Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT CAO NHẬT QUANG

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CHÍNH PHỦ TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


yêu cầu đặt ra nhằm xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
Đồng thời hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước về mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội đều gắn liền với tổ chức thực thi quyền hành pháp.

2
Ở một số quốc gia, nói đến nhà nước là nói đến Chính phủ. Vì vậy, nói
đến Nhà nước pháp quyền không thể không nói đến tổ chức hoạt động của các
cơ quan hành pháp. Để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền, chúng ta
phải đặt ra những tiêu chí riêng nhằm đổi mới Chính phủ. Chính những tiêu
chí này sẽ là định hướng cho việc hoàn thiện Chính phủ phù hợp với yêu cầu
của Nhà nước pháp quyền.
Trong thời gian qua, thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận từ việc tổ chức thực thi
quyền hành pháp, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đến việc cải cách
toàn diện bộ máy Nhà nước theo hướng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam của dân, do dân và vì dân. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề
thực tiễn chưa được giải quyết liên quan tới việc xác định và thực hiện những
phương hướng đổi mới tổ chức hoạt động của Chính phủ trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục
đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết để làm rõ những tiêu chí riêng, cơ bản của
Chính phủ nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động đáp ứng những yêu cầu mới
đặt ra trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN như bộ máy
hành chính gọn nhẹ, hiệu quả, cơ cấu Chính phủ tinh gọn, hoạt động quản lý,
điều hành mau lẹ, hiệu quả, giải quyết tốt, nhanh những vấn đề phát sinh
trong xã hội.
Xuất phát từ những yêu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn nêu trên,
việc nghiên cứu đề tài vừa có giá trị lý luận vững chắc, vừa mang tính cấp
thiết, là cơ sở cho việc nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về cả mặt lý luận cũng
như thực tiễn của đề tài.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI


4
những phương hướng, giải pháp kiện toàn, đổi mới tổ chức, hoạt động của
Chính phủ phù hợp với điều kiện đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập
quốc tế, đáp ứng xu thế phát triển của thế giới và của thời đại, bảo đảm tính
khả thi và đồng bộ trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở
nước ta.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Ngoài việc sử dụng phối kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu chung
của một Luận văn Thạc sỹ: biện chứng – lịch sử, phân tích – tổng hợp - hệ
thống hóa, thống kê - chứng minh, so sánh - đối chiếu … Luận văn cũng kết
hợp lý thuyết pháp lý với thực tiễn chính trị, xem xét tính phù hợp với điều
của Việt Nam, đồng thời nhìn nhận đánh giá hoạt động của Chính phủ từ
nhiều phương diện, lĩnh vực khác nhau với tôn chỉ tạo sự khách quan để
hướng tới việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong điều kiện
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung
của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nhà nước pháp quyền và những yêu cầu của Chính phủ trong
Nhà nước pháp quyền.
Chương 2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
Chính phủ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. 5

Lông, một trong những nhà thông thái Hy Lạp đề cập và vận dụng trong thực
tiễn. Các nhà tư tưởng và người dân La Mã, Hy Lạp lúc bấy giờ đã đấu tranh
chống sự chuyên quyền độc đoán, vì tư tưởng phục tùng pháp luật, sự tuân
thủ pháp luật. Pi-ta-gô đứng trên lập trường và bảo vệ quyền lợi của tầng lớp
quý tộc, chống lại những người bình dân và chế độ nhà nước dân chủ, pháp
luật cao hơn phong tục bất thành văn. Hê-ra-clit lại kêu gọi: “nhân dân phải
đấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của mình”, theo
ông pháp luật là phương tiện quan trọng để chống lại cực quyền. Pla-tôn thì
đã viết “tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào mà pháp
luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó”. Xô-crat, một
trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời Hy Lạp cổ đại cũng đã khẳng định
rằng: “xã hội không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật, nhà nước phải tôn trọng,
phục tùng pháp luật, tôn trọng pháp luật là tôn trọng lý trí, công bằng và trí
tuệ phổ biến, nếu không quyền lực sẽ lạc lối”.
Vào thời kỳ trung cổ, đây là thời kỳ tồn tại của các chế độ phong kiến
tàn bạo chuyên chế, độc tài và vô pháp luật, cho nên tư tưởng về Nhà nước
pháp quyền không có bước phát triển lớn.
1.1.1.2. Học thuyết tư sản về Nhà nước pháp quyền:
Các tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại đã được các nhà tư
tưởng tư sản tiếp thu và phát triển trong những điều kiện mới. Thể hiện thế
giới quan pháp lý mới, có sự kế thừa và phát triển, chống lại chế độ chuyên
quyền độc đoán phong kiến, tình trạng vô pháp luật, pháp luật dã man để đề
cao chủ trương vì một nền pháp luật công bằng, nhân đạo, pháp luật giữ vai
trò thống trị trong các quan hệ xã hội.
Bối cảnh ra đời của học thuyết Nhà nước pháp quyền gắn với thời kỳ các
cuộc cách mạng tư sản. Mong muốn thiết lập một phương thức biểu thị quyền

