LỜI NÓI ĐẦU
1 - Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Bắt đầu từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1 -
1994) Đảng ta đã chính thức thừa nhận khái niệm Nhà nước pháp quyền và thấy
rõ sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước đó như là điều kiện không thể thiếu để
có nền dân chủ thực sự vì nhân dân. Liên tiếp qua các kì Đại hội gần đây (Đại
hội IX, Đại hội X) Đảng ta khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta (từ đây, cụm từ “Chủ nghĩa xã hội” xin viết tắt là “CNXH”).
Do đó, vấn đề cấp bách hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý
luận về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó xác định rõ những đặc
trưng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nhằm đề ra những giải pháp thích
hợp đảm bảo phát húy được các đặc trưng ấy, nhằm từng bước xóa bỏ nguy cơ
chệch hướng, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
2 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài này một lần nữa hướng đến đối tượng nghiên cứu là Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam, phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu về các đặc
điểm và nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
3 - Mục
tiêu
, nhiệm vụ của đề tài:
Nội dung của đề tài tập trung phân tích các vấn đề về cơ sở lý luận của các
nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, bao gồm những
vấn đề khái quát về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; những đặc điểm và
các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; đề xuất
những giải pháp chính trị - pháp lý bảo đảm thực hiện các nguyên tắc xây
dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời gian tới.
1
Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG NHÀ
và cam kết thực hiện đầy đủ các công ước, điều ước quốc tế mà nước CHXHCN
Việt Nam tham gia, là thành viên hoặc đã ký kết, phê chuẩn.
Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảng
cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động dưới sự giám sát của nhân dân, sự phản
2
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận.
1.3 Các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với những đặc điểm nêu trên
chỉ có thể
được xây dựng thành công và đảm bảo không chệch hướng XHCN khi được thực
hiện theo hệ thống các nguyên tắc nhất định. Cụ thể là:
Một là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải giữ vững
tính chất giai cấp công nhân, tính chất nhân dân và tính chất nhân đạo của Nhà
nước. Giữ vững tính chất giai cấp công nhân là giữ cho Nhà nước ta luôn luôn là
nhà nước của giai cấp công nhân, do giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo theo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của
Đảng cộng sản Việt Nam. Giữ vững tính chất nhân dân là giữ cho Nhà nước ta
luôn là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là hình ảnh của khối
đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Giữ vững
tính nhân đạo là đảm bảo mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước
đều xuất phát và nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của con người.
Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải nhằm phát
huy được các giá trị của nền dân chủ XHCN và bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều
phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân và có sự tham gia ý kiến của nhân dân;
cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân, phải xác
định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
tắc “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải giữ vững tính
chất giai cấp công nhân và tính chất nhân dân, tính
chất nhân đạo của Nhà
nước”.
- Giải pháp về chính trị: một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH. Đồng nghĩa với việc phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dân có giàu thì nước mới mạnh, sự phồn vinh
của đất nước không thể tách rời tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, không thể
tách rời xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hai là, kiên định và vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là hệ tư tưởng
của giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời cũng thể hiện bản chất giai cấp công
nhân của Đảng, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
- Những giải pháp pháp lý:
+ Về xây dựng pháp luật, thứ nhất cần xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo
thực hiện các quyền tự do, dân chủ, quyền con người và quyền công dân, xây
dựng xã hội công dân, tiến tới thực hiện nguyên tắc công dân được làm tất cả
những gì pháp luật không cấm. Thứ hai, thể chế hoá mối quan hệ giữa trách
4
nhiệm của Nhà nước nói chung, của cơ quan và cá nhân có thẩm quyền nói riêng
với cá nhân công dân theo hướng đề cao nhân tố con người, tạo điều kiện cho
con người thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền công dân. Thứ ba, cần
tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm đề cao tính nhân đạo, bảo vệ quyền
con người.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật,
một là, đối với công tác tuyên truyền,
phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật, Nhà nước cần sử dụng nhiều
hình thức
khác nhau, cần phát triển hệ thống thống thông tin nhằm tăng cường khả năng
tiếp cận và sử dụng của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân đối với hệ
động xây dựng pháp luật, thu hút nhân dân tham gia sâu rộng vào quá trình soạn
thảo các dự án
luật.
Thứ hai, khẩn trương xây dựng một số luật mới nhằm mở
rộng hành lang pháp lý để nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và xã
hội như Luật trưng cầu dân ý và Luật phản biện xã hội. Thứ ba, cần thực hiện cải
cách pháp luật về hành chính trong quan hệ với nhân dân nhằm phát huy
các
giá
trị của nền dân chủ. Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát tối cao của
Quốc hội và quyền giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, quyền giám sát,
kiểm tra của công dân đối với hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức theo
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật, trước hết cần tăng cường tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật về các quyền dân chủ cho nhân dân biết, nhằm tạo
điều kiện cho họ hiểu và coi đó vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mình, trên cơ
sở đó tham gia một cách chủ động vào việc xây dựng
và quản lý đất nước.
