Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một tổ chức tài chính trung
gian thực hiện các nghiệp vụ tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ cũng
như các dịch vụ có liên quan đến tài chính – tiền tệ khác trong nền kinh tế
quốc dân.
Với vai trò vị trí vô cùng quan trọng, là một ngành chủ đạo của nền
kinh tế các hoạt động của ngân hàng ngày càng đa dạng về mặt hình thức,
nâng cao nghiệp vụ. Trong đó có một nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng
thương mại là sử dụng vốn và cho vay vốn, với nghiệp vụ cho vay là quan
trọng, là nhân tố quyết định hiệu quả của việc huy động vốn cũng như hoạt
động kinh doanh. Câu hỏi đặt ra với một ngân hàng thương mại là cho vay
như thế nào để kết quả kinh doanh có lãi và tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế phát triển trong đó đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tạo thu nhập, góp phần
vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Ngoài những nhân
tố kinh tế xã hội để phát triển doanh nghiệp như: thị trường, trang thiết bị
công nghệ, nhà xưởng, trình độ quản lý, trình độ công nhân, chính sách
pháp luật của Nhà nước thì vốn là nhân tố quyết định, là vấn đề mà các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp nhiều khó khăn.
Sự phát triển Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã mở ra một thị trường
mới cho việc mở rộng và tăng trưởng hoạt động tín dụng. Tín dụng Ngân
hàng có tác động tích cực trong việc hỗ trợ Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đầu tư chiều sâu, đổi mới trang thiết bị giúp cho hoạt động sản xuất
kinh doanh được thực hiện liên tục, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng
sức cạnh tranh trên thị trường. Cũng như các ngân hàng khác, Sở giao dịch
I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đang phải đối mặt với công tác
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các đơn vị sản xuất kinh doanh
có tính chất tư hữu (không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài) trong đó các
đơn vị, các cá nhân tự bỏ vốn, tự đóng góp và hoạt động vì mục đích lợi
nhuận bao gồm: các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu
hạn, các công ty cổ phần, công ty liên doanh…
1.1.2 Phân loại
* Theo hình thức sở hữu thì Doanh nghiệp ngoài quốc doanh gồm :
- Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần. Cổ đông có thể là một tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là
ba và không hạn chế tối đa. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng
khoán ra công chúng theo quy định pháp luật về chứng khoán. Công ty cổ
phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm về nợ và
các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn góp và công ty.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty trong đó phần vốn góp của
tất cả các thành viên phải được đóng đầy đủ ngay khi thành lập công ty.
Các phần góp vốn được ghi trong điều lệ công ty. Công ty không được
phép phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào. Việc chuyển nhượng vốn
giữa các thành viên được thực hiện tự do. Việc chuyển nhượng phần vốn
góp cho người không phải là thành viên phải được sự nhất trí của các thành
viên đại diện với ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Hợp tác xã là đơn vị kinh tế do nhiều lao động cùng nhau góp vốn để
sản xuất kinh doanh. Hợp tác xã hoạt động theo luật hợp tác xã và trên
nguyên tắc bình đẳng, dân chủ, cùng hưởng lợi, cùng chịu rủi ro với mọi
thành viên nhằm kết hợp sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn
doanh đã được khẳng định qua các khía cạnh sau:
1.1.3.1. Sự phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh nâng cao tính cạnh
tranh trong nền kinh tế thị trường.
Thực vậy, việc các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển trên
nhiều lĩnh vực, ngành nghề đã làm cho thị trường hàng hóa trở nên phong
phú, đa dạng và sôi động hơn. Người tiêu dung có nhiều cơ hội lựa chọn
hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mình. Mặt khác
doanh nghiệp ngoài quốc doanh với ưu thế về quy mô cộng thêm sự nhạy
bén với thị trường đã thực sự trở thành một đối thủ cạnh tranh trên thị
trường của rất nhiều doanh nghiệp khác. Vì vậy sự phát triển của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh sẽ làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Thể hiện
ở chỗ không chỉ có sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp ngoài quốc doanh và
doanh nghiệp Nhà nước mà còn với bản thân các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh với nhau. Đây là một động lực giúp cho nền kinh tế phát triển vì nó làm
cho mọi nguồn lực trong nền kinh tế được tận dụng, sử dụng một cách tối đa
và hiệu quả nhất.
1.1.3.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần làm đa dạng hóa loại
hình sở hữu trong nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nền kinh tế Việt Nam còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ sản xuất còn
thấp, trong khi tiềm năng phát triển còn rất lớn. Sự độc chiếm trong hình
thức sở hữu Nhà nước và tập thể không khai thác hết các tiềm năng sẵn có
vì theo hình thức này từ lâu đã mang nặng tính quan liêu bao cấp, hoạt
động theo kế hoạch, dần dần thủ tiêu tính sáng tạo và năng động của các
doanh nghiệp, vì thế các doanh nghiệp không thể nào khai thác hết mọi
tiềm năng của đất nước. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời đã khai
thác được mọi nguồn vốn tự tích lũy của mình đã đầu tư phát triển sản xuất
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh doanh trong mọi lĩnh vực thúc đẩy kinh tế phát triển. Kết quả trên là
tất yếu khi mà kinh tế ngoài quốc doanh mang tính tư hữu cao, hiệu quả sản
chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong mọi ngành nghề
nhưng chủ yếu phổ biến ở các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch
vụ,xuất khẩu. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa hút một lực lượng lớn
lao động nông thôn, lại vừa có thể nhanh chóng thích nghi đón đầu công
nghệ mới, chuyển đổi theo hướng sản xuất nhanh chóng cho phù hợp với
thị trường, tham gia tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ
nông nghiệp sang các ngành phi công nghiệp. Từ đó doanh nghiệp ngoài
quốc doanh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền sản xuất nhỏ
với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế có cơ cấu tiên tiến,
theo hướng xuất khẩu, phù hợp với định hướng Công nghiệp hóa – Hiện
đại hóa.
Như vậy doanh nghiệp tuy có một số hạn chế, khó khăn trước mắt
nhưng vai trò của nó đối với nền kinh tế vẫn không thể phủ nhận. Với sự hỗ
trợ khuyến khích ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp này, Nhà nước
và các cơ quan liên quan, cùng với các nguồn lực có sẵn, các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh ngày càng tăng nhanh về số lượng lẫn chất lượng, góp
phần giải quyết việc làm, tạo ra sự năng động trong kinh doanh và thỏa
mãn một phần nhu cầu thị trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung
của toàn Đất nước.
1.1.4 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Sau khoảng thời gian 20 năm đổi mới trong tư duy, nhận thức cũng
như những thay đổi cần thiết về luật pháp trong cách nhìn nhận về các
doanh nghiệp Việt Nam nói chung, về DNNQD nói riêng kết quả là chúng
ta đã thu được rất nhiều thành tựu. Các doanh nghiệp nói chung, trong đó
có các DNNQD đã không ngừng gia tăng về số lượng, hoạt động ngày một
hiệu quả, hàng hóa dịch vụ cung cấp ngày càng đa dạng, công ăn việc làm
cho người lao động tăng lên nhanh chóng…Mặc dù được tạo điều kiện và
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trước đổi mới, nhà nước độc quyền trong mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế, các thành phần kinh tế phi nhà nước đều bị coi là bất hợp pháp và
không có một DNNQD chính thức hoạt động. Sau khi thực hiện đổi mới
nền kinh tế và thực hiện những chính sách chiến lược nhằm đẩy mạnh nền
sản xuất trong nước thì các DNNQD mới có điều kiện thuận lợi để phát
triển. Như phần trên đã phân tích trong bốn năm từ năm 2000 đến năm
2004 số lượng DNNQD tăng lên gần gấp đôi cả giai đoạn trước đó. Hầu
hết các doanh nghiệp tính đến nay đều thành lập được khoảng trên dưới 6
năm, DNNQD “già nhât” cũng chưa được 20 năm. Như vậy, so với các
doanh nghiệp quốc doanh thì DNNQD còn quá non trẻ và mới mẻ.
1.1.4.3.Quy mô vốn và lao động nhỏ.
Mặc dù số lượng DNNQD là lớn nhất trong tất cả các loại hình
doanh nghiệp nhưng quy mô vốn và lao động của các doanh nghiệp này lại
nhỏ bé hơn nhiều. Chiếm đến khoảng 68% tổng số các DNNQD là các
doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 500 triệu, khoảng 32% là các doanh
nghiệp có số vốn trên 500 triệu, còn lai là các doanh nghiệp có vốn trên 1
tỷ đồng. Năm 2006, tổng vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế thì khu
vực nhà nước chiếm 50,1%, khu vực ngoài quốc doanh chiếm 33,6%, và
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 16,3%. Mặc dù có số lượng lớn
nhưng các DNNQD vẫn chưa có được quy mô vốn tương xứng và tài chính
còn hạn hẹp. Chính bởi lý do này mà quy mô của các doanhh nghiệp còn
nhỏ bé, sức cạnh tranh yếu, khó tiếp cận công nghệ hiện đại để nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Trong thời gian tới nếu không cải thiện được tình
hình vốn kinh doanh, thì các DNNQD khó lòng cạnh tranh được với các
đối thủ khác đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài, liên doanh…
Cũng chính bởi quy mô nguồn vốn hạn hẹp, lĩnh vực kinh doanh
chưa đa dạng nên đội ngũ lao động trong các DNNQD cũng còn hạn chế cả
về số lượng và chất lượng. Theo thống kê cả nước chỉ có khoảng 700
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cung cấp chưa thuyết phục. Cùng với đó là công nghệ lạc hậu khiến cho
các hàng hóa do khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất chưa vươn
rộng ra thị trường quốc tế và thị trường trong nước cũng không đủ rộng
lớn, chưa xứng tầm…Các sản phẩm thiếu tính cạnh tranh và khó xâm nhập
thị trường mới. Và trong điều kiện bị cạnh tranh gay gắt trong những năm
tới nếu không có chiến lược kinh doanh phù hợp, linh hoạt thì khả năng
một số DNNQD bị mất thị trường là điều dễ nhận thấy.
1.1.4.5. Một số đặc điểm khác.
Các DNNQD có trình độ công nghệ nhìn chung là lạc hậu, khả năng
tiếp cận công nghệ nhiều hạn chế. Nhiều máy móc thiết bị đã qua thời gian
sử dụng tương đối dài, hết giá trị khấu hao. Phần lớn thiết bị là loại thanh lý
của các doanh nghiệp lớn. Bởi vậy, hàng hóa sản xuất ra có mẫu mã đa
dạng, chất lượng cao là khó khăn. Chính bởi công nghệ lạc hậu, khả năng
quản lý hạn chế dẫn đến chi phí sản xuất, chi cho nhân công là cao. Từ đó
ảnh hưởng đến giá cả của hàng hóa, sức cạnh tranh của hàng hóa do các
DNNQD là không cao.
Trình độ quản lý của các DNNQD còn yếu kém nhất là các doanh
nghiệp có quy mô nhỏ. Rất nhiều cá nhân đứng ra thành lập các công ty,
trực tiếp quản lý điều hành hoạt động của công ty, trong khi không phải tất
cả các cá nhân đó có hiểu biết và am hiểu về kinh tế, có trình độ quản lý
doanh nghiệp. Điều đó dẫn tới việc nhiều khi các DNNQD tham gia thị
trường mắc nhiều sai phạm hoặc hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh đó, có
thể do thiếu hiểu biết về môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, phương
pháp quản lý lao động mà nhiều doanh nghiệp có thể vi phạm pháp luật, tài
chính có thể không minh bạch.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động cho vay của ngân hàng đối với Doanh
động rất quan trọng. Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa của các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất ra không phải lúc nào cũng bán được hết
và không phải lúc nào cũng thanh toán được tiền ngay, trong khi sản xuất
không thể dừng lại. Để việc kinh doanh tiến hành bình thường, liên tục và
có hiệu quả, tự doanh nghiệp khó có thể giải quyết được, cần thiết phải
thông qua nguồn vốn vay từ phía Ngân hàng để bố sung vốn lưu động cho
chính mình.
1.2.2.3 Nguồn vốn vay từ ngân hàng hỗ trợ cho các Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều có đặc điểm chung là trình độ
công nghệ sản xuất lạc hậu, tuổi thọ tài sản cố định khá cao và được tân
trang lại. Do đó sản phẩm làm ra có giá thành cao, chất lượng hạn chế, khó
cạnh tranh được với các hàng ngoại nhập, dẫn đến kinh doanh bị thua lỗ,
phá sản. Do vậy, nhu cầu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ngày
càng trở nên bức xúc. Với khả năng của mình, ngân hàng hoàn toàn có thể
hỗ trợ vốn, giúp các doanh nghiệp từng bước tháo gỡ khó khăn, thích nghi
với thị trường thông qua hoạt động cho vay trung và dài hạn.
Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể giúp các doanh nghiệp thực hiện đổi
mới công nghệ thông qua hình thức thuê mua. Đây là hình thức cho thuê
máy móc, thiết bị để phục vụ sản xuất, được ngân hàng mua theo yêu cầu
của bên thuê (các doanh nghiệp). Bên thuê có quyền lựa chọn bên cung ứng
hàng, thương lượng thỏa thuận chủng loại, giá, việc bảo hiểm, bảo hành,
cách thức và hình thức giao hàng, việc lắp đặt, bảo lãnh và những vấn đề
khác liên quan đến tài sản thuê. Nhờ đó, các doanh nghiệp có nhiều điều
kiện hơn trong việc đầu tư trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình.
Tóm lại, sự phát triển của các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh phụ
thuộc rất nhiều vào nguồn vốn vay từ các ngân hàng. Để phát triển khu vực
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoạch sản xuất kinh doanh năm, quý và các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thi
công…
+ Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng theo hạn mức, khách
hàng có thể vừa rút vốn vay, vừa trả nợ tiền vay, song phải đảm bảo số dư
nợ không vượt hạn mức tín dụng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
hạn mức.
+ Để đảm bảo duy trì sản xuất kinh doanh ổn định, hàng năm hoặc
theo nhu cầu mở rộng, thu hẹp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của khách
hàng, điều kiện vay vốn của khách hàng, Chi nhánh và khách hàng thỏa
thuận ký phụ lục bổ sung hợp đồng tín dụng điều chỉnh hạn mức tín dụng
cho kỳ tiếp theo, hoặc ký hợp đồng tín dụng hạn mức mới hoặc chấm dứt
phương thức cho vay này.
- Cho vay theo dự án đầu tư:
Chi nhánh cho vay khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư
phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đầu tư phục đời sống.
- Cho vay hợp vốn:
+ SGD tham gia một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một
tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng
khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế cho vay
ban hành theo quyết định số 1627/QĐ NHNN và Quy chế đồng tài trợ của
các tổ chức tín dụng do Thông đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
+ Chi nhánh quyết định việc tham gia cho vay hợp vốn mà các tổ chức
tín dụng khác đề nghị, hoặc tham gia theo ủy quyền của Tổng Giám đốc,
hoặc tự tổ chức làm đầu mối cho vay hợp vốn theo quy định của Tổng
Giám đốc.
+ Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ
chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành và
hướng dẫn của Tổng Giám đốc. Việc thẩm định dự án, phương án vay vốn,
15
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
này và điều kiện hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và đặc điểm của
từng loại khách hàng vay. Tổng Giám đốc quy định, hướng dẫn hoặc cho
phép các Chi nhánh thực hiện các phương thức cho vay khác
1.2.3 Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là tập hợp nội dung, kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, các
bước phải tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một món vay. Thông
thường, để đảm bảo hiệu quả thì quy trình cho vay phải tuân theo các bước
sau:
1. Khai thác khách hàng cũ, tìm kiếm dự án, khách hàng mới.
2. Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay
vốn.
3. Phân tích thẩm định khách hàng và phương án vay vốn.
4. Ra quyết định cho vay, thông báo đến cho khách hàng.
5. Kiểm tra hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và tài sản thế chấp, cầm cố,
bảo lãnh.
6. Kiểm soát trong khi cho vay, phát tiền vay.
7. Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay, theo dõi hoạt động của
dự án.
8. Thu hồi vốn vay và xử lý nợ.
9. Thanh lý hợp đồng tín dụng.
Quy trình cho vay là bước quan trọng để thực hiện chính sách tín
dụng. Thực vậy, tuân theo các bước quan trọng của quy trình này, Ngân
hàng sẽ tìm kiếm, lựa chọn được khách hàng phù hợp, có uy tín, đạo đức.
Khi áp dụng quy trình cho vay cần phải sáng tạo mở rộng, nâng cao nghiệp
vụ để trở thành kỹ năng, nghệ thuật cho vay của Ngân hàng và năng lực của
từng cán bộ, phù hợp với yêu cầu đa dạng của thị trường.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng hóa bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp. Tuy nhiên đây cũng là điểm
chung của các doanh nghiệp nước ta, kể cả doanh nghiệp Nhà nước.
- Trình độ quản lý, kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh còn nhiều hạn chế, kỹ năng người lao động thấp.
Thành phần xuất than của các chủ doanh nghiệp thuộc Doanh nghiệp
ngoài quốc doanh có từ nhiều nguồn gốc khác nhau: nông dân, thợ thủ
công, tầng lớp trí thức. Họ có nhiều hạn chế, vướng mắc trong công tác tổ
chức nhân sự, trong việc hoạch định kế hoạch cũng như phân tích dự án,
các cơ hội đầu tư. Việc thực hiện Pháp lệnh về tài chính và thống kê của
Nhà nước trong các doanh nghiệp này chưa được thực hiện nghiêm túc.
Phần lớn, các doanh nghiệp hạch toán kế toán chủ yếu bằng kinh nghiệm
bản than. Do đó, họ gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng
vì không chứng thực được năng lực kinh doanh cũng như tình hình tài
chính của bản than một cách rõ rang.
1.3.2 Về khách quan
- Các chính sách chế độ của Nhà nước còn thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ,
chưa có quy định rõ ràng để các doanh nghiệp có thể yên tâm hơn khi đầu
tư vốn vào sản xuất kinh doanh và giảm bớt rủi ro trong hoạt động. Các văn
kiện của Đảng và các chủ trương của Nhà nước và Chính phủ đã nêu rõ và
công nhận vai trò quan trọng của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong cơ
chế thị trường nhưng việc cụ thể hóa thành quy định và hướng dẫn chi tiết
thi hành để tạo môi trường thuận lợi đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đến nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế.
- Tính ổn định của chính sách kinh tế - tài chính còn thấp, thiếu tính
kích thích mà chủ yếu là chính sách thuế và pháp luật còn nặng tính ràng
buộc về nguyên tăc, chế độ.
- Chính sách thuế còn nhiều ưu đãi, chiếu cố cho doanh nghiệp Nhà
nước, chưa đảm bảo công bằng, bình đẳng và sự cạnh tranh lành mạnh giữa
các doanh nghiệp.
19
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
22
BAN
GIÁM
ĐỐC
KHỐI TÍN DỤNG
KHỐI DỊCH VỤ
KHỐI QUẢN LÝ
NỘI BỘ
KHỐI ĐƠN VỊ
TRỰC THUỘC
P. Tín dụng 1
P. Tín dụng 2
P. Tín dụng 3
P. Thẩm định
P. Thanh toán quốc tế
P. D.vụ khách hàng doanh nghiệp
P.D.vụ khách hàng cá nhân
P. Tiền tệ kho quỹ
P. Kế hoạch nguồn vốn
P. Tài chính kế toán
P. Tổ chức cán bộ
P. Hành chính Quản trị
P. Điện toán
P. Kiểm tra nội bộ
P. Giao dịch I
P. Giao dịch II
P. Quản lý Tín dụng
P. Giao dịch III
Năm 2004 2005 2006
Tuyệt đối %04/03 Tuyệt đối %05/04 Tuyệt đối %06/05
I. Huy động vốn
1. Tiền gửi TCKT
- TG không kỳ hạn
- TG có kỳ hạn
2. Tiền gửi dân cư
- TG tiết kiệm
- Kỳ phiếu
- CCTG, trái phiếu
3. Huy động khác
7,108.450
3,705.456
1,019.978
2,685.478
3,317.088
2,208.801
461.017
647.270
85.906
-15.46
33.69
83.31
21.22
-35.79
-8.14
-72.70
-39.64
-81.75
7,569.500
-8.44
5.61
-47.07
-41.63
-69.43
II. Tín dụng
1. Cho vay ngắn hạn
2. Cho vay TDH TM
3. Cho vay ĐTT
4. Cho vay KHNN
5. Cho vay ủy thác, ODA
4,224.050
855.811
1,345.314
1,119.697
515.475
387.754
5.71
29.64
-14.01
37.45
-11.56
3.79
4,813.816
1,724.458
1,012.621
1,396.026
374.866
305.846
13.96
4.48
11.69
2.10
49.512
184.858
14,141.538
93.41
97.37
26.48
2.1.2.1 Công tác huy động vốn
Qua bảng số liệu, ta có thể thấy rõ rằng trong những năm gần đây,
tổng huy động vốn của SGD đã có sự tăng trưởng rất mạnh. Năm 2004, huy
động vốn đạt 7,108.450 tỷ đồng, giảm 15.46 % so với năm 2003. Nhưng
năm 2005, tổng huy động vốn đã tăng trở lại, đạt 7,569.500 tỷ đồng, tăng
6.49% so với năm 2004. Và năm 2006 là năm tăng trưởng mạnh của SGD
với nguồn vốn huy động được đạt 10,110.926 tỷ đồng, tăng 33.57 % so với
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năm 2005 và là năm có nguồn vốn huy động nhiều nhất cũng như tăng
trưởng mạnh nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây.
- Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế trong 3 năm cũng có sự đột biến rõ
ràng. Năm 2004 đạt 3,705.456 tỷ đồng, tăng 33.69% so với năm 2003. Đến
năm 2005 thì chỉ đạt 4,407.585 tỷ đồng, tăng 18.95% so với năm 2004. Tuy
nhiên năm 2006 thì con số này đạt 7,284.959 tỷ đồng, tăng 65.28% so với
năm 2005. Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn năm 2006 tăng gần gấp đôi so
với năm 2005, đạt 1,645.390 tỷ đồng tương ứng 94.76% tăng so với năm
2005. Tỷ lệ này năm 2005 lại giảm 17.17% so với năm 2004, chỉ đạt
844.839 tỷ đồng. Tiền gửi có kỳ hạn cũng tương tự như tiền gửi không kỳ
hạn. Năm 2006 đạt 5,639.569 tỷ đồng tăng 58.29% so với năm 2005. Năm
2005 đạt 3,562.746 tỷ đồng không giảm như tiền gửi không kỳ hạn, tăng