ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ KHÁNH HUYỀN
CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT THUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ KHÁNH HUYỀN
CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT THUẾ
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thƣơng Huyền
HÀ NỘI - 2014
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ VÀ
6
NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT THUẾ
1.1.
Thuế và pháp luật thuế
6
1.1.1. Thuế
6
1.1.2. Pháp luật thuế
11
1.2.
19
Nguyên tắc xây dựng pháp luật thuế
1.2.1. Nguyên tắ c công bằ ng khi xây dựng pháp luật thuế
20
39
một số luật thuế ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Nguyên tắc công bằng đươ ̣c thể hiê ̣n trong Luâ ̣t thuế thu nhâ ̣p
39
cá nhân
2.1.2. Nguyên tắc minh bạch , rõ ràng , cụ thể đươ ̣c thể hiê ̣n trong
50
Luâ ̣t thuế thu nhâ ̣p doanh nghiê ̣p
2.1.3. Nguyên tắc đơn giản , dễ hiể u , dễ tính toán đươ ̣c thể hiê ̣n
trong Luâ ̣t thuế giá tri ̣gia tăng
4
55
2.1.4. Nguyên tắc hiệu quả và thuâ ̣n tiê ̣n đươ ̣c thể hiê ̣n trong Luâ ̣t
60
quản lý thuế
2.2.
Hướng hoàn thiện pháp luật thuế ở Việt Nam để đảm bảo các
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kì quá độ chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa chỉ huy, tập
trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước, thuế nói chung được sử dụng như một công cụ kinh tế hữu hiệu của
Nhà nước để điều tiết các hoạt động kinh tế và có vai trò rất quan trọng để
phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội.
Hơn 20 năm qua, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, mở
cửa và hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện
không ngừng để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Việc nghiên cứu vai
trò của pháp luật thuế và những giải pháp chủ yếu để phát huy vai trò đó trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế có ý nghĩa rất lớn
trong việc nâng cao hiệu lực của hệ thống pháp luật thuế. Từ đó, phục vụ cho
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
trong giai đoạn tới.
Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế và việc xây dựng pháp
luật thuế được đặt ra trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay
là vấn đề thời sự cấp thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới cơ
chế chính sách tài chính quốc gia nói chung và phục vụ thiết thực cho công cuộc
cải cách thuế đạt kết quả cao. Việc ban hành đầy đủ các luật thuế để điều tiết xã
hội là một bước tiến trong nỗ lực cải cách thuế ở Việt Nam nhưng việc xây dựng
pháp luật thuế như thế nào để vừa đảm bảo chống thất thu ngân sách vừa tạo
sự phát triển mới về kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay, thì các nguyên tắc
đảm bảo việc xây dựng pháp luật thuế phù hợp với tình hình thực tế là cần
thiết góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Các nguyên tắc xây dựng
pháp luật thuế" làm luận văn thạc sĩ của mình.
6
tiễn về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài khoa học cấp trường; TS. Nguyễn Văn
Tuyến, Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thuế và mô hình cấu trúc của hệ
thống pháp luật thuế, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Các công trình trên , vấ n đề nguyên tắ c xây dựn g pháp luâ ̣t thuế đươ ̣c
đề cập đến ở các mức độ khác nhau . Có công trình đề cập đến ý nghĩa , nô ̣i
dung của các nguyên tắ c này trong pháp luâ ̣t thuế , nêu khái quát về nô ̣i dung
7
các nguyên tắc . Nhìn chung các công trình còn tả n ma ̣n, chỉ đi vào khái quát
nô ̣i dung các nguyên tắ c hoă ̣c phân tić h riêng mô ̣t nguyên tắ c cu ̣ thể trong mô ̣t
chế đinh
̣ luâ ̣t nào đó , chưa có công triǹ h nào tâ ̣p trung phân tić h từng nguyên
tắ c biể u hiê ̣n qua các luâ ̣t cu ̣ thể cũng như nêu hướng hoàn thiê ̣n từng nguyên
tắ c trong luâ ̣t đó về mă ̣t thực tiễn.
3. Mục đích, nhiêm
̣ vu ̣ nghiên cƣ́u
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ thêm các vấn đề lý luận của
các nguyên tắc xây dựng pháp luật thuế, trên cơ sở đó phân tích , đánh giá
thực trạng thể hiện các nguyên tắc đó trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật thuế ở Việt Nam và đưa ra một số gợi ý cụ thể cho việc tiếp
tục hoàn thiện các văn bản pháp luật thuế để đảm bảo các nguyên tắc đó.
Từ mu ̣c đích nghiên cứu nêu trên, luâ ̣n văn có những nhiê ̣m vu ̣ sau đây:
- Nghiên cứu những vấ n đề lý luâ ̣n về các nguyên tắ c xây dựng pháp
luâ ̣t thuế .
- Phân tích, đánh giá sự thể hiện các nguyên tắc xây dựng pháp luật
thuế và chỉ ra nhữn g điểm được và chưa được của hệ thống pháp luật thuế
Việt Nam hiện nay trong việc thể hiện các nguyên tắc đó.
dựng và hoàn thiện từng Luật thuế cụ thể như nguyên tắc công bằng đối với
Luật thuế thu nhập cá nhân; nguyên tắc minh ba ̣ch , rõ ràng , cụ thể đối với
Luâ ̣t thuế t hu nhâ ̣p doanh nghiê ̣p ; nguyên tắc đơn giản, dễ hiể u , dễ tiń h toán
đố i với Luâ ̣t thuế giá tri ̣gia tăng ; nguyên tắ c hiê ̣u quả và thuâ ̣n tiê ̣ n đố i với
Luâ ̣t quản lý thuế .
- Luận văn đưa ra một số nhận định, đánh giá việc thể hiện các nguyên
tắc xây dựng pháp luật thuế đươ ̣c thể hiê ̣n thông qua một số Luật thuế cụ thể
trong pháp luâ ̣t thuế Viê ̣t Nam hiện nay.
- Luận văn đưa ra hướng hoàn thiện cụ thể cho từng luật thuế bao
gồ m Luâ ̣t thuế thu nhâ ̣p cá nhân , Luâ ̣t thuế thu nhâ ̣p doanh nghiê ̣p, Luâ ̣t thuế
giá trị gia tăng và Luật quản lý thuế để đảm bảo các nguyên tắc công bằ ng;
nguyên tắ c minh ba ̣ch , rõ ràng, cụ thể; nguyên tắ c đơn giản , dễ hiể u , dễ tính
toán; nguyên tắ c hiê ̣u quả và thuâ ̣n tiê ̣n nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
xây dựng pháp luâ ̣t thuế ở Việt Nam trong thời gian tới.
9
7. Kế t cấ u của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồ m 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về pháp luật thuế và nguyên tắc xây
dựng pháp luật thuế.
Chương 2: Thực trạng nguyên tắc xây dựng pháp luật thuế qua một số
luật thuế ở Việt Nam và hướng hoàn thiện.
10
Chương 1
thuế phức tạp hơn dần hình thành. Những hình thức "thuế thập phân" đã xuất
hiện ở Anh thế kỷ thứ X. Theo đó, "một phần mười giá trị sản phẩm phải
được trích nộp cho tổ chức quyền lực công cộng bằng các quan hệ pháp luật".
Hoặc vào thời kì này, tại Italia, 10% giá trị của tất cả hàng hóa, sản phẩm
nông nghiệp phải nộp cho nhà nước. Ở Trung Quốc hình thức thuế sớm nhất là
"cống" thời nhà Hạ. Thuật ngữ "thuế" xuất hiện ở quốc gia này vào năm 594
trước Công nguyên.
Đối với Việt Nam, "thuế má" cũng đã bắt đầu xuất hiện từ thời kì đầu
của chế độ phong kiến, nhằm tập trung nguồn công quỹ cho nhà vua nhưng
chủ yếu dưới dạng cống vật. Mặc dù vậy, cho đến năm 1013, vào đờ i vua Lý
Thái Tổ việc đánh thuế mới được hình thành một cách có tổ chức, hệ thống.
Đến thế kỉ thứ XVI, ngoài các loại thuế đã được thu ổn định, các triều đại còn
đặt thêm những loại thuế mới (thuế mỏ, thuế đò, thuế chợ, thuế tuần tuy, thuế
muối, thuế thổ sản - thời chúa Trịnh: Thuế xuất cảng, thuế nhập cảng thời nhà
Nguyễn). Bên cạnh một số triều đại có chính sách thuế hợp lòng dân (như thời
Lý, Trần, Lê sơ), hệ thống thuế trong thời kì phong kiến có điểm chung là
thiếu chuẩn mực về đạo kí và pháp lí; chưa đáp ứng được yêu cầu và lời ích
của nhân dân. Sử cũ ghi lại "Thuế má thu đến tơ tóc, mà dùng của cải như bùn
đất". Đến thời kì Pháp thuộc, chính phủ thuộc địa Pháp đặt ra rất nhiều loại
thuế, tiêu biểu là: thuế rượu, thuế muối, thuế đoan (thuế quan), thuế môn bài,
thuế thổ trạch. Hệ thống thời kì này mang nặng tính vơ vét, bóc lột.
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, song song với việc
xóa bỏ hệ thống thuế phi nhân đạo (thuế thân, thuế muối, thuế thổ trạch….)
Nhà nước dần dần hình thành hệ thống thuế mới. Cùng với sự phát triển của
kinh tế - xã hội, yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, hệ thống thuế của
Việt Nam ngày càng đi tới sự ổn định và hoàn thiện.
Như vậy, thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các
hiện tượng kinh tế - xã hội khác. Sự xuất hiện và phát triển của thuế gắn với
nghiên cứu sẽ đưa ra khái niệm riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của
mình về thuế. Vì vậy, đã có rất nhiều khái niệm về thuế khác nhau.
13
Tuy nhiên, thuế sẽ có những đặc tính nhất định để phân biệt với các
khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp tự nguyện khác, để hiểu rõ bản chất
của thuế, khi nghiên cứu chúng ta cần làm rõ các đặc điểm của thuế. Từ định
nghĩa nêu trên, ta có thể chỉ ra được các đặc điểm của thuế như sau:
Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách.
Nhà kinh tế học nổi tiếng Josseph E .Stiglitz cho rằ ng: "Thuế khác với
đa số những khoản chuyể n giao tiề n từ người này sang người kia : Trong khi
tấ t cả những khoản chuyể n giao đó là tự nguyê ̣n thì thuế la ̣i là bắ t buô ̣c".
- Thu nhâ ̣p của người nô ̣p thuế đươ ̣c chuyể n giao cho Nhà nước mà
không kèm theo mô ̣t sự cấ p phát hoă ̣c những quyề n lơ ̣i nào khác cho người
nô ̣p thuế .
- Tính bắt buộc của thuế không mang nội dung hình sự , nghĩa là vi ệc
đóng thuế cho Nhà nước không phải là kế t quả nảy sinh từ hành vi pha ̣m pháp
mà là nghĩa vụ đóng góp được pháp luật thừa nhận và xã hội tôn vinh.
Khác với hình thức động viên khác:
+ Hình thức phí, lê ̣ phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và
có tính chất đối giá
+ Phạt tiền cũng là hình thức bắt buộc, song nó chỉ xảy ra khi người bi ̣
phạt có hành vi vi phạm luật lệ làm phương hại đến lợi í
ch Nhà nước hoă ̣c
công cộng nào cho người nô ̣p thuế [8, tr. 5-6].
- Đối với các cơ quan thu thuế: Thu thuế là trách nhiệm đối với cán
Theo quy định của pháp luật, thuế được đảm bảo thực hiện bằng sức
mạnh cưỡng chế: nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành
chính hoặc cưỡng chế hình sự. Qua đó nhà nước đã gián tiếp đảm bảo tính ổn
định trong viê ̣c thu thuế của nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế.
Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp.
Khác với khoản vay, phí và lệ phí, thuế không hoàn trả trực tiếp cho
người nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người
nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không
hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu
15
thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp
thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho
người nộp thuế. Bởi vì kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ
yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác định chính xác được
theo giá trị vật chất). Lơ ̣i ić h từ viê ̣c nô ̣p thuế sẽ đươ ̣c hoàn trả gián tiế p thông
qua các dich
̣ vu ̣ công cô ̣ng của Nhà nước cho cô ̣ng đồ ng xã hô ̣i
Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nên
thuế không có đối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi
loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều
được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Vì thế, khi xem xét khái niệm thuế
cũng phải hiểu thuế trên hai góc độ: Thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu
để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Thứ tư, thuế có phạm vi áp dụng rộng. So với phí, lệ phí thì thuế có
phạm vi áp dụng rộng hơn. Phạm vi áp dụng của thuế không có giới hạn, khác
phải nộp trong những trường hợp cần thiết.
Thứ hai, nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình quản lí thuế.
Quản lí thuế là một trong những nội dung quan trọng, không thể tách
rời hoạt động quản lí nhà nước. Hoạt động quản lí thuế gồm nhiều nội dung
cụ thể khác nhau, tuy vậy bao giờ cũng gắn liền với sự tham gia của nhà nước
(nhân danh chính mình hoặc thông qua các cơ quan chức năng).
Hoạt động quản lí thuế của các cơ quan có thẩm quyền bao gồm
những nhóm hành vi cơ bản được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc
quản lí hành chính và thể hiện thông qua một loạt loại hành vi:
+ Chấp hành những quy định về thuế của các cơ quan có thẩm quyền,
chống hiện tượng chiếm dụng và trốn lậu thuế;
+ Xác định phạm vi người nộp thuế và các nguyên tắc đánh thuế;
+ Xác định đúng đối tượng tính thuế và các căn cứ tính thuế;
+ Xác định cách thức tính thuế, quyết định việc miễn giảm thuế trên
cơ sở quy định của pháp luật.
17
+ Tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm chống thất thu thuế
+ Thanh tra, kiểm tra quá trình thu, nộp thuế..
Thứ ba , nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình xử lí vi phạm và
khiếu nại về thuế.
+ Hoạt động xử lí vi phạm về thuế liên quan đến các hành vi vi phạm
pháp luật thuế như nợ thuế, sót thuế, trốn thuế, chống thuế nhưng chưa đến
mức cấu thành tội phạm hình sự;
+ Giải quyết khiếu nại những quyết định hành chính của cơ quan có
thẩm quyền khi ra các quyết định không đủ căn cứ, không công bằng, không
đúng pháp luật...
Xét đối tượng điều chỉnh của pháp luật thuế, có thể nhận thấy:
Trước hết, việc làm này phải được cơ quan quản lí thuế cho phép hay phê
chuẩn; nếu đối tượng nộp thuế không tính đúng, tính đủ, nộp theo thời hạn,
việc bị xử lý vi phạm sẽ trở thành hiện thực. Khi số thuế không được nộp đầy
đủ, đúng hạn sẽ dễ dẫn tới hàng loạt các khả năng khác nhau như phong tỏa
tài khoản, yêu cầu thu hộ, phạt nộp chậm được thực hiện cùng với các biện
pháp hành chính khác.
Trong giai đoạn hiện nay, các nước đang có xu thế phân chia hệ thống
pháp luật thành luật công (public law) và luật tư (private law). Luật công là
các luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến lợi ích công cộng hay mối quan
hệ giữa cơ quan nhà nước, quan hệ nhà nước với công dân. Luật tư điều chỉnh
quan hệ liên quan đến lợi ích cá nhân, quan hệ giữa các công dân. Như vậy,
luật thuế (taxation law) có đầy đủ căn cứ để được xác định đây là một bộ phận
quan trọng của luật công [33, tr. 24-28].
1.1.2.2. Vai trò của pháp luật thuế
Đối với mỗi quốc gia, thuế quan có vai trò quan trọng trong việc bảo
hộ nền sản xuất trong nước; đóng góp nguồn thu cho ngân sách và điều tiết
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của mỗi quốc gia. Khi Việt Nam đã là thành
viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc bảo hộ sản
xuất trong nước bằng con đường thuế quan không còn phù hợp. Vậy làm thế
19
nào để thuế quan góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa? Có thể thấy vai trò
của pháp luật thuế nhằm tạo điều kiện cho sự hòa nhập của Việt Nam đối với
nền kinh tế thế giới là rất quan trọng, tuy nhiên nó cũng phải đảm bảo nguồn
thu đối với ngân sách nhà nước, cũng như đảm bảo những mục tiêu phát triển
của nền kinh tế. Do đó, có thể thấy tầm ảnh hưởng của pháp luật thuế là rất
lớn. Trong thời đại ngày nay, hội nhập quốc tế đang là một xu thế phát triển
ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, từ những năm 1990 trở lại đây, nguồn thu
từ thuế đáp ứng phần lớn các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước. Các luật
thuế được ban hành đều xác nhận "động viên một phần thu nhập vào ngân
sách nhà nước" như một lý do cơ bản. Khoản thu từ thuế chiếm khoản 90%
tổng thu ngân sách nhà nước (theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai
đoạn 2001 - 2010). Điều này lý giải cơ cấu cân đối ngân sách nhà nước được
pháp luật ghi nhận. Điều 8 Luật ngân sách nhà nước quy định rõ: "Ngân sách
nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn
hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao vào đầu tư
phát triển" [18].
Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh
quan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước.
Hầu hết các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu
ngân sách nhà nước. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu
vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện kinh tế thị
trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành
và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân
sách nhà nước, từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng.
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Hiện nay, nguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển
21
thành có vay có trả. Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng để góp phần
ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài.
Thứ hai , pháp luật thuế góp phần cân bằng điều tiết vĩ mô của Nhà
nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng
xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Điều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của
Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp
luật thuế, Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn
chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ. Nhà nước tăng thuế suất,
thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…đối với việc sản xuất, kinh doanh,
tiêu dùng các loại hàng hóa đó.
Để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và
khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy
định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất khẩu, nhập khẩu đối với một số
hàng hóa. Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp
dụng có tính chấp phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu.
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp.
Đối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích,
ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn,
giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát
triển của các doanh nghiệp.
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Thông qua pháp luật thuế, Nhà
nước có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở
tận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của đất nước trong
việc điều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế.
Thứ ba, pháp luật thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các
ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự
23
24
vụ. Rõ ràng, việc thu nộp thuế ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cả hai
loại chủ thể. Yêu cầu đặt ra là việc thu nộp thuế phải đạt tới mục tiêu sao cho
lợi ích của cả hai bên đều đạt được hoặc có thể chấp nhận được (về phía
người nộp thuế). Vì vậy, những tư tưởng xuyên suốt quá trình ban hành văn
bản pháp luật thuế, quá trình thu nộp thuế cần phải được làm rõ và quy định
pháp luật phải thể hiện rõ tư tưởng này. Nếu không xác định hoặc xác định
không đúng nguyên tắc đánh thuế, nhà nước sẽ không nhận được sự ủng hộ
của dân chúng, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chống thuế hoặc
trốn thuế. Có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nguyên tắc đánh thuế nhưng nổi
tiếng nhất là nguyên tắc của Adam Smith "bình đẳng, xác thực, tiện lợi và ít
tốn kém". Vì vậy việc xây dựng pháp luật thuế ngoài việc phải đảm bảo các
nguyên tắc xây dựng pháp luật nói chung còn phải đảm bảo các nguyên tắc cơ
bản sau:
- Nguyên tắ c công bằ ng
- Nguyên tắ c minh ba ̣ch, rõ ràng, cụ thể
- Nguyên tắ c đơn giản, dễ hiể u, dễ tiń h toán
- Nguyên tắ c thuâ ̣n tiê ̣n cho người nộp thuế
- Nguyên tắ c hiê ̣u quả
1.2.1. Nguyên tắ c công bằ ng khi xây dựng pháp luật thuế
Nguyên tắc này lần đầu tiên được nhắc đến trong Bản Tuyên ngôn nhân
quyền năm 1789 và đã gây ra rất nhiều tranh cãi trong giới học giả thời bấy
giờ. Điều đó khiến cho việc xác định nội dung của nguyên tắc này trở nên rất
khó khăn, bởi đây là nguyên tắc vừa có thể tiếp cận từ khía cạnh chính trị, vừa
có thể xem xét từ khía cạnh kinh tế và khía cạnh pháp lý.
Xét ở khía cạnh chính trị, nguyên tắc này gắn bó chặt chẽ với vấn đề
nhân quyền, trong đó có quyền được đối xử bình đẳng và không phân biệt.
Còn xét ở khía cạnh kinh tế, nguyên tắc này liên quan đến vấn đề bản chất của