7
lực chính trị và quyền lực nhà nước dân chủ hơn chế độ chính trị phong kiến.
Học thuyết Nhà nước pháp quyền đã được áp dụng vào việc tổ chức thực thi

gương cho dân, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập đến một loạt những nguyên tắc cơ
bản của Nhà nước pháp quyền như một nền tư pháp bảo đảm công lý, thẩm
phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, một chế độ công vụ đề cao kỷ
luật, trách nhiệm của công chức, về ý thức pháp luật.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là xây dựng nhà nước
kiểu mới - nhà nước của dân, do dân và vì dân, tư tưởng, quan niệm của
Người về pháp luật luôn gắn liền với lý tưởng công bằng, độc lập, tự do, bình
đẳng, dân quyền.
1.1.2. Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của Nhà nƣớc pháp quyền:
1.1.2.1. Khái niệm Nhà nước pháp quyền:
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước. Theo đó, thứ
nhất, tổ chức nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở pháp luật, bản thân
nhà nước cũng phải đặt mình trong khuôn khổ pháp luật, tổ chức quyền lực
nhà nước khoa học trên cơ sở của sự phân công lao động hợp lý giữa quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp; thứ hai, một hình thức tổ chức nhà nước mà
pháp luật có vị trí, vai trò xã hội to lớn, pháp luật ở đây phải mang tính pháp
lý cao, tính khách quan, nhân đạo, thực sự là đại lượng của tự do và công
bằng, tất cả vì lợi ích của con người. Nhà nước pháp quyền là loại hình nhà
nước có nhiều khả năng nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về
quyền lực và xu hướng quan liêu hóa bộ máy quyền lực.
Về phương diện xã hội, Nhà nước pháp quyền cũng là sự thể hiện một xã
hội được tổ chức thành nhà nước, có sự phát triển lành mạnh của một xã hội

9
dân sự, do vậy Nhà nước pháp quyền có sự khác và đối lập với Nhà nước
pháp trị, Nhà nước độc tài, cực quyền, Nhà nước thuần túy đức trị. Nhà nước
pháp quyền không loại trừ đạo đức, điều này được đặt ra cho mọi quốc gia,
dân tộc, nhất là trong xã hội hiện đại.
Trên phương diện lý luận, Nhà nước pháp quyền là một học thuyết về

luật trong Nhà nước pháp quyền phải mang tính pháp lý cao, khách quan,
công bằng, nhân đạo phù hợp đạo đức xã hội, tất cả vì lợi ích chính đáng của
con người;
- Thứ ba, Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó mối quan hệ giữa
nhà nước và công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, quan hệ đồng trách
nhiệm. Tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ đối với mọi cá nhân, tổ chức kể cả nhà
nước, nhà nước phải chịu trách nhiệm vật chất, tinh thần về các quyết định và
hành vi của mình;
- Thứ tư, Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quyền tự do,
dân chủ và lợi ích chính đáng của con người được nhà nước bảo đảm thực
hiện bằng hệ thống pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được
xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật;
- Thứ năm, Nhà nước pháp quyền là nhà nước sống hòa đồng với cộng
đồng thế giới, thực hiện các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà nhà
nước là thành viên ký kết hay công nhận.
Như vậy có thể thấy mô thức tổng quát nhất của Nhà nước pháp quyền
bao gồm trong đó những đòi hỏi nhất định về tổ chức thực hiện quyền lực
Nhà nước, đó là:
- Yêu cầu về tính pháp quyền của bản thân các thiết chế nhà nước;
- Yêu cầu về tính tối thượng của pháp luật;

11
- Yêu cầu về mối liên hệ dân chủ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân,
giữa nhà nước với các thiết chế tự quản và xã hội dân sự. Mối liên hệ đó phải
phản ánh quyền tự do trên nguyên tắc có thể làm tất cả những gì luật không
cấm;
- Yêu cầu về tổ chức quyền lực nhà nước khoa học và dân chủ trên cơ sở
Hiến pháp và pháp luật thể hiện ở nguyên tắc phân công quyền lực giữa các
phạm vi quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, giữa các cấp
Trung ương và địa phương;

củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” và sự cần thiết phải
nghiên cứu Nhà nước pháp quyền được nêu ra trong bài phát biểu của đồng
chí Đỗ Mười tại Hội nghị toàn quốc về ngành Tư pháp năm 1989: “Hiện nay
trên thế giới đang trở lại khái niệm Nhà nước pháp quyền mà nội dung quan
trọng của nó là thừa nhận sự thống trị của pháp luật đối với xã hội, ở nước ta,
có cùng khái niệm đó hay không thì tùy, các nhà khoa học nên nghiên cứu”.
Trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung
năm 2001) đã long trọng ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức”.
Lý luận xã hội chủ nghĩa đã nghiên cứu, tiếp thu, phát triển những yếu
tố, hạt nhân hợp lý trong lý luận tư sản về Nhà nước pháp quyền và xác lập cơ
sở lý luận - thực tiễn cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân. Các yếu tố và hạt nhân hợp lý đó là pháp luật
giữ vị trí thống trị trong đời sống nhà nước và xã hội, pháp luật là công cụ tổ

13
chức bộ máy nhà nước và điều chỉnh hoạt động của bộ máy nhà nước, pháp
luật công bằng đối với mọi người và mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật, pháp luật tôn trọng quyền con người và quy định nghĩa vụ của nhà nước
phải bảo đảm, bảo vệ quyền con người.
Tóm lại, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một Nhà
nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền,
vừa khẳng định được bản sắc đặc thù của riêng mình qua những đặc trưng cụ
thể:
- Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, chúng ta đã tiếp thu được những tinh hoa, những giá trị toàn nhân loại.
Đó là các chế định pháp lý, như tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,
sự tôn trọng, bảo vệ các quyền và tự do của con người như những giá trị xã
hội cao quý nhất, sự ngự trị của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã
hội, tính tối cao của pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.
1.2. Tiêu chí của Chính phủ trong Nhà nƣớc pháp quyền:
Nói đến Nhà nước pháp quyền không thể không nói đến những thuộc
tính của hành pháp, chính những đặc điểm của hành pháp giúp việc nhận diện
Nhà nước pháp quyền được rõ ràng và chính xác. Như vậy, tồn tại trong một
Nhà nước pháp quyền, Chính phủ phải có những tiêu chí đặc điểm riêng, nếu
không có những đặc điểm đó thì không thể có Nhà nước pháp quyền
- Đầu tiên, là sự hợp pháp của Chính phủ. Nhà nước pháp quyền phải là
nhà nước hợp pháp thì Chính phủ cũng phải được tổ chức và hoạt động hợp
pháp. Nhà nước pháp quyền phải là nhà nước tuân thủ pháp luật thì Chính phủ

15
cũng phải là trọng tâm của việc tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp
luật. Chính việc thành lập đúng, thành lập đủ Chính phủ đem lại một Chính
phủ hợp pháp, phần cơ bản của một nhà nước hợp pháp, một tiêu chí quan
trọng của nhà nước pháp quyền.
Trong thời kỳ đầu tiên của nhà nước quân chủ, chưa có sự hiện diện của
một nhà nước dân chủ, Chính phủ được tập trung vào tay nhà vua, được hình
thành một cách thế tập truyền ngôi, cũng thể hiện một Chính phủ hợp pháp,
vấn đề tiếp theo của Chính phủ là việc cần phải đặt mình dưới sự cai trị của
một hệ thống pháp luật anh minh có thể là gần đủ cho một của Nhà nước pháp
quyền lúc bấy giờ. Cũng chính vì sự hợp pháp đó mà chế độ quân chủ vẫn còn
hay chí ít cũng còn những dấu hiệu cho đến tận ngày nay. Chuyển sang thời
đại dân chủ, với đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền, việc hình thành Chính phủ

hội/Hạ nghị viện cũng phải ra đi. Trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ
luôn luôn phải giành được sự tín nhiệm của Quốc hội/Hạ nghị viện, trường
hợp không còn sự tín nhiệm của Hạ nghị viện thì Chính phủ phải từ chức, Hạ
nghị viện có quyền thành lập ra Chính phủ mới. Trường hợp không thể thành
lập được Chính phủ mới thì Hạ nghị viện phải giải tán. Nhân dân bằng
phương pháp bầu cử sẽ bầu ra Quốc hội mới, Quốc hội mới có trách nhiệm
thành lập ra Chính phủ mới. Trên thực tế nhiều người đứng đầu Chính phủ có
thể lợi dụng chế định tín nhiệm để kéo dài nhiệm kỳ hoặc có thể để củng cố
quyền lực hành pháp của mình.
Cách thức thành lập ra Chính phủ của nhà nước được tổ chức theo mô
hình đại nghị kể cả quân chủ lẫn cộng hòa có nguồn gốc từ Anh quốc. Việc
Chính phủ - hành pháp phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện - một đặc điểm
quan trọng bậc nhất của chính thể đại nghị kể cả quân chủ lẫn cộng hòa, đồng
thời cũng là một trong những biểu hiện quan trọng của sự chịu trách nhiệm
của quyền lực nhà nước của loại hình tổ chức nhà nước này không phải hình

17
thành ngay từ những ngày đầu của cách mạng tư sản, mà cũng phải dần dần
theo trình tự lịch sử của nhà nước Anh.
Như vậy, cả hai cách thức thành lập Chính phủ nói trên đều đòi hỏi phải
có các cuộc bầu cử tự do, bình đẳng, không có sự áp đặt, ép buộc nào. Trường
hợp ngược lại đều là cơ sở cho việc hình thành nên một Chính phủ phi pháp,
không phải Chính phủ của một Nhà nước pháp quyền;
-Thứ hai, cơ cấu của Chính phủ phải tinh gọn. Nếu cơ cấu của Chính phủ
phức tạp cồng kềnh sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc các quan
chức dễ lợi dụng điểm này để gây sách nhiễu đối với công dân, lạm quyền,
tham nhũng. Cơ cấu Chính phủ càng tinh gọn thì càng làm giảm bớt tình trạng
lạm quyền, tham nhũng. Hơn nữa, Nhà nước pháp quyền tồn tại trong một xã
hội công dân năng động và phát triển. Các thiết chế trong cấu trúc quyền lực
của Nhà nước pháp quyền phải có khả năng phản ứng nhanh nhạy đối với

thiệp quá sâu vào xã hội công dân mà phải tạo điều kiện cho sự phát triển
sáng tạo, năng động của xã hội công dân. Nhà nước cần xác lập những khuôn
khổ ở tầm vĩ mô cho sự sinh hoạt của xã hội công dân. Càng đặt ra nhiều quy
phạm quá cụ thể và quá rắc rối điều chỉnh chi tiết từng hành vi của công dân,
càng làm cho công dân không có điều kiện phát triển những khả năng sáng
tạo của mình, sẽ trở nên thụ động. Hơn nữa, sự can thiệp quá mức của Chính
phủ vào đời sống của công dân càng chứng tỏ Chính phủ nặng về cai trị hơn
phục vụ. Điều này chứng tỏ xu hướng vì nhà nước, chứ không phải vì công
dân như yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.
Nhưng như vậy không có nghĩa là Chính phủ để mặc cho xã hội phát
triển. Chính phủ không có tham vọng hành chính hóa nền kinh tế, cũng như
không thể thay thế được vai trò của thị trường và các doanh nghiệp. Tuy
nhiên, xét trên nhiều phương diện, sự quản lý, tác động của Chính phủ là điều
kiện không thể thiếu cho sự vận hành hiệu quả nền kinh tế thị trường.

19
Chính phủ vẫn đóng vai trò quan trọng của mình, đó là vai trò điều tiết,
kiểm soát sự vận hành của thị trường, bảo đảm sự tuân thủ các nguyên tắc
cạnh tranh, kiềm chế những mất cân đối vĩ mô về kinh tế, tài chính. Như vậy,
Chính phủ sẽ hạn chế, giảm thiểu các biện pháp can thiệp trực tiếp vào nền
kinh tế. Vai trò của Chính phủ chính là ở chỗ tạo ra hành lang pháp lý cho sự
vận hành của cơ chế thị trường, kiểm soát những tác động trái của cơ chế thị
trường. Đó là kinh nghiệm của sự đổi mới, hoàn thiện và phát triển chức năng
của nhà nước trong nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập đang chuyển đổi
mau lẹ, sinh động.
Đã từ lâu các nhà bảo thủ cho rằng Chính phủ nên chuyển nhiều chức
năng của mình cho khu vực tư nhân. Tư nhân hóa là một mũi tên trong ống
tên của Chính phủ, nhưng tư nhân hóa không phải là giải pháp duy nhất cho
kinh tế phát triển. Có thể ký hợp đồng hoặc chuyển các dịch vụ cho khu vực
tư nhân. Nhưng công việc quản lý của Chính phủ không thể làm được như

chí và công chúng trông đợi điều này;
Thứ tư, Chính phủ phải minh bạch. Nếu như Nhà nước pháp quyền
chống lại sự lạm quyền của quan chức nhà nước, sự vi phạm pháp luật của
nhà nước, vì con người thì nhân dân phải kiểm soát được hoạt động của nhà
nước. Để nhân dân có thể kiểm soát được Chính phủ, để Chính phủ không
lạm quyền, không vi phạm pháp luật, vì nhân dân thì Chính phủ phải công
khai, minh bạch. Sự minh bạch của Chính phủ có nghĩa đảm bảo công dân có
thể ràng buộc Chính phủ phải chịu trách nhiệm về những hành động của
mình. Sự minh bạch của Chính phủ có nghĩa là hoạt động của Chính phủ phải
được mọi người dân biết đến, công dân có quan tâm, được công khai xem xét
các hoạt động của Chính phủ, trừ những trường hợp đặc biệt do nhu cầu bảo
mật của quốc gia.
Nhiều quan chức của Chính phủ luôn cố gắng giữ bí mật những gì họ đã
làm, đang làm để che dấu những cái dốt nát hay tham lam của họ tạo ra sự bất

21
đối xứng thông tin giữa quan chức nhà nước và quần chúng nhân dân. Bưng
bít, không minh bạch bao giờ cũng giúp cho quan chức nhà nước dễ ra quyết
định sai lầm của họ. Sự che dấu này là một bản chất của nhà nước khi nó mới
ra đời - nhà nước không phải của nhân dân, nhà nước không phải chịu trách
nhiệm. Sự bưng bít thông tin là đặc trưng của nhiều nhà nước chuyên chế
tương phản với giá trị dân chủ và giá trị nhà nước phải chịu trách nhiệm, nó
giúp cho những kẻ đương chức cố thủ giữ chức vụ của mình mà hạn chế đi sự
tham gia của người dân vào các công việc của nhà nước.
Tính minh bạch của Chính phủ yêu cầu công dân phải có quyền và phải
được tạo những điều kiện xem xét hoạt động của Chính phủ để quá trình này
được diễn ra một cách công khai. Công dân phải được tạo điều kiện để có thể
dễ dàng tiếp cận với những thông tin về hoạt động của Chính phủ. Việc hoạch
định chính sách của Chính phủ phải công khai, minh bạch để nhân dân có thể
tham gia vào quá trình đó. Hơn nữa, để cho nhân dân có điều kiện tham gia

quyền về sự kiểm soát lạm quyền của các quan chức nhà nước, bảo vệ quyền
con người đặt ra vấn đề Chính phủ phải tăng cường ý thức trách nhiệm trong
hoạt động của mình, để họ không lạm quyền, không để những hậu quả đáng
tiếc xảy ra ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Ý thức trách nhiệm của
Chính phủ cũng chính là ý thức phục vụ nhân dân.
Khác với các nhà nước bình thường khác, nhà nước pháp quyền phải là
một nhà nước chịu trách nhiệm. Với tư cách là thiết chế trung tâm, hoạt động
của Chính phủ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động của các thiết chế khác
trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, nói đến sự chịu trách nhiệm của nhà nước là
nói đến sự chịu trách nhiệm của Chính phủ. Sự không chịu trách nhiệm của
các bộ phận cấu thành nhà nước cũng là biểu hiện của nhà nước không chịu
trách nhiệm.

23
Tính dám chịu trách nhiệm thể hiện ở chỗ dám chịu trách nhiệm gánh
vác hậu quả trước mọi thất bại có thể xảy ra như dám từ chức, dám bồi
thường thiệt hại, dám xin lỗi trước công chúng. Đồng thời các Bộ trưởng là
thành viên của Chính phủ chịu trách nhiệm trước người đứng đầu hành pháp.
Rất ít có Hiến pháp nào quy định vấn đề này song trên thực tế của đất nước
nào cũng như vậy. Hiến pháp của Mỹ là bản Hiến pháp thành văn lâu đời nhất
không quy định việc tổ chức Chính phủ và các thành viên của Chính phủ
nhưng các Bộ trưởng vẫn được hình thành và chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng
thống mà không phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Trong chế độ đại nghị
của Anh quốc, các Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện nhưng
phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng vì Bộ trưởng phải do Thủ tướng đề cử;
- Thứ năm, trong Nhà nước pháp quyền, hành pháp phải có thẩm quyền
mạnh. Các nước phát triển đã làm rất nhiều điều để tăng cường quyền lực của
hành pháp, như việc gắn đảng cầm quyền với hành pháp, việc tăng cường chế
độ thủ trưởng, chế độ chịu trách nhiệm cá nhân, chế độ chịu trách nhiệm tập
thể.

tháng 01 năm 1946 bầu ra. Chính phủ kháng chiến hoạt động trên cơ sở các
quyết định của kỳ họp Quốc hội thứ hai và Hiến pháp ngày 09 tháng 11 năm
1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Hiến pháp này mới chỉ quy
định Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất; về quyền hạn của Chính phủ
chưa được quy định rõ; về nhiệm vụ, Hiến pháp chỉ ghi: “Chính phủ thi hành
các đạo luật và quyết nghị của nghị viện, có quyền trình dự án luật và sắc
luật”.
Sang giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến
lược: xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, với tinh thần dân chủ hóa, pháp chế hóa, kế hoạch hóa,
coi trọng ứng dụng khoa học vào xây dựng cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành
của Chính phủ, ngày 01 tháng 01 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc

Trích đoạn Đảm bảo tính hợp pháp và hình thức tín nhiệm Chính phủ: Xác định rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ: Thực hiện đúng, đủ nguyên tắc tập thể và đề cao trách nhiệm cá nhân trong hoạt động của Chính phủ: Đảm bảo tính công khai, minh bạch các thông tin cần thiết: Hoạch định chính sách Hoạt động lập pháp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status