn
Dấu hiệu bất thường
ĐỀ XUẤT TÍN DỤNG
THỦ TỤC HỒ SƠ & GIẢI NGÂN
QUẢN LÝ DANH MỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-20-
* Khách hàng vay v ốn là dân cư và doanh nghiệp có hai loại mục đích chính:
- Vay vốn phục vụ đời sống, sinh hoạt.
- Đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh.
Tuỳ theo từng mục đích mà CBTD phân tích và thẩm định khách hàng
vay vốn theo những nội dung sau:
* Thời hạn cho vay:
Ngân hàng và khách hàng thoả thuận về thời hạn cho vay căn cứ vào:
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh
- Thời hạn thu hồi của dự án đầu tư
- Khả năng trả nợ của khách hàng
- Nguồn vốn cho vay của ngân hàng
Từ đó Ngân hàng sẽ quyết định dựa theo đề nghị của khách hàng cho vay
với các thể loại là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn.
* Lãi suất cho vay:

của từng ngân hàng.
* Đối tượng cho vay: chủ yếu là giá trị vật tư hàng hoá, máy móc thiết bị
và các khoản chi phí thực hiện các dự án, phương án sản xuất kinh doanh,
các vật dụng cần thiết cho sản xuất....
* Nguồn vốn cho vay: Vốn của Ngân hàng là giá trị tiền tệ mà Ngân
hàng tạo lập hay huy động được từ các nguồn nhàn rỗi để sử dụng vào hoạt
động kinh doanh. Nó được hình thành từ 4 nguồn cơ bản sau:
- Vốn tự có: là vốn thuộc sở hữu riêng của Ngân hàng.
- Vốn huy động: được hình thành thông qua việc sử dụng các phương
tiện nhằm thu hút vốn nhàn rỗi trong dân chúng, bao gồm tiền gửi thanh toán,
tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá...
- Vốn đi vay: vay NHNN hoặc các tổ chức tín dụng khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-22-
- Vốn khác: được hình thành từ hoạt động tham gia làm đại lý, uỷ thác
cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước từ việc cung cấp các phương
tiện thanh toán.
* Phương thức cho vay:
Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và số tiền mà khách hàng cần vay mà
Ngân hàng áp dụng các phương thức cho vay thích hợp. Các phương thức cho
vay có thể sử dụng là cho vay trực tiếp, cho vay bán trực tiếp (như cho vay theo
tổ hợp tác, theo tổ liên doanh), cho vay gián tiếp qua các tổ chức trung gian....
1.1.5. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng thương mại
1.1.5.1. Các đặc trưng chung
- Tính thời hạn: nhu cầu vốn của các chủ thể chỉ diễn ra vào một thời
điểm nhất định phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, mùa vụ. Từ nhu cầu
đó khách hàng sẽ định ra một thời hạn để đề nghị ngân hàng cấp tín dụng. Thời

yếu là cho vay để chăn nuôi và một số dịch vụ liên quan đến ngành nông
nghiệp. Ví dụ như vay để mua máy tuốt lúa, máy cày,....Đây là những đối
tượng chủ yếu của NHNo&PTNT & PTNT.
- Chi phí tổ chức cho vay cao vì giá trị các món vay thấp mà thủ tục không
đổi. Điều này xuất phát từ tính chất sản xuất nhỏ lẻ của hộ sản xuất, mỗi hộ sản
xuất là một đơn vị kinh tế, do đó số vốn mà họ cần và mức vốn tối đa dựa trên
tài sản bảo đảm của họ không cao nên chi phí khi phân bổ tăng cao. Mặt khác,
số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp nơi nên mở rộng cho vay thường
liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay, thu nợ (mở chi nhánh, bàn giao
dịch, tổ vay vốn tại xã,...). Đây cũng là yếu tố làm tăng chi phí.
Ngành nông nghiệp cũng là ngành có độ rủi ro tương đ ối cao (do đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp là chịu nhiều tác động của tự nhiên như thời
tiết, khí hậu, thiên tai, đất đai...) nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối
lớn so với các ngành khác. Từ đó làm chi phí cho một đồng vốn cao. Vì vậy,
phải tìm mọi biện pháp để đưa đồng vốn vào kế hoạch có chi phí thấp nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn-24-
- Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ
của khách hàng. Đối với hộ sản xuất thì nguồn trả nợ vay Ngân hàng chủ yếu
là tiền bán lúa và các sản phẩm khác có liên quan cùng một số ngành nghề
phụ khác (chiếm tỷ lệ không đáng kể). Như vậy kết quả của việc trồng lúa và
chăn nuôi là yếu tố quyết định trong việc xác định khả năng trả nợ của khách
hàng. Mà hiệu quả của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
rất lớn, nó có thể chi phối trực tiếp đến nông nghiệp. Bên cạnh đó yếu tố tự
nhiên cũng tác động tới giá cả của các sản phẩm nông nghiệp. Nếu được mùa
thì giá cả thấp làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng đi vay.
Biết được đặc điểm này giúp người cho vay đưa ra các biện pháp phòng ngừa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status