Các nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Pdf 25


đại học quốc GIA Hà NI
KHOA LUT
NGUYễN Thị lan Anh

Các nguyên tắc xây dựng nhà n-ớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt Nam

Chuyên ngành : Lí luận và lịch sử nhà n-ớc & pháp luật
Mã số : 60 38 01
Luận văn thạc sĩ luật học

2

MỤC LỤC
Lời nói đầu
6

Chƣơng 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG NHÀ
NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

11
1.1 – Khái niệm nhà nƣớc pháp quyền và Nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam
11
1.1.1 – Khái quát về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử
11
1.1.2 - Sự hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam
15
1.1.3 - Những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
44
2.1.1 – Những thành tựu cơ bản của việc thực hiện các nguyên tắc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
44
2.1.2 – Một số hạn chế của việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
49
2.2- Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực hiện
các nguyên tắc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
53
2.2.1 – Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực
hiện nguyên tắc “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải
giữ vững tính chất giai cấp công nhân và tính chất nhân dân, tính chất
nhân đạo của Nhà nước”
53
2.2.2 – Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực
hiện nguyên tắc “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải
nhằm phát huy được các giá trị của nền dân chủ XHCN và bảo đảm
quyền làm chủ của nhân dân”
58
2.2.3 – Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực
hiện nguyên tắc “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải
tiến hành đồng bộ với với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đổi mới
hệ thống chính trị”
64
2.2.4 – Những giải pháp chính trị - pháp lý cơ bản bảo đảm thực
hiện nguyên tắc “Cần tiếp thu và vận dụng các giá trị phổ biến và kinh
nghiệm thế giới về xây dựng nhà nước pháp quyền vào quá trình xây
5

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ban chấp hành Trung ương – BCH TƯ
Chủ nghĩa xã hội – CNXH
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam – CHXHCN Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa – XHCN

Thực tiễn đổi mới trong những năm qua đã khẳng định yêu cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu
thế khách quan, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội (từ đây,
cụm từ “Chủ nghĩa xã hội” xin viết tắt là “CNXH”)trong điều kiện phát triển

7
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả
các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam vừa có giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung,
vừa phải thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam,
con người Việt Nam.
Nhưng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ là một cuộc
cách mạng, nó là một cuộc đại cách mạng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử.
Cuộc đại cách mạng ấy lại được tiến hành trong bối cảnh đất nước đang trong
thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, còn muôn vàn khó khăn về kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội…trong đó, khó khăn lớn nhất phải kể đến là “nguy cơ
chệch hướng xã hội chủ nghĩa”. Nguy cơ này đã được Đảng ta cảnh báo trong
Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng họp tại Hà Nội,
từ ngày 20 đến 25-1-1994. Trong giai đoạn hiện nay, trước tình trạng nhiều vấn
đề xã hội bức xúc và gay gắt chưa được giải quyết tốt như nạn thiếu việc làm, sự
phát triển của tệ nạn xã hội, sự khó khăn về đời sống của một bộ phận nhân dân,
các thế lực thù địch ra sức chống phá thì nguy cơ chệch hướng XHCN vẫn tồn
tại và diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó việc xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
càng gặp nhiều khó khăn, thử thách.
Do đó, vấn đề cấp bách hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý
luận về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó xác định rõ những
nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đồng thời trên cơ
sở đánh giá thực tiễn, tổng kết những mặt đã làm được, những mặt còn hạn chế

nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội - 2007);
PGS.TS Nguyễn Văn Động (“vấn đề nhà nước pháp quyền”, Tạp chí cộng sản,
số 2/1992, tr 22-25; “Học thuyết về nhà nước pháp quyền:lịch sử và hiện tại”,
Tạp chí Luật học, số 6/1995, tr 11-16, 47); PGS.TS Bùi Xuân Đức (Đổi mới,