+ Về bảo vệ pháp luật, cần thực hiện nghiêm túc cơ chế kiểm tra, giám sát
việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo tạo điều kiện tốt nhất để phát huy dân
chủ, để nhân dân thực hiện quyền làm chủ.
2.3 Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện nguyên
tắc “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải tiến hành đồng
bộ với với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đổi mới hệ thống chính trị”.
- Giải pháp về chính trị: việc xây dựng nhà nước pháp quyền phải được tiến
hành toàn diện với bước đi thích hợp từ nhận thức, tư tưởng đến hoạt động thực
tiễn; từ kinh tế, chính trị, quan hệ đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã
hội.
Về kinh tế, cần thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng
luật, kịp thời phát hiện, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật, đó cũng là nghĩa
vụ của công dân.
2.4 Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện nguyên
tắc “Cần tiếp thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh nghiệm thế giới
về xây dựng nhà nước pháp quyền vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam”.
7
- Giải pháp về chính trị: sớm hội nhập kinh tế quốc tế, nhanh chóng tiếp
cận với những thành tựu, tinh hoa của thế giới về xây dựng nhà nước pháp
quyền, trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ và phát
triển nền văn hóa dân tộc, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Trên cơ sở hội nhập quốc tế, cần nghiên cứu các lý
thuyết và kinh
nghiệm phát triển trên thế giới để tìm ra con đường phát triển phù
hợp với điều kiện của đất nước, con người và xã hội Việt Nam.
- Những giải pháp pháp lý:
+ Về xây dựng pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù
hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, trình độ pháp lý của nhân dân, kết
hợp hài hòa tính truyền thống và tính hiện đại của hệ thống pháp luật. Tiếp tục ký
kết, gia nhập các công ước quốc tế trong tất cả các lĩnh. Chú trọng việc nội luật
hóa những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên.
+ Về tổ chức thực hiện pháp luật, một là, cần tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp, với một tư duy mới hơn, toàn diện, thiết thực và
khoa học hơn. Trong đó, xác định trọng tâm là pháp luật về hợp tác quốc tế, đáp
ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập kinh tế quốc tế.
Hai là, cần nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết.
Tránh tình trạng mâu thuẫn giữa nội luật và các điều ước quốc tế. Thứ ba, cần
đào tạo, đào tạo lại đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách nhằm nâng cao
kiến thức
nhân đạo, công bằng, văn minh tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; nhà nước được
tổ chức và vận hành một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ chức,
hoạt động của nhà nước phải đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự điều chỉnh của
pháp luật.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân
là một cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, vừa phải chống tư tưởng bảo thủ, vừa
phải chống tư tưởng cực đoan và phải đi từng bước vững chắc, giữ vững ổn định
chính trị. Chính vì vậy, ngoài việc kiên định các nguyên tắc cơ bản về xây dựng
Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã đúc kết được, còn cần phải thống nhất
nhận thức và quyết tâm thực hiện trong toàn bộ hệ thống chính trị. Với quyết tâm
cao độ và sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm của Đảng cộng sản Việt Nam, chúng
ta tin tưởng nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân,
vì dân sẽ tiếp tục giành được những thành tựu mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
10
PHỤ LỤC
1. Khái niệm về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử
Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng
chính trị - pháp lý, gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc Châu
Âu vì tự do, dân chủ.
Cội nguồn của tư tưởng về nhà nước pháp quyền là những quan điểm của
các triết gia cổ đại (như: Salon, Aristot, Heraclit, Platon, Siseron…) về sự cần
thiết phải thiết lập một chế độ nhà nước dựa hẳn vào pháp luật, chịu sự chi phối
của pháp luật. Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, những quan điểm, tư tưởng
ấy được bổ sung và ngày càng hoàn thiện, trở thành hệ thống các tri thức khoa
học dưới dạng các quan điểm, tư tưởng, lý luận rất phong phú và phức tạp về
mối quan hệ giữa nhà nước - pháp luật - con người trong xã hội có giai cấp.
Theo tư tưởng về nhà nước pháp quyền, nhà nước pháp quyền có một số nội
dung cơ bản sau đây:
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm tính tối cao của pháp luật
Đảm bảo về chính trị: đó là sự ổn định chính trị, sự hoạt động ngày càng
có hiệu quả của hệ thống chính trị và nền dân chủ XHCN được phát huy tích
cực, mạnh mẽ.
Đảm bảo về xã hội: đó là sự ổn định xã hội với hệ thống các mối quan hệ
tốt đẹp giữa người với người, là khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đảm bảo về tư tưởng: đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối, chính sách của Đảng.
Đảm bảo về văn hóa: đó là nền văn hóa dân tộc, hiện đại và nhân văn, nền
văn hoá tiên tiến với nội dung XHCN và tính chất dân tộc.
3.2 Những đảm
bảo
pháp lý
3.2.1 Bảo đảm về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước:
Bộ máy nhà nước phải được tổ chức chặt chẽ theo nguyên tắc tập trung dân
chủ và hoạt động có hiệu quả. Tổ chức bộ máy nhà nước phải đảm bảo chặt chẽ,
thực sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm thực hiện ngày càng đầy đủ nền dân
chủ XHCN. Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ, quyền con
12
người của nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Tổ chức bộ máy nhà nước
phải dựa trên cơ sở pháp luật.
3.2.2 Bảo đảm về hệ thống pháp luật:
Hệ thống pháp luật phải có tính toàn diện, tính đồng bộ, tính khoa học và
tính thực tiễn. Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện ở chỗ có đủ các
ngành luật để điều chỉnh những lĩnh vực quan hệ xã hội cơ bản, trong mỗi ngành
luật có đủ các chế định luật, trong mỗi chế định luật có đủ các quy phạm pháp
luật. Tính đồng bộ thể hiện ở sự xếp đặt theo trình tự chặt chẽ và kết cấu lôgic,
khoa học về cả nội dung và hình thức, không mâu thuẫn, chồng chéo giữa các
quy phạm pháp luật trong một chế định
luật, giữa các chế định luật trong một
ngh
ĩ
a
V
i
ệt
Nam.
4.1 Những thành tựu cơ bản của việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nguyên tắc phải giữ vững tính chất giai cấp công nhân và tính chất nhân
dân, tính nhân đạo của Nhà nước được thực hiện và phát huy ở mức độ cao. Giai
cấp công nhân nước ta đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách
mạng thông qua đội tiền phong là Ðảng cộng sản Việt Nam. Thành tựu trong
việc thực hiện nguyên tắc này của Nhà nước còn thể hiện ở những kết quả của
đổi mới hệ thống chính trị và Nhà nước trong hơn hai mươi năm qua, được thể
hiện cụ thể trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước từ trung ương đến địa phương; của các cơ quan lập pháp, hành pháp và
tư pháp, ở nỗ lực xây dựng một nền pháp luật mang tính dân chủ thực sự, bảo
đảm đầy
đủ
quyền làm chủ của nhân dân lao động và xuất phát từ nhu cầu, lợi ích
cơ bản của con người và đều nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của con người.
Nguyên tắc phát huy các giá trị của nền dân chủ, xây dựng một nhà nước
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được coi là mục tiêu, động lực của
công cuộc đổi mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ chế dân chủ được từng bước
hoàn thiện đã phát huy cao sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo nên động lực to
lớn phát triển đất nước. Nhờ đó, các tầng lớp nhân dân trở nên tích cực, chủ
động, sáng tạo, năng động trong việc tham gia công việc của đất nước. Các quan
hệ xã hội được xây dựng hài hòa, sự đồng thuận xã hội và dân chủ hóa trên các
quán triệt và thực
hiện nghiêm túc. Đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện thành công vai trò là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo thực hiện
đường lối đổi mới, xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN phù hợp với thực tiễn
Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới. Hơn hai mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo
toàn diện của Đảng, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, sức mạnh tổng hợp của
quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên
với triển vọng tốt đẹp.
15
4.2 Một số hạn chế của việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam
Thứ nhất, việc giữ vững tính chất giai cấp công nhân và tính chất nhân
dân, tính chất nhân đạo của Nhà nước chưa được thực hiện triệt để. Địa vị chính
trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ. Giai cấp công nhân còn hạn chế
về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh
chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật
còn nhiều hạn chế.
Thứ hai, các giá trị của nền dân chủ XHCN đã được phát huy nhưng chưa
xứng tầm với yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN. Biểu hiện ở chỗ, thể chế
luật pháp để bảo đảm dân chủ được thực thi
chưa
đầy
đủ và thiếu đồng bộ, thiếu
ổn định và tính khả thi của nó. Không ít quy định pháp luật được xây dựng công
phu, tốn kém, nhưng mới ban hành chưa lâu đã phải bổ sung, sửa đổi. Tổ chức bộ
đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước, vẫn
còn tình trạng buông lỏng và bao biện, chồng chéo nên chưa phát huy tối đa vai
hiệu lực điều hành của bộ máy nhà nước./.
17