DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNN&V: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
BIDV : Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
WTO : Tổ chức thương mại quốc tế
1
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Bảng 2.2: Kết quả huy động vốn của Chi nhánh trong giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động cho vay của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động thu phí dịch vụ Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Chi nhánh Nam Hà Nội giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.6 : Số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Chi nhánh
giai đoạn 2005- 2007
Bảng 2.7: Doanh số cho vay theo quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi
nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.8: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thành
phần kinh tế tại Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.9: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thời hạn
cho vay tại Chi nhánh giai đoạn 2005 – 2007
Bảng 2.10: Dư nợ cho vay theo quy mô DNN&V tại Chi nhánh
Bảng 2.11: Dư nợ cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo
thành phần kinh tế tại Chi nhánh
Bảng 2.12: Dư nợ cho vay đối với DNN&V theo thời hạn cho vay
B ảng 3.1: Kế hoạch kinh doanh năm 2008
2
Biểu 2.1: Kết quả huy động vốn của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
vốn đối với loại hình doanh nghiệp này.
Qua quá trình thực tập ở Chi nhánh và với các lý do trên em nhân thấy
vấn đề “Mở rộng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội” đang được chú
trọng và còn nhiều bức xúc. Em muốn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, rút ra
các kết quả đạt được, các mặt còn hạn chế từ đó nhìn nhận đưa ra một số giải
pháp về hoạt động này.
Kết cấu chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Nam Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Nam Hà Nội.
4
Chương 1: Lý luận chung về mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát tiển của Ngân hàng thương mại gắn liền với
lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là
điều kiện đòi hỏi sự phát triển của Ngân hàng và ngược lại chính sự phát triển
của hệ thống ngân hàng lại thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền, đúc tiền của thợ vàng
thông qua nhu cầu lưu hành đồng tiền của mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ
kết hợp với giao thương quốc tế. Người đổi tiền, đúc tiền kinh doanh tiền tệ
bằng cách đổi bản tệ lấy ngoại tệ và ngược lại để được hưởng lợi nhuận từ
chênh lệch giá.
Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại các chủ cửa hàng vàng, bạc vừa
Ngân hàng cũng theo đó phát triển đa dạng, phong phú. Về quy mô Ngân
hàng ngày càng được mở rộng.
Trong quá trình đó cũng đã có nhiều Ngân hàng lâm vào tình trạng phá
sản, nhiều cuộc khủng hoảng, hoảng loạn Ngân hàng lớn nhỏ khác nhau gây
ra những tổn thất, ảnh hưởng lớn nghiêm trọng cho nền kinh tế trong phạm vi
của quốc gia, khu vực và thậm chí toàn thế giới. Nhưng ngược lại nhiều Ngân
hàng cũng đã trưởng thành và lớn mạnh lên. Và các chính sách quản lý Ngân
hàng được đặt ra hợp lý và chính xác hơn nhằm hạn chế sự sụp đổ và thúc đẩy
hỗ trợ sự phát triển của ngân hàng.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế. Có nhiều định nghĩa về ngân hàng, nếu căn cứ vào những loại hình dịch
vụ: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
6
chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Theo Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sủ
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1.Trung gian tài chính
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chính là chuyển
tiền tiết kiệm sang hoạt động sử dung vốn mà chủ yếu là tín dụng để đầu tư.
Ngân hàng là tổ chức trung gian giữa hai đối tượng: Một là, các cá nhân
tổ chức (tạm thời) thặng dư trong chi tiêu nghĩa là thu nhập của đối tượng này
lớn hơn các chi tiêu của họ trong một khoảng thời gian do đó họ có tiền để tiết
kiệm; Hai là, các cá nhân tổ chức thiếu hụt chi tiêu nghĩa là chi tiêu cho tiêu
dùng, đầu tư lớn hơn thu nhập và họ có nhu cầu bổ sung vốn.
Nếu xét hai đối tượng này quan hệ trực tiếp với nhau trên cơ sở cả hai
hiện qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng). Ngân hàng cho vay làm số dư trên
tài khoản tiền gửi của khách hàng tăng lên cho phép khách hàng dùng để chi
tiêu, đầu tư … Sự phát triển mạnh mẽ của Ngân hàng, toàn bộ hệ thống Ngân
hàng phối hợp tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi thanh toán
được mở rộng từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác dựa trên hoạt động cho
vay. Khi Ngân hàng cho một khách hàng vay để chi trả thì số dư trên tài
khoản tiền gửi của khách hàng có khoản phải thu trên tăng lên tại một ngân
hàng khác và tiếp tục tạo ra các khoản cho vay mới …
8
1.1.2.3.Trung gian thanh toán
Hiện nay, Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất. Ngân hàng
thay mặt khách hàng các khoản chi, chi phí. Hoạt động trung gian thanh toán
của Ngân hàng thực hiện ngày càng nhanh chóng, chính xác và chi phí hợp lý
thuận tiện; bằng các hình thức thanh toán ưu viết, được chuẩn hoá và thống
nhất như : thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thẻ … ; với các công
nghệ thanh toán hiện đại. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ qua
tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung
tâm thanh toán. Việc quốc tế hoá hệ thống Ngân hàng tạo điều kiện cho Ngân
hàng trở thành tổ chức trung gian thanh toán quan trọng và có hiệu quả bậc
nhất cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3. Các hoạt động cơ chính của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Tín dụng được coi là hoạt động sinh lời cao nhất do đó Ngân hàng
thương mại ngày càng chú trọng tới hoạt động huy động vốn.
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mai bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn
nợ. Để bắt đầu hoạt động kinh doanh tiền tệ Ngân hàng thương mại thì trước
tiên chủ Ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định (phải lớn hơn hoặc bằng
vốn pháp định). Đây là vốn mà Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, mua sắm
trang thiết bị, xây dựng trụ sở …Vốn chủ sở hữu bao gồm nguồn vốn hình
tiền cấp bách trong chi trả đảm bảo tính thanh khoản, bù đắp thiếu hụt dự trữ
bắt buộc, dự trữ thanh toán. Ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà
nước cho vay dưới hình thức tái cấp vốn, tái chiết khấu và phải đảm bảo thực
hiện được các điều kiện chặt chẽ trong sự kiểm soát chặt chẽ phụ thuộc vào
chính sách tiền tệ của từng thời kì, từng quốc gia. Mặc dầu các khoản vay này
lãi suất thấp nhưng thời hạn ngắn.
10
Ngân hàng thương mại cũng có thể vay các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường liên ngân hàng. Các khoản vay này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu
dự trữ, chi trả cấp bách mà có thể không cần bảo đảm hoặc được đảm bảo
bằng chứng khoán của kho bạc nhà nước. Ngoài ra vay các tổ chức giúp Ngân
hàng thương mại có thể không phải dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi.
Ngân hàng thương mại huy động vốn trên thị trường vốn bằng cách phát
hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu). Khi vay trên thị trường vốn
các Ngân hàng thương mại luôn phải nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định
quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay nhằm ổn định nguồn trung và dài
hạn của Ngân hàng.
* Ngân hàng thương mại huy động vốn nợ
Ngoài ra Ngân hàng thương mại còn huy động vốn từ các nguồn khác
như là nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và các nguồn khác. Phần lớn
đây là nguồn không phải trả lãi hay lãi suất danh nghĩa bằng không nhưng chi
phí để có và duy trì thường không nhỏ.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho
Ngân hàng. Nhưng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng chính là hiệu quả sử
dụng vốn hay chính là quá trình tạo ra các loại tài sản của Ngân hàng thương
mại như: ngân quĩ, chứng khoán, tín dụng và các loại tài sản khác.
* Ngân qũi thường gồm: tiền mặt trong két và tiền gửi tại Ngân hàng khác.
giá, cung cấp các tài khoản giao dịch và hoạt động thanh toán … nhằm phong
phú danh mục hoạt động và lợi nhuận của Ngân hàng.
12
1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa
1.2.1. Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Theo Điều 4
luật Doanh nghiệp Việt Nam (thông qua ngày 29/11/2005) “ Doanh nghiệp là
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn trong
quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đến cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm sinh lời.”
Phân loại Doanh nghiệp rất đa dạng tuỳ theo từng tiêu trí khác nhau có
các loại hình Doanh nghiệp khác nhau. Theo qui mô Doanh nghiệp có Doanh
nghiệp lớn, Doanh nghiệp vừa và Doanh nghiệp nhỏ. Nhìn chung ở nước ta
hiện nay tỷ trọng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đối lớn và có vị trí
quan trọng đến phát triển nền kinh tế. “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở
sản xuất kinh doanh độc lập, đã dăng ký kinh doanh theo qui định hiện hành;
có vốn đăng kí kinh doanh không quá 10 tỷ VND và có số lượng lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người.” (theo luật Doanh nghiệp Việt
Nam hiện hành). Trong đó lao động trung bình hàng năm là số lao động bình
quân mà Doanh nghiệp đã đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham
gia đóng Bảo hiểm xã hội (đã trừ đi số lao động Doanh nghiệp kí hợp đồng
thời vụ, hợp đồng công việc). Vốn đăng kí đối với Doanh nghiệp Nhà nước là
vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với các Doanh nghiệp còn lại là vốn ghi
trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn chủ sở hữu tương đối nhỏ.Theo thống
kê kinh tế số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% trên tổng
số doanh nghiệp cả nước; nhưng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp chỉ
chiếm khoảng 50% trên tổng số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp cả
nước. Trong đó có tới 40% các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có số vốn dưới 5 tỷ
đồng là doanh nghiệp ở quy mô nhỏ. Điều này cho thấy các Doanh nghiệp
nhỏ và vừa có vốn kinh doanh rất nhỏ.
1.2.1.3. Vai trò của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Ngày nay, nền kinh tế không ngừng phát triển, xuất hiện ngày càng
nhiều tập đoàn kinh tế lớn. Các tập đoàn này đã, đang và sẽ đóng góp vai trò
to lớn đến sự hội nhập và sự phát triển kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, sự tồn
tại của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất quan trọng vì:
* Sự cần thiết phải tiếp cận gần với thị trường.
* Hoạt động sản xuất cần phải có sự chuyên môn hoá cao.
* Sự biến động của môi trường đòi hỏi tính linh hoạt, năng động mà doanh
nghiệp lớn khó có thể đạt đến.
* Một số chủ doanh nghiệp muốn hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp
để không mất đi quyền làm chủ doanh nghiệp.
* Một doanh nghiệp lớn luôn thúc đẩy xây dựng mạng lưới doanh nghiệp
với quy mô nhỏ hơn để phân phối và sử dụng sản phẩm của họ.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ kích thích nền kinh tế, bởi vì có nhiều lĩnh
vực kinh tế mà các Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động rõ ràng hiệu quả hơn
các tập đoàn lớn. Thật vậy, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đang dần khẳng
định vị thế và vai trò của mình trong nền kinh tế quốc gia trong hiện tại và
tương lai. Với sự phát triển bùng nổ về khoa học và công nghệ, các Doanh
15
nghiệp nhỏ và vừa có thể tận dụng cơ hội này để tăng năng suất lao động và
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường. Hơn nữa, quá trình toàn
những ngành nghề truyền thống (chẳng hạn như ngành sản xuất các mặt hàng
thủ công mỹ nghệ). Bởi vì, để sản xuất các loại mặt hàng này phải sử dụng lao
động địa phương và quy mô doanh nghiệp thuộc loại nhỏ và vừa là thích hợp
nhất. Bên cạnh đó, bản thân sản phẩm của ngành nghề này có thị trường tiêu
thụ mạnh trong và ngoài nước. Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển là
hướng đi chính xác để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành .
* Mặt khác, cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động trong các Doanh nghiệp nhỏ
và vừa thì đơn giản và gọn nhẹ nên chúng dễ thích ứng với những biến động
của thị trường cũng như dễ đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
hơn các doanh nghiệp lớn. Chính đặc điểm này giải thích sự tồn tại của các
Doanh nghiệp nhỏ và vừa song song với các doanh nghiệp lớn, đồng thời tạo
sự linh hoạt hay sự năng động trong nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo khu vực. Thực tế, chúng ta thấy sự xuất hiện của các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa giúp nền kinh tế của các quốc gia thoát khỏi những cuộc
khủng hoảng nặng nề, tạo một luồng sinh khí mới cho nền kinh tế.
Vai trò của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế của
nhiều nước ngày càng trở nên quan trọng.
1.2.1.4. Nhu cầu vốn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại cũng phải có sự hỗ trợ vốn của
Ngân hàng đặc biệt là với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ vì đặc điểm của loại
hình doanh nghiệp này là quy mô về vốn là hết sức nhỏ bé. Nhờ vốn của ngân
hàng mà doanh nghiệp có thể tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh và có khả
17
năng chống chịu trước những biến động của thị trường. Do đó, nhu cầu vốn
của doanh nghiệp là một điều kiện không thể thiếu của doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Không có một Doanh nghiệp nào hiện nay phát triển nếu không chỉ dùng
vốn tự có, vay vốn Ngân hàng phục vụ hoạt động snr xuất kinh doanh, đầu tư
là nhu cầu đương nhiên.
Tuỳ theo đặc điểm quản trị mà mỗi một Ngân hàng tự xây dựng cho minh
một qui trình cho vay (quy trình tín dụng) riêng; song tựu chung lại quy trình
tín dụng cơ bản gồm có 6 giai đoạn chính.
* Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu tiên của qui trình tín dụng, nó
được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu
cầu vay vốn. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng vì nó là khâu thu nhập
thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra
quyết định cho vay.
Tuỳ theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại tín dụng yêu cầu và
qui mô tín dụng, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những
thông tin yêu cầu khác nhau. Nhìn chung, một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
cần thu nhập từ khách hàng những thông tin sau:
Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng.
Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng.
Thông tin về bảo đảm tín dụng. Để thu thập được những thông tin căn
bản như trên, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho ngân
hàng các loại giấy tờ sau:
• Giấy đề nghị vay vốn
19
• Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, ví dụ như
giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt
động…
• Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ hay dự án đầu tư.
• Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.
• Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh …
• Các giấy tờ liên quan cần thiết khác.
* Phân tích tín dụng: là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách
hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn tín
* Giám sát tín dụng là bước nhằm đảm bảo cho vốn vay được sử dụng đúng
mục đích đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng, phát hiện và có các biện
pháp kịp thời.
* Thanh lý hợp đồng tín dụng: là bước cuối trong qui trình tín dụng bao
gồm các nội dung sau: thu nợ, tái xét hợp đồng tín dụng, thanh lý hợp dồng
tín dụng.
1.2.2.4. Các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh
nghiệp
Ngân hàng có nhiều tiêu chí để phân loại cho vay đối với Doanh nghiệp
nhằm đa dạng hoá các loại hình cho vay đáp ứng nhu cầu vay vốn phong phú
của khách hàng.
* Phân loại theo thời hạn cho vay:
Theo mục 2, điều 3/ QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng “thời hạn cho vay là khoảng thời gian
được tính từ khi khách hàng ban đầu nhận được vốn vay cho đến thời điểm trả
hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng”. Theo đó, Ngân hàng chia thành 3 hình thức:
21
- Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng
- Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến
60 tháng
- Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng
Cách thức phân loại này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh,
đầu tư dự án…Đồng thời, về phía Ngân hàng quản lý các món vay hiệu quả,
quản lý cơ cấu cho vay ngắn hạn, dài hạn…..
* Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là thiết lập những ràng buộc pháp lý của khoảng vay
với những tài sản hoặc doanh thu kinh doanh của người vay hay người thứ 3
để khi không thu được nợ có thể dựa vào việc bán tài sản để thu hồi nợ. Theo
được phép chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian cụ thể xác định - theo hạn mức thấu chi.
- Cho vay theo món có đặc điểm là doanh nghiệp mỗi lần vay vốn thì khách
hàng và Ngân hàng đều phải thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp
đồng tín dụng. Phương thức cho vay này buộc khách hàng xin vay món nào
thì phải làm hồ sơ xin vay món đó. Nếu trong một quý khách hàng có bao
nhiêu món vay, thì cũng phải làm bấy nhiêu hồ sơ xin vay và Ngân hàng cũng
phải tiến hành đầy đủ quy trình tín dụng.
Trong đó vốn cho vay được tính theo công thức sau:
Trong đó nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh được tính theo công thức sau:
Mức Nhu cầu vốn Vốn chủ Các nguồn vốn
cho vay = cho sản xuất - sở hữu - khác tham gia
kinh doanh tham gia
23
Nếu dựa trên giá trị tài sản đảm bảo mức cho vay theo đó là:
Cho vay theo món có ưu điểm là Ngân hàng chủ động sử dụng vốn và thu
lãi suất cao; nhưng thủ tục phức tạp, tốn nhiều chi phí về phía khách hàng
thiếu tính chủ động về vốn … Phương thức cho vay theo món thường được
áp dụng trong các trường hợp sau: Khách hàng vay không thường xuyên;
Khách hàng vay thường xuyên nhưng độ tín nhiệm chưa cao; cho vay dài hạn
hoặc cho vay dự án; yêu cầu phải có bảo đảm tiền vay.
* Cho vay theo hạn mức là phương thức cho vay mà khách hàng và Ngân
hàng cùng thoả thuận và đi đến xác định hạn mức tín dụng trong một khoảng
thời gian xác định. Đây là phương thức cho vay mà một bộ hồ sơ xin vay vốn
được dùng để cho vay cho nhiều món vay của khách hàng trong phạm vi hạn
mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là tổng mức dư nợ vay tối đa được duy trì
trong một thời hạn xác định theo thoả thuận giữa Ngân hàng và khách hàng
trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng theo công
(Nguồn Nghị định 51/ 1999/NĐ- CP). Ngân hàng tiến hành cho vay dựa trên
phân tích và thẩm định dự án và xác định khả năng trả nợ của khách hàng,
trong đó nhu cầu đầu tư dự án của doanh nghiệp được tính như sau:
* Cho vay hợp vốn là phương thức cho vay mà nhiều tổ chức tín dụng ( từ
hai tổ chức tín dụng trở lên) cùng cho vay đối với một dự án của khách hàng.
Cho vay hợp vốn thường được áp dụng trong các trường hợp sau: nhu cầu xin
vay của doanh nghiệp vượt trên giới hạn cho vay của một Ngân hàng; Nguồn
vốn của Ngân hàng không đủ khả năng cho vay để đáp ứng nhu cầu vay của
khách hàng; Ngân hàng muốn phân tán rủi ro.
Nhu cầu Nhu cầu Nhu cầu
đầu tư = đầu tư vào + đầu tư vào
theo dự án tài sản cố định tài sản lưu động
25