9
hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiÖn nay, NXB Tư pháp, HN 2007);
PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế (Tư tưởng Đông, Tây về Nhà nước và pháp luật-
Những nhân tố Nhà nước pháp quyền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3/2002)
4 - Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Nội dung của đề tài tập trung phân tích các vấn đề về cơ sở lý luận của các
nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, bao gồm những
vấn đề khái quát về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử; sự hình thành
và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; những đặc điểm
của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và các nguyên tắc xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện các nguyên tắc xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời gian qua, đề xuất những giải pháp
pháp lý bảo đảm thực hiện các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam trong thời gian tới.
5- Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, phương pháp nghiên cứu cơ bản mà luận văn sử
dụng là phương pháp quy nạp trên cơ sở thống kê, tổng hợp, nghiên cứu và phân
tích những cơ sở lý luận về các nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Phân tích, tổng hợp những bảo đảm cho việc thực hiện
các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trên cơ sở
đánh giá thực trạng thực hiện các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam, tổng hợp những giải pháp chính trị, pháp lý cơ bản đảm bảo
thực hiện các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
6 - Kết cấu của luận văn 11

CHƢƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

1.1 – Khái niệm nhà nƣớc pháp quyền và Nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1.1. Khái quát về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử.
Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng
chính trị - pháp lý, gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc Châu
Âu vì tự do, dân chủ.
Cội nguồn của tư tưởng về nhà nước pháp quyền là những quan điểm của
các triết gia cổ đại (như: Salon, Aristot, Heraclit, Platon, Siseron vv ) về sự
cần thiết phải thiết lập một chế độ nhà nước dựa hẳn vào pháp luật, chịu sự chi
phối của pháp luật. Đến cuối thể kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII các quan điểm này
đã được nâng lên thành tư tưởng khoa học khá hoàn chỉnh. Những người có
công xây dựng tư tưởng ấy là các học giả tư sản tự do ở châu Âu như J.Locke,
S.L. Montesquieu, I.Kant, Hegel, vv…
Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, những quan điểm, tư tưởng ấy được
bổ sung và ngày càng hoàn thiện bằng nhiều quan điểm lý luận mới, trở thành
hệ thống các tri thức khoa học dưới dạng các quan điểm, tư tưởng, lý luận rất
phong phú và phức tạp về mối quan hệ giữa nhà nước – pháp luật – con người
trong xã hội có giai cấp. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng về nhà nước pháp
quyền vẫn là thượng tôn vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước và
đời sống xã hội.
Theo tư tưởng về nhà nước pháp quyền, nhà nước pháp quyền có một số

chống lại sự chuyên quyền, độc đoán và sự tùy tiện trong bộ máy nhà nước và
nhân viên của nó; coi công dân là chủ thể của “xã hội công dân”, công dân là
đối tượng phục vụ của nhà nước, nhà nước có trách nhiệm với công dân và bảo

13
đảm tự do của mỗi công dân trong khuôn khổ pháp luật, ngăn ngừa sự xâm hại
tự do của người khác và lợi ích của xã hội.
Có thể nói, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được sinh ra trong cuộc
cách mạng giải phóng nhân loại khỏi chế độ phong kiến chuyên chế, nhưng
những tư tưởng ban đầu của nó đã bắt đầu từ thời cổ đại. Tư tưởng về nhà nước
pháp quyền ra đời gắn liền với sự khẳng định chủ quyền của nhân dân, nhân
dân là gốc của quyền lực, gắn liền với sự tự do của nhân dân được đảm bảo, với
sự tuân thủ pháp luật của nhà nước, sự phụ thuộc của nhà nước vào xã hội.
Với bản chất tiến bộ và nhân đạo, tư tưởng khoa học về nhà nước pháp
quyền đã trở thành một giá trị văn minh của nhân loại. Xu thế chung của các
quốc gia trên thế giới là hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền và do đó, tư
tưởng về nhà nước pháp quyền lại tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Hiện
nay, trong lý luận còn có các quan điểm khác nhau về khái niệm và các yếu tố
cơ bản cuả nhà nước pháp quyền (tính tối cao của pháp luật, nghĩa vụ tuân thủ
pháp luật của nhà nước, nguyên tắc phân công quyền lực lập pháp, hành pháp
và tư pháp; dân chủ, xã hội công dân; quyền tự do cơ bản của công dân; chủ
quyền nhân dân…). Có quan điểm cho rằng, nhà nước pháp quyền là nhà nước
mà trong đó, mọi chủ thể, (không ngoại trừ nhà nước) đều tuân thủ nghiêm
chỉnh, chịu phục tùng pháp luật – một pháp luật có tính pháp lý cao, phù hợp
với lí trí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao nhất của xã hội, của con người.
Quan điểm khác cho rằng: nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất
giữa tính tối cao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức quyền lực
chính trị; đó là hai yếu tố không thể thiếu khi nói đến nhà nước pháp quyền.
Quan điểm khác nữa lại định nghĩa về nhà nước pháp quyền dựa trên các đặc
trưng của nó, theo đó, nhà nước pháp quyền là nhà nước dựa trên các nguyên
15
1.1.2 - Sự hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam
Ở các nước XHCN, sự nghiên cứu, tiếp thu, phát triển những yếu tố hợp
lý trong tư tưởng tư sản về nhà nước pháp quyền chỉ thực sự bắt đầu khi Liên
Xô và các nước XHCN thực hiện cải tổ, đổi mới vào khoảng những năm 80 cuối
thế kỷ trước. Bắt đầu bằng những bài viết của các nhà triết học, chính trị học,
luật học… đăng trên các báo của Đảng cộng sản Liên xô và các tạp chí khoa học
chuyên nghành, sau đó là những công trình chuyên khảo có giá trị. Các nhà khoa
học không chỉ nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc tư tưởng về nhà nước
pháp quyền trong lịch sử, từ nguồn gốc, nội dung, giá trị khoa học đến những
hạn chế, xu hướng phát triển của nó hiện nay mà còn luận giải để đưa ra căn cứ
khẳng định có thể xây dựng được nhà nước pháp quyền XHCN trên cơ sở tiếp
thu, vận dụng và phát triển những nhân tố hợp lý trong tư tưởng tư sản về nhà
nước pháp quyền.
Quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn được thể hiện
trong các bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Liên Xô và nhà
nước xô viết, và cuối cùng, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
được chính thức đưa vào văn kiện Đại hội XXVII Đảng cộng sản Liên Xô.
Ở các nước XHCN khác cũng vậy, việc nghiên cứu tư tưởng của các nhà
triết học cổ đại và các học giả tư sản về nhà nước pháp quyền cũng chỉ được bắt
đầu khi có đường lối đổi mới, cải cách của Đảng cộng sản. Một trong những
thành quả nghiên cứu ấy là các nhà khoa học đã xác lập được cơ sở lý luận và
thựuc tiễn chắc chắn của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và đề xuất
với Đảng cộng sản đưa ra chủ trương, đường lối, chính sách để thực hiện sự
nghiệp vĩ đại ấy. Có thể nói, trong hầu hết các văn kiện đại hội các Đảng cộng
sản ở các nước XHCN Đông Âu trong giai đoạn từ khi có đường lối đổi mới, cải
cách cho đến lúc sụp đổ (1990 – 1991), đều chứa đựng những quan điểm, tư


17
cùng vẫn là ở nhân dân, do vậy, “nếu chính phủ mà có hại cho dân chúng thì đập
đổ chính phủ ấy đi”.
Hơn nữa, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước hợp hiến, hợp
pháp thì nhà nước pháp quyền phải là nhà nước dân chủ, đồng thời phải là một
nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Những tư tưởng ban đầu về một Hiến pháp dân
chủ được thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ VII (tháng
11/1940) rằng “Ban bố Hiến pháp dân chủ, ban bố những quyền tự do dân chủ
cho nhân dân, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp”.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trong phiên họp đầu
tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ
cấp bách, trong đó có 2 nhiệm vụ trực tiếp liên quan đến xây dựng nhà nước
pháp quyền là xác lