Tiềm năng du lịch của bào tàng dân tộc Việt Nam - pdf 12

Download Luận văn Tiềm năng du lịch của bào tàng dân tộc Việt Nam miễn phí



Khai thác, nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hoá của 54 dân tộc anh em trên đất nước ta là tiềm năng to lớn, lâu dài cho các hoạt động trình diễn tại bảo tàng dân tộc học. Từ những chương trình trình diễn thường xuyên và chất lượng hơn cho nhiều đối tượng công chúng, bảo tàng dân tộc học cần tiếp tục đầu tư, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các địa phương, các cộng đồng, để bảo tàng thật sự trở thành ngôi nhà chung của các dân tộc.
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã không ngừng duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài với UNESCO PARIS tại Việt Nam, uỷ ban UNESCO tại Việt Nam, hội văn nghệ dân gian Việt Nam, sở văn hoá thông tin các địa phương, câu lạc bộ thông tin các dòng họ, tổ chức CRAFT – LINK., cục di sản văn hoá, sở giáo dục, UBND thành phố Hà Nội để tổ chức các chương trình trình diễn tại bảo tàng trong thời gian qua và xây dựng kế hoạch phát triển lâu dài cho các hoạt động tiếp theo.
Từ kết quả các hoạt động trình diễn đã khẳng định lợi thế và thế mạnh của loại hình Bảo tàng Dân tộc học là luôn gắn liền với đời sống các cộng đồng, đến tận các đơn vị, thôn, bản – nơi khởi nguồn và bảo lưu các truyền thống văn hoá. Với không gian nhiều chiều và rộng rãi của bảo tàng hiện tại và trong tương lai sẽ thật sự là một “Sân khấu lớn” cho việc tổ chức các hoạt động trình diễn về văn hoá các tộc người ở Việt Nam, của các nước ASEAN, và có thể cùng một lúc có nhiều chương trình phục vụ khách tham quan. Đây là sự kết hợp đảm bảo lợi ích cho cả hai bên: bảo tàng và du khách. Nhờ đó đã giúp bảo tàng phát huy được các thế mạnh của mình trong đời sống xã hội và tiếp thu được kinh nghiệm của các bảo tàng trên thế giới.
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-17516/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!

Tóm tắt nội dung:

ó thể khai thác nhiều hay ít.
Trong bảo tàng không có tranh minh hoạ - Nếu cần minh chứng cho những sinh hoạt nào đó ở đây chỉ dùng hình ảnh hay băng ghi hình ghi lại cuộc sống thực của các dân tộc. Một quan điểm xuyên suốt là: trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ để người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật rất bình dị đời thường là cách khác biệt của bảo tàng.
Phần trưng bày thường xuyên của bảo tàng hiện nay chỉ trưng bày một số lượng hiện vật hạn chế: gần 700 hiện vật khối và 280 ảnh- Quan điểm chung là không tham đưa quá nhiều hiện vật vào các tủ trưng bày bởi sẽ gây cảm giác dư thừa hay khó tiếp cận được một cách tập trung.
Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của bảo tàng là kết hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ và vùng lãnh thổ. Hầu hết hiện vật trưng bày là hiện vật gốc được lựa chọn chủ yếu phô bày trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ một mặt, có loại bốn mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có tủ chỉ đặt một vài ba hiện vật. Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo. Mỗi hiện vật đều có phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và sứ sở sản sinh ra nó. Bảo tàng cũng sử dụng manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách, ảnh, phim, video, băng, âm thanh, một số mô hình và 33 panô trong trưng bày.
Mặc dù diện tích không lớn nhưng trong nhà vẫn có một số điểm nhấn được trưng bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá nào đó. Người xem có thể hiểu được nội dung tái tạo không chỉ thông qua hệ thống hiện vật, mà còn có cả phim video nữa.
Bảo tàng chủ trương tăng cường lời giải thích để phục vụ người xem. Hơn 100 bài viết trên panô và gắn với tủ kính hay với tái tạo đều cố gắng cung cấp những thông tin cần thiết và ảnh minh hoạ, nhiều panô có cả bản đồ.
Tuy nhiên, do hạn chế về khuôn khổ nên phải viết dưới dạng ngắn gọn và cô đọng. Với mục đích phục vụ cả khách nước ngoài, các bài viết đó cũng như các phụ đề của hiện vật không chỉ dùng tiếng việt, mà còn in bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Vì vậy dù không cần thuyết minh người xem vẫn có thể hiểu được đáng kể về các phần, các từ, các hiện vật trưng bày.
Bảo tàng cố gắng tìm các giải pháp kỹ thuật hiện đại trong phương pháp thể hiện trưng bày như việc xử lý ánh sáng, dùng đèn chuyên dụng chiếu vào từng hiện vật làm nổi lên vẻ đẹp cần gây sự chú ý quan sát.
Trong điều kiện hiện nay, bảo tàng đã lựa chọn phương án thông khí cho toàn bộ khu trưng bày. Từng tủ kính đều được lắp hệ thống thông khí để đảm bảo cho hiện vật không bị mốc.
2.3. TRƯNG BÀY NGOÀI TRỜI
Việt Nam là cái nôi của văn hoá các vùng miền. Văn hoá của các dân tộc ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, với những sắc thái tộc người và vùng miền vừa có sự tương đồng, thống nhất, vừa có nét khác biệt nhau ít nhiều. Chính vì vậy việc xây dựng một bảo tàng dân tộc học có hai phần trưng bày trong nhà và ngoài trời là cần thiết và hợp lý.
Trong khuôn khổ diện tích ngót 3,30 ha đất được nhà nước cung cấp, bảo tàng đã dành được 20 ha ở phía sau toà nhà trống đồng để xây dựng khu trưng bày ngoài trời rất có ý nghĩa và cần thiết không thể thiếu được đối với bảo tàng này. Nhờ có các trưng bày ngoài trời, việc giới thiệu về các dân tộc và văn hoá các dân tộc được tăng cường và mở rộng đáng kể nội dung cũng như hình thức, khắc phục được phần nào sự hạn chế do điều kiện trưng bày trong nhà quy định. Từ đầu thập niên 80 của thế kỷ vừa qua nhà bảo tàng học Phan Khanh đã có hy vọng: “ Bảo tàng Dân tộc học ngoài trời sẽ là những công trình văn hoá khoa học tổng hợp để bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, để nghiên cứu dân tộc học và văn hoá Việt Nam trên nhiều bình diện, đồng thời góp phần trực tiếp vào việc xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
Khu trưng bày ngoài trời là một phần không thể thiếu được của bảo tàng dân tộc học, một trong những thế mạnh của bảo tàng này là tạo cho công chúng những không gian văn hoá tiệm cận với thực tế. Qua đó làm cho hiện vật trưng bày có sức hấp dẫn hơn và công chúng cảm thụ sâu sắc hơn về nền văn hoá mà họ đang được tận mắt xem và tìm hiểu. Nhưng do diện tích đất không rộng nên bảo tàng chỉ trưng bày ở khu ngoài trời các công trình kiến trúc nhà của các dân tộc:
Nhà ở của người H’mông, kèm theo là chuồng ngựa lò rèn, máng nước.
Nhà ở của người HàNhì
Nhà ở, kho thóc và cối giã gạo dùng sức nước của người Dao.
Nhà ở và cọn nước của người Tày.
Nhà mồ của người GiaRai.
Nhà mồ của người CơTu.
Nhà Rông của người BaNa.
Giàn nhạc cụ ống nứa vận hành bằng sức nước của người XơĐăng.
Nhà ở của người ÊĐê
Nhà ở của người Chăm
Nhà ở của người Việt.
Quả thật, so với nhu cầu của hoạt động bảo tàng cũng như mong muốn của chúng ta, rõ ràng là không gian nhỏ hẹp, trưng bày ít ỏi. So với nhiều bảo tàng ngoài trời trên thế giới: Bảo tàng Brivơđabá ở Latvia rộng 97 ha là Bảo tàng kiến trúc gỗ với 30.000 hiện vật, bảo tàng kiến trúc dân gian và lối sống ở Grudia 50 ha, bảo tàng làng Satulai ở Rumania có một trăm ngôi nhà nông dân với 11.000 hiện vật,.... Song ở nước ta hiện nay, điều kiện mới cho phép Bảo tàng dân tộc học Việt Nam xây dựng khu trưng bày ngoài trời nho nhỏ như vậy.
Tuy không gian nhỏ hẹp, trưng bày ít ỏi, nhưng qua đó đã chuyển tải được đến công chúng không ít thông tin và tri thức về loại hình kiến trúc: có nhà ở, có nhà mồ, có nhà công cộng của làng, có nhà dựng bằng kỹ thuật gá lắp và chằng buộc, có nhà đã phát triển các hình thức dùng mộng. Trong khi người H’mông, người Hà Nhì, người Việt, người Chăm ở nhà trệt, thì người Êđê, người BaNa, người Tày ở nhà sàn, còn nhà của người Dao họ nửa sàn nửa trệt. Kiến trúc nhà người H’mông, Chăm, Tày,... thuộc dạng nhà bốn mái thì nhà người Êđê thuộc dạng hai mái. Mái lợp cũng nhiều kiểu cách. Nhà người H’mông dùng ván gỗ Pơmu, nhà người Tày dùng lá cọ, nhà người Việt và người Chăm lợp ngói, nhà người Hà Nhì, người Êđê, người BaNa lợp cỏ tranh, nhà người Dao lợp bằng lứa ống bổ đôi, nhà mồ nhóm Giarai Arát có mái nan đan cùng lợp cỏ tranh. Nhà mồ của người Cơtu có hình con trâu, trên có hình con rồng. Mỗi dân tộc có một tín ngưỡng thờ khác nhau, cách thức lợp không giống nhau. Cùng lợp ngói nhưng ngói nhà người Việt khác ngói nhà người Chăm. Tường nhà cũng đa dạng: có loại thủng bằng ván gỗ ( H’mông), hay bằng phên lứa (Dao, Êđê, BaNa), thậm chí còn đan theo lối cải nan tạo hoa văn rất đẹp (Tày), có loại xây gạch (Việt), có loại là đất nện (Hà Nhì), ... Về khía cạnh văn hoá xã hội có nhà của cư dân phụ hệ, có nhà của cư dân mẫu hệ, có nhà của tiểu gia đình, có nhà của đại gia đình.
Bên cạnh các cư dân ở kiểu nhà tổng hợp: chỉ một ngôi nhà nhưng đa chức năng, có cư dân theo tập quán dựng riêng ra những ngôi nhà lớn nhỏ với các chức năng khác nhau. Điển hình như người Ch...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status