Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN TRUNG TÚ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP TỈNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN NHO THÌN

Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM
7
1.1. Đặc điểm, yêu cầu Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
7
1.1.1.

Đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
7
1.1.2.

Yêu cầu của bộ máy nhà nước trong Nhà nước pháp quyền 12
1.2. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam
15
1.2.1.

Vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong bộ máy
nhà nước
15
1.2.2.


4
Chương 2.
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN CẤP TỈNH QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP VÀ THỰC TRẠNG
HIỆN NAY

28
2.1. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh qua
Hiến pháp năm 1946 và các văn bản pháp luật về Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh giai đoạn 1945 - 1958
28
2.1.1.

Về tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 28
2.1.2.
Về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
31
2.2. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh qua
Hiến pháp năm 1959 và những văn bản pháp luật về Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh giai đoạn 1959 - 1979
34
2.2.1.

Về tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 34
2.2.2.

Về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 36
2.3. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh qua
Hiến pháp năm 1980 và những văn bản pháp luật về Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh giai đoạn 1980 - 1991

Quan điểm 74
3.1.2.
Nguyên tắc
75

5
3.2. Giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh
79
3.2.1.

Giải pháp đổi mới tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 79
3.2.2.

Giải pháp đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 83
3.2.3.

Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và
hoạt động của HĐND cấp tỉnh
92
3.2.4.

Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về Hội đồng nhân dân 93
KẾT LUẬN
101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
102
PHỤ LỤC
108


động của HĐND hiện nay cũng bộc lộ một số bất cập, hạn chế, chưa phát huy
được đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; hoạt động của
HĐND vẫn còn mang tính hình thức, ảnh hưởng tới hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của bộ máy chính quyền địa phương các cấp.
Trong thực tiễn công tác cũng như quá trình đóng góp ý kiến về sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 thời gian qua cũng đã có nhiều ý kiến khác
nhau đối với tổ chức chính quyền địa phương như xác định vị trí, tính chất
của HĐND các cấp là cơ quan đại diện và quyền lực ở địa phương hay cần
được quan niệm là cơ quan đại diện và tự quản ở địa phương?; tổ chức
HĐND trong mô hình chính quyền đô thị; nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND
trong điều kiện tăng cường phân cấp và cải cách hành chính, bảo đảm tính

8
thống nhất của nền hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; mối quan
hệ giữa HĐND với UBND và cơ quan nhà nước cấp trên… Đây là những vấn
đề bức thiết đặt ra cần nghiên cứu giải quyết cả về phương diện lý luận và
thực tiễn.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đang triển khai thực hiện nhiều
chính sách, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính
quyền địa phương nói chung và của HĐND nói riêng trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam như thực hiện thí điểm không tổ chức
HĐND huyện, quận, phường tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thí
điểm Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã; triển khai
xây dựng Đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị.v.v Kết quả từ
các việc làm thí điểm này đã phần nào được đúc rút và đưa vào Dự thảo sửa
đổi Hiến pháp năm 1992 (chương về chính quyền địa phương).
Trong điều kiện tổ chức và hoạt động của HĐND còn nhiều vấn đề nổi
cộm và đang có nhiều ý kiến khác nhau, cần có sự nghiên cứu, hoàn thiện thì
việc nghiên cứu đề tài: “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” là cần thiết, góp

HĐND cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam" sẽ làm rõ thêm tình hình tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
qua đó góp phần đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, các văn
bản pháp luật có liên quan đến HĐND và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.

10
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích:
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức
và hoạt động của HĐND cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam, góp phần làm rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ
của HĐND cấp tỉnh, khắc phục những tồn tại, bất cập trong tổ chức và hoạt
động của HĐND cấp tỉnh nói riêng và của HĐND các cấp nói chung, từ đó đề
xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, các văn bản pháp luật có liên
quan đến HĐND và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của HĐND trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Nghiên cứu về quan điểm, đường lối, chính sách Đảng; pháp luật của
Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân;
Nghiên cứu về bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong Nhà nước pháp quyền;
Nghiên cứu vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ; lịch sử hình thành và
phát triển của HĐND;
Nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương ở một số nước trên thế giới để có những bài học kinh nghiệm vận

HĐND các cấp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Cụ thể là:

12
- Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ về mặt lý luận địa vị pháp lý của cơ
quan dân cử ở địa phương trong bối cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt
Nam qua các bản Hiến pháp.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng tổ chức và hoạt động của HĐND cấp
tỉnh với các kết quả đánh giá và cập nhật thông tin, số liệu mới nhất; nêu ra
những ưu điểm và những tồn tại bất cập của HĐND, trong đó tập trung HĐND
cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
- Đề xuất, kiến nghị được các nội dung cụ thể trong việc sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Quy
chế hoạt động của HĐND năm 2005 và các quy định pháp luật có liên quan
cũng như đề xuất ban hành các đạo luật mới để điều chỉnh tổ chức và hoạt
động của HĐND, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về HĐND.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của HĐND cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Chương 2. Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh qua các bản hiến
pháp và thực trạng hiện nay.
Chương 3. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
HĐND cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

13
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH TRONG
ĐIỀU KIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

Thể chế Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, tại kỳ họp thứ 10 của
Quốc hội khóa X năm 2001 đã thông qua Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ
sung), trong đó bổ sung nội dung về Nhà nước pháp quyền:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền
lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp [38, Điều 2].
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền là một chủ trương đúng đắn nhằm xây dựng một Nhà nước thực
sự của dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, công
bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân
Nhà nước ta do nhân dân lập ra và giám sát mọi hoạt động của Nhà
nước; Nhà nước phải luôn luôn hoạt động vì lợi ích nhân dân, lấy phục vụ
nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mình. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ

15
thông qua người đại diện do nhân dân bầu ra trong cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất là Quốc hội và các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
là HĐND các cấp. Đồng thời, nhân dân cũng thực hiện quyền làm chủ trực
tiếp của mình trong đời sống hàng ngày ở địa phương. Toàn bộ cơ quan nhà
nước phải tôn trọng nhân dân, nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
Nhân dân có quyền giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, có quyền bãi
miễn những đại biểu không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính
trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến
pháp. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao
nhấtm quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an
ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện
quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân. Như
vậy, Hiến pháp là điều kiện để bảo đảm sự chính đáng về mặt pháp lý của các
thiết chế quyền lực nhà nước.
Những quan điểm lớn, những nội dung cơ bản của Hiến pháp nước ta là
cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì và thực hiện quyền lực nhà nước, cho
sự làm chủ của nhân dân. Và đó chính là nền tảng có tính chất hiến định để
xem xét, đánh giá sự hợp hiến hay không hợp hiến của các đạo luật, cũng như
các quyết sách khác của nhà nước [45].
Thứ tư: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện mối
quan hệ qua lại giữa Nhà nước với công dân, Nhà nước và xã hội, tôn trọng,
bảo đảm quyền con người, quyền công dân

17
Nhà nước là người đại diện cho lợi ích công, công dân đại diện cho các
lợi ích cá nhân. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền, vì vậy, gắn với vấn đề xã
hội công dân. Cùng với sự ra đời của xã hội công dân, lần đầu tiên trong lịch
sử loài người mọi người được thừa nhận là bình đẳng trong xã hội, bất kể họ
là ai về thành phần và nguồn gốc xuất thân, có các quyền và tự do được pháp
luật thừa nhận, có khả năng tự biểu hiện nhân cách và ý chí, tự chịu trách
nhiệm về hành vi của mình và các hậu quả của hành vi đó. Công dân có thể
làm tất cả những gì luật không cấm. Còn cán bộ, công chức nhà nước và các
cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật quy định.
Thứ năm: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo
thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí các cam kết quốc tế

thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân ở nước ta, bộ máy nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Một là, bộ máy nhà nước cần được tổ chức và hoạt động theo Hiến
pháp và pháp luật.
Đổi mới bộ máy nhà nước cần phải sửa đổi Hiến pháp và các đạo luật
về tổ chức bộ máy. Các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền cũng như
đặc trưng của chế độ chính trị, kinh tế, xã hội nước ta phải được thể chế hóa
thành Hiến pháp và trên cơ sở đó đổi mới các đạo luật về tổ chức bộ máy hiện
hành để tạo lập một khuôn khổ pháp lý thích hợp cho bộ máy nhà nước. Mọi
thẩm quyền của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được quy định
rành mạch, rõ ràng trong Hiến pháp và các đạo luật, không một cơ quan nhà

19
nước nào, dù là Quốc hội, có thể tự đặt thêm cho mình các quyền hạn, ngoại
trừ các quyền đã được Hiến pháp và pháp luật quy định.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và các đạo luật về tổ chức Quốc hội,
Chính phủ và các cơ quan tư pháp cần quy định không chỉ quyền hạn và trách
nhiệm của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp mà còn phải quy định
chặt chẽ và rành mạch mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan này trong quá
trình thực hiện quyền lực được nhân dân ủy quyền, đảm bảo "mọi quyền lực
nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật”.
Hai là, bộ máy nhà nước phải được tổ chức và hoạt động theo nguyên
tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền
tư pháp.
Ở Việt Nam, dù không xây dựng Nhà nước ta theo lý luận về tam
quyền phân lập, nhưng có tham khảo và tiếp thu nhân tố hợp lý của lý luận
đó. Trong Cương lĩnh chính trị 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam có nêu:
“Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với

hoàn thiện chế độ bầu cử đối với các cuộc bầu cử vào Quốc hội, HĐND các
cấp, đổi mới cách bầu cả các chức danh lãnh đạo trong bộ máy nhà nước để
bộ máy nhà nước ta thật sự là bộ máy của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Bên cạnh đó, cần phải công khai, minh bạch công việc của các cơ quan
và công chức nhà nước để bảo đảm việc nhân dân ủy quyền cho bộ máy nhà
nước mà không bị “mất quyền”. Các cơ quan nhà nước và công chức nhà
nước phải có trách nhiệm báo cáo, giải trình trước nhân dân, tạo cơ chế để

