Mở rộng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNN&V: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
BIDV : Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
WTO : Tổ chức thương mại quốc tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Bảng 2.2: Kết quả huy động vốn của Chi nhánh trong giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động cho vay của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động thu phí dịch vụ Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Chi nhánh Nam Hà Nội giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.6 : Số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Chi nhánh
giai đoạn 2005- 2007
Bảng 2.7: Doanh số cho vay theo quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi
nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.8: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thành
phần kinh tế tại Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Bảng 2.9: Doanh số cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thời hạn
cho vay tại Chi nhánh giai đoạn 2005 – 2007
Bảng 2.10: Dư nợ cho vay theo quy mô DNN&V tại Chi nhánh
Bảng 2.11: Dư nợ cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo
thành phần kinh tế tại Chi nhánh
Bảng 2.12: Dư nợ cho vay đối với DNN&V theo thời hạn cho vay
B ảng 3.1: Kế hoạch kinh doanh năm 2008
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Biểu 2.1: Kết quả huy động vốn của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Biểu 2.2: Kết quả hoạt động tín dụng của Chi nhánh giai đoạn 2005 - 2007
Biểu 2.3: Kết quả hoạt động thu phí dịch vụ của Chi nhánh

Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội” đang được chú
trọng và còn nhiều bức xúc. Em muốn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, rút ra
các kết quả đạt được, các mặt còn hạn chế từ đó nhìn nhận đưa ra một số giải
pháp về hoạt động này.
Kết cấu chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Nam Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Nam Hà Nội.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 1: Lý luận chung về mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát tiển của Ngân hàng thương mại gắn liền với
lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là
điều kiện đòi hỏi sự phát triển của Ngân hàng và ngược lại chính sự phát triển
của hệ thống ngân hàng lại thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền, đúc tiền của thợ vàng
thông qua nhu cầu lưu hành đồng tiền của mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ
kết hợp với giao thương quốc tế. Người đổi tiền, đúc tiền kinh doanh tiền tệ
bằng cách đổi bản tệ lấy ngoại tệ và ngược lại để được hưởng lợi nhuận từ
chênh lệch giá.
Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại các chủ cửa hàng vàng, bạc vừa
thực hiện đổi tiền, đúc tiền, cất giữ hộ, thanh toán hộ hình thành nên các ngân
hàng của những thợ vàng. Nghề ngân hàng cũng bắt đầu từ những người cho
vay nặng lãi với các nghiệp vụ: đổi tiền, cất trữ hộ, thanh toán hộ.
Những ngân hàng đầu tiên đã dùng vốn tự có để cho vay nhưng không

của quốc gia, khu vực và thậm chí toàn thế giới. Nhưng ngược lại nhiều Ngân
hàng cũng đã trưởng thành và lớn mạnh lên. Và các chính sách quản lý Ngân
hàng được đặt ra hợp lý và chính xác hơn nhằm hạn chế sự sụp đổ và thúc đẩy
hỗ trợ sự phát triển của ngân hàng.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế. Có nhiều định nghĩa về ngân hàng, nếu căn cứ vào những loại hình dịch
vụ: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Theo Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sủ
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1.Trung gian tài chính
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chính là chuyển
tiền tiết kiệm sang hoạt động sử dung vốn mà chủ yếu là tín dụng để đầu tư.
Ngân hàng là tổ chức trung gian giữa hai đối tượng: Một là, các cá nhân
tổ chức (tạm thời) thặng dư trong chi tiêu nghĩa là thu nhập của đối tượng này
lớn hơn các chi tiêu của họ trong một khoảng thời gian do đó họ có tiền để tiết
kiệm; Hai là, các cá nhân tổ chức thiếu hụt chi tiêu nghĩa là chi tiêu cho tiêu
dùng, đầu tư lớn hơn thu nhập và họ có nhu cầu bổ sung vốn.
Nếu xét hai đối tượng này quan hệ trực tiếp với nhau trên cơ sở cả hai
bên cùng có lợi ( thu nhập gia tăng) tiền sẽ được chuyển từ nhóm một sang
nhóm thứ hai theo quan hệ tín dụng, cấp phát hoặc hùn vốn. Ta lấy quan hệ
tín dụng làm ví dụ. Người có tiền cho vay đòi 2% chi cho chi phí giao dịch,
chi phòng rủi ro 3% và yêu cầu thu nhập ròng cho số tiền cho vay là 5%.
Tổng cộng người có tiền tiết kiệm đòi 10% mới cho vay. Người đi vay muốn
vay phải chi 2% cho chi phí giao dịch và 10% trả cho người có tiền tiết kiệm

hàng khác và tiếp tục tạo ra các khoản cho vay mới …
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.2.3.Trung gian thanh toán
Hiện nay, Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất. Ngân hàng
thay mặt khách hàng các khoản chi, chi phí. Hoạt động trung gian thanh toán
của Ngân hàng thực hiện ngày càng nhanh chóng, chính xác và chi phí hợp lý
thuận tiện; bằng các hình thức thanh toán ưu viết, được chuẩn hoá và thống
nhất như : thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thẻ … ; với các công
nghệ thanh toán hiện đại. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ qua
tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung
tâm thanh toán. Việc quốc tế hoá hệ thống Ngân hàng tạo điều kiện cho Ngân
hàng trở thành tổ chức trung gian thanh toán quan trọng và có hiệu quả bậc
nhất cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3. Các hoạt động cơ chính của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Tín dụng được coi là hoạt động sinh lời cao nhất do đó Ngân hàng
thương mại ngày càng chú trọng tới hoạt động huy động vốn.
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mai bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn
nợ. Để bắt đầu hoạt động kinh doanh tiền tệ Ngân hàng thương mại thì trước
tiên chủ Ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định (phải lớn hơn hoặc bằng
vốn pháp định). Đây là vốn mà Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, mua sắm
trang thiết bị, xây dựng trụ sở …Vốn chủ sở hữu bao gồm nguồn vốn hình
thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ, nguồn
vay nợ có thể chuyển thành cổ phần.Tuỳ tính chất sở hữu, năng lực tài chính
mà có các nguồn hình thành vốn chủ sở hữu khác nhau. Song nguồn vốn chủ
sở hữu thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn mà chủ yếu là vốn nợ.
Vốn nợ gồm có: tiền gửi của khách hàng, tiền vay và vốn nợ khác. Huy
động vốn nợ đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động kinh
doanh tiền tệ của Ngân hàng thương mại.
Website: Email : Tel : 0918.775.368

dự trữ, chi trả cấp bách mà có thể không cần bảo đảm hoặc được đảm bảo
bằng chứng khoán của kho bạc nhà nước. Ngoài ra vay các tổ chức giúp Ngân
hàng thương mại có thể không phải dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi.
Ngân hàng thương mại huy động vốn trên thị trường vốn bằng cách phát
hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu). Khi vay trên thị trường vốn
các Ngân hàng thương mại luôn phải nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định
quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay nhằm ổn định nguồn trung và dài
hạn của Ngân hàng.
* Ngân hàng thương mại huy động vốn nợ
Ngoài ra Ngân hàng thương mại còn huy động vốn từ các nguồn khác
như là nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và các nguồn khác. Phần lớn
đây là nguồn không phải trả lãi hay lãi suất danh nghĩa bằng không nhưng chi
phí để có và duy trì thường không nhỏ.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho
Ngân hàng. Nhưng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng chính là hiệu quả sử
dụng vốn hay chính là quá trình tạo ra các loại tài sản của Ngân hàng thương
mại như: ngân quĩ, chứng khoán, tín dụng và các loại tài sản khác.
* Ngân qũi thường gồm: tiền mặt trong két và tiền gửi tại Ngân hàng khác.
Ngân qũi của Ngân hàng thương mại là tài sản có tính thanh khoản cao nhất
được thành lập nhằm duy trì khả năng chi trả thường xuyên và các yêu cầu
khác của Ngân hàng. Nhìn chung ngân qũi của Ngân hàng là tài sản không
sinh lãi hoặc thấp khi gửi tiền tại ngân hàng khác. Vì vậy các Ngân hàng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thương mại luôn cố gắng duy trì ngân quĩ ở mức thấp nhất mà vẫn đảm bảo
an toàn thanh khoản phù hợp với từng thời kỳ.
* Ngân hàng thương mại nắm giữ chứng khoán của Chính phủ, địa phương
(do Kho bạc Nhà nước phat hành); chứng khoán của các Ngân hàng khác,
công ty tài chính,các công ty khác. Với mục đích nhằm đảm bảo thanh khoản

ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn trong
quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đến cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm sinh lời.”
Phân loại Doanh nghiệp rất đa dạng tuỳ theo từng tiêu trí khác nhau có
các loại hình Doanh nghiệp khác nhau. Theo qui mô Doanh nghiệp có Doanh
nghiệp lớn, Doanh nghiệp vừa và Doanh nghiệp nhỏ. Nhìn chung ở nước ta
hiện nay tỷ trọng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đối lớn và có vị trí
quan trọng đến phát triển nền kinh tế. “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở
sản xuất kinh doanh độc lập, đã dăng ký kinh doanh theo qui định hiện hành;
có vốn đăng kí kinh doanh không quá 10 tỷ VND và có số lượng lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người.” (theo luật Doanh nghiệp Việt
Nam hiện hành). Trong đó lao động trung bình hàng năm là số lao động bình
quân mà Doanh nghiệp đã đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham
gia đóng Bảo hiểm xã hội (đã trừ đi số lao động Doanh nghiệp kí hợp đồng
thời vụ, hợp đồng công việc). Vốn đăng kí đối với Doanh nghiệp Nhà nước là
vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với các Doanh nghiệp còn lại là vốn ghi
trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhìn chung loại hình Doanh nghiệp nhỏ và vừa có các đặc điểm riêng
biệt như: quy mô nhỏ; năng động, dễ thích nghi với những sự biến động của
tình hình kinh tế xã hội; khả năng cạnh tranh không cao do tiềm lực tài chính
nhỏ; chất lượng tay nghề lao động chưa cao; ít có lợi thế về công nghệ.
1.2.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh
doanh. Với quy mô vừa, nhỏ và mô hình tổ chức đơn giản vì vậy dễ dàng
chuyển hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình biến động của thị
trường, để hoạt động đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất. Việc chuyển
hướng này cũng không khó khăn và tốn nhiều chi phí như các doanh nghiệp
lớn. Với đặc điểm này Việt Nam luôn chú trọng phát triển các Doanh nghiệp

* Hoạt động sản xuất cần phải có sự chuyên môn hoá cao.
* Sự biến động của môi trường đòi hỏi tính linh hoạt, năng động mà doanh
nghiệp lớn khó có thể đạt đến.
* Một số chủ doanh nghiệp muốn hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp
để không mất đi quyền làm chủ doanh nghiệp.
* Một doanh nghiệp lớn luôn thúc đẩy xây dựng mạng lưới doanh nghiệp
với quy mô nhỏ hơn để phân phối và sử dụng sản phẩm của họ.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ kích thích nền kinh tế, bởi vì có nhiều lĩnh
vực kinh tế mà các Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động rõ ràng hiệu quả hơn
các tập đoàn lớn. Thật vậy, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đang dần khẳng
định vị thế và vai trò của mình trong nền kinh tế quốc gia trong hiện tại và
tương lai. Với sự phát triển bùng nổ về khoa học và công nghệ, các Doanh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp nhỏ và vừa có thể tận dụng cơ hội này để tăng năng suất lao động và
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường. Hơn nữa, quá trình toàn
cầu hoá trong lĩnh vực kinh tế không cho phép bất kỳ doanh nghiệp nào tự
khép kín chu trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả. Chính vì vậy,
các Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhân tố tác động tích cực đến sự phát
triển kinh tế mỗi quốc gia. Điều này được thể hiện cụ thể qua các mặt sau:
* Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp một phần đáng kể vào sự tăng
trưởng GDP của toàn nền kinh tế. Thực tế, không chỉ ở các nước đang phát
triển mà ở cả các nước phát triển, số lượng các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
chiếm một tỷ lệ khá lớn trong số các doanh nghiệp và chủ yếu hoạt động
trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Chúng đáp ứng khá tốt nhu cầu tiêu thụ
hàng hoá của các doanh nghiệp lớn cũng như nhu cầu tiêu dùng đa dạng trong
xã hội mà bản thân các doanh nghiệp lớn khó có thể đáp ứng được ngay. Do
đó, thu nhập từ loại hình doanh nghiệp này chiếm phần lớn trong tổng thu
nhập quốc dân. Theo số liệu thống kê, hiện nay nước Việt Nam có 200.000
doanh nghiệp thì trong đó có 97% các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (hơn 55% số
này hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ) và đóng góp hơn 26%

Vai trò của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế của
nhiều nước ngày càng trở nên quan trọng.
1.2.1.4. Nhu cầu vốn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại cũng phải có sự hỗ trợ vốn của
Ngân hàng đặc biệt là với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ vì đặc điểm của loại
hình doanh nghiệp này là quy mô về vốn là hết sức nhỏ bé. Nhờ vốn của ngân
hàng mà doanh nghiệp có thể tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh và có khả
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng chống chịu trước những biến động của thị trường. Do đó, nhu cầu vốn
của doanh nghiệp là một điều kiện không thể thiếu của doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Không có một Doanh nghiệp nào hiện nay phát triển nếu không chỉ dùng
vốn tự có, vay vốn Ngân hàng phục vụ hoạt động snr xuất kinh doanh, đầu tư
là nhu cầu đương nhiên.
1.2.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là một loại hình Doanh nghiệp do đó
mang đầy đủ các đặc điểm của Doanh nghiệp nói chung. Vì vậy xét về tính
tổng quát hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh
nghiệp nhỏ và vừa cũng tương đồng với đối với Doanh nghiệp.
1.2.2.1. Khái niệm cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
Theo mục 1, Điều 3, Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN về quy chế
cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định: “Cho vay là một
hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1.2.2.2. Các nguyên tắc cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh
nghiệp
Với mục đích đảm bảo tính an toàn và sinh lời, hoạt động cho vay của
Ngân hàng thương mại dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc thứ nhất, khách hàng phải cam kết hoàn trả cả gốc và lãi vay

• Giấy đề nghị vay vốn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, ví dụ như
giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động…
• Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ hay dự án đầu tư.
• Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.
• Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh …
• Các giấy tờ liên quan cần thiết khác.
* Phân tích tín dụng: là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách
hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn tín
dụng, khả năng hoàn trả nợ. Mục tiêu phân tích tín dụng là tìm kiếm những
tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán rủi ro và kiểm soát
rủi ro đó đồng thời đưa ra các biện pháp phòng ngừa. Mặt khác phân tích tín
dụng còn quan tâm đến tính xác thực của hồ sơ vốn vay mà khách hàng cung
cấp, qua đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng, phòng ngừa rủi ro
đạo đức tín dụng. Phân tích tín dụng bao gồm phân tích tư cách pháp nhân của
khách hàng, năng lực quản lý của người điều hành doanh nghiệp, tình hình tài
chính, tính khả thi của phương án sản xuất, dự án đầu tư, uy tín của khách
hàng. Trong đó phân tích, thẩm định tình hình tài chính là quan trọng nhất.
Xét đối với doanh nghiệp, Ngân hàng phải tiến hành thẩm định mức độ tin
cậy của các báo cáo tài chính; phân tích các báo cáo tài chính và đánh giá tình
hình tài chính doanh nghiệp về khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động …
* Quyết định và ký hợp đồng tín dụng
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay đối với
hồ sơ vay vốn của khách hàng. Đây là bước rất quan trọng, quyết định tín
dụng tác động lớn đến các bước tiếp theo đồng thời ảnh hưởng đến uy tín,
hình ảnh của Ngân hàng. Có hai rủi ro rất dễ xảy ra ở bước này: một là quyết
định cho vay đối với khách hàng không tốt gây thiệt hại tài chính do không
thu được nợ; hai là quyết định từ chối cho vay đối với khách hàng tốt tức là
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Cách thức phân loại này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh,
đầu tư dự án…Đồng thời, về phía Ngân hàng quản lý các món vay hiệu quả,
quản lý cơ cấu cho vay ngắn hạn, dài hạn…..
* Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là thiết lập những ràng buộc pháp lý của khoảng vay
với những tài sản hoặc doanh thu kinh doanh của người vay hay người thứ 3
để khi không thu được nợ có thể dựa vào việc bán tài sản để thu hồi nợ. Theo
đó cho vay được chia thành 2 loại:
Một là cho vay có tài sản bảo đảm như cho vay được bảo đảm bằng tài
sản của khách hàng vay vốn hay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Cho vay
có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay mà khách hàng phải có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba cho khoản tiền vay. Đây là loại
hình cho vay giảm được rủi ro và an toàn hơn cho Ngân hàng nhưng tốn kém
chi phí đinh giá, bảo quản và có thể có rủi ro giảm giá, không có thị trường
tiêu thụ tài sản đảm bảo…
Hai là hình thức cho vay không có tài sản đảm bảo. Đó là các khoản cho
vay được bảo đảm bằng uy tín, độ tín nhiệm của khách hàng, hay của bên thứ
ba với cam kết bên thứ ba sẽ chịu trách nhiệm trả thay cho khách hàng vay
nếu khách hàng vay không trả được nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra hình thức
nay còn áp dụng đối với các khoản cho vay không có tài sản bảo đảm theo
Chỉ định của Chính phủ. Cho vay không có tài sản đảm bảo chứa đựng nhiều
0rủi ro cho nên đối tượng Ngân hàng cho vay theo hình thức này thường là
những khách hàng có độ tín nhiệm cao, có quan hệ tốt lâu dài với Ngân hàng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Phân loại theo cách thức cho vay có hai loại:
Cho vay trực tiếp là cách thức cho vay phổ biến nhất chủa Ngân hàng.
Ngân hàng và khách hàng trực tiếp quan hệ cho vay với nhau, Ngân hàng có
trách nhiệm tín dụng và khách hàng phải có nghĩa vụ với khoản tiền vay.
Cho vay gián tiếp là Ngân hàng và khách hàng vay vốn quan hệ thông
qua các tổ chức trung gian, thường được Ngân hàng áp dụng đối với các món

hoặc cho vay dự án; yêu cầu phải có bảo đảm tiền vay.
* Cho vay theo hạn mức là phương thức cho vay mà khách hàng và Ngân
hàng cùng thoả thuận và đi đến xác định hạn mức tín dụng trong một khoảng
thời gian xác định. Đây là phương thức cho vay mà một bộ hồ sơ xin vay vốn
được dùng để cho vay cho nhiều món vay của khách hàng trong phạm vi hạn
mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là tổng mức dư nợ vay tối đa được duy trì
trong một thời hạn xác định theo thoả thuận giữa Ngân hàng và khách hàng
trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng theo công
thức sau:
Cho vay theo hạn mức áp dụng phổ biến với các Doanh nghiệp có nhu
vầu vay vốn thường xuyên và có độ tín nhiệm tốt với Ngân hàng. Phương
thức cho vay này có các ưu điểm nổi bật sau: thủ tục đơn giản, chi phí lãi vay
thấp, khách hàng chủ động được việc sử dụng vốn vay, Ngân hàng hầu như
không yêu cầu đảm bảo tín dụng.
Mức vốn Giá trị TS Tỷ lệ cho vay trên
cho vay đảm bảo * giá trị tài sản đảm bảo
Hạn mức tín dụng = nhu cầu vốn lưu động -VCSH tham gia
Nhu cầu Giá trị Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn
vốn lưu = tài sản + phi Ngân hàng + có thể
động lưu động sử dụng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Cho vay luân chuyển là phương thức cho vay dựa trên quá trình luân
chuyển của hàng hoá của Doanh nghiệp, kế hoạch lưu chuyển hàng hoá, dòng
tiền vào ra của Doanh nghiệp. Phương thức này hàng hoá mua vào hợp lệ về
hoá đơn, giá trị là đối tượng được Ngân hàng cho vay luân chuyển, nguồn trả
nợ là các khoản thu nhập do bán hàng hoá. Phương thức cho vay luân chuyển
thích hợp với các Doanh nghiệp thương nghiệp và Doanh nghiệp sản xuất có
chu kì tiêu thụ hàng hóa ngắn ngày, có quan hệ tín dụng thường xuyên và tốt
với Ngân hàng.
- Cho vay theo dự án đầu tư là Ngân hàng cho doanh nghiệp vay khi khách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status