21
nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình đối với tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước.
Bốn là, việc xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước trong Nhà nước pháp
quyền phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước và xã hội.
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta cần thiết phải tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước. Trong mối quan hệ giữa
đảng cầm quyền với nhà nước, phải được phân biệt rành mạch sự lãnh đạo
chính trị của Đảng với nội dung, tính chất quản lý, điều hành của bộ máy nhà
nước. Cần có sự đổi mới trên tất cả các phương diện, từ tính chất, phạm vi
quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước cho đến
tổ chức hoạt động và phương thức hoạt động của bộ máy, qua đó tạo dựng
được mô hình tổ chức và hoạt động hợp lý theo đúng tinh thần và bản chất
quyền lực mà nhân dân đã ủy quyền cho Đảng và bộ máy nhà nước trong việc
thực hiện đúng đắn quyền lực của nhân dân [29].
1.2. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
1.2.1. Vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong bộ máy
nhà nước
HĐND có hai đặc điểm quyết định tới vị trí, vai trò của HĐND, đó là:
- Cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra

của nhân dân thông qua việc tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân;

23
Hai là, chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương,
như quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xây dựng và phát triển địa
phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa
vụ của địa phương đối với cả nước;
Ba là, thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực
HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị
quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa
phương.
Trên cơ sở các chức năng của HĐND nêu trên, từ Điều 11 đến Điều 18
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy định các nhiệm vụ, quyền
hạn của HĐND cấp tỉnh trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, văn
hoá, thông tin, thể dục thể thao; khoa học, công nghệ, tài nguyên môi trường;
lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trong việc thực hiện
chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; trong lĩnh vực thi hành pháp luật;
trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành
chính. Bên cạnh đó, các luật, văn bản pháp luật chuyên ngành đã quy định
nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND cấp tỉnh trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
1.2.3. Yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong Nhà nước pháp quyền
HĐND cấp tỉnh có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ hết sức quan
trọng trong bộ máy nhà nước ở địa phương. Để HĐND cấp tỉnh phát huy tốt
vai trò, vị trí trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, đòi hỏi HĐND

diện như tính chất, phạm vi quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của
cấp ủy Đảng và HĐND.
1.3. Kinh nghiệm tổ chức cơ quan dân cử trong mô hình chính
quyền địa phương của một số nước trên thế giới
Hiện nay, các nước trên thế giới tổ chức theo hai hình thức nhà nước là
nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang, dẫn đến sự khác nhau trong hệ
thống chính quyền của các nước. Dù có sự khác nhau nhưng tổ chức cơ quan
dân cử trong bộ máy chính quyền địa phương ở nhiều nước trên thế giới có xu
hướng chung:
Chính quyền địa phương được tổ chức với cơ quan quyền lực (Hội
đồng địa phương, Đại hội đại biểu nhân dân) do cử tri địa phương bầu ra và
hoạt động theo nhiệm kỳ. Số lượng đại biểu tham gia cơ quan quyền lực phụ
thuộc vào số dân và cử tri của địa phương đó, đứng đầu cơ quan quyền lực có
một cấp trưởng và một hoặc một số cấp phó cùng các thành viên, được tổ
chức và hoạt động theo các ban chuyên môn. Cơ quan hành chính cấp cơ sở là
cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực địa phương, chịu trách nhiệm trước
cơ quan quyền lực cùng cấp, đồng thời chịu trách nhiệm với chính quyền cấp
trên. Chính quyền địa phương cấp cơ sở được trao quyền rộng rãi, trong đó có
nhiều quyền tự quản của địa phương nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo
của chính quyền cấp dưới.
Thực hiện phân quyền (tăng cường quyền lực và quyền tự quyết) cho
hệ thống chính quyền ở các địa phương trong các lĩnh vực: Giao thông công
chính, viễn thông, cứu hỏa, mua bán dược phẩm và một số lĩnh vực khác. Mở
rộng quyền thu thuế và tạo thu nhập cho chính quyền địa phương bằng cách
cho phép địa phương thu các loại phí và thuế trên một số lĩnh vực: Từ lệ phí
đăng ký tàu thuyền đến thuế kinh doanh và thuế bất động sản. Tăng cường

Trích đoạn KINH NGHIỆM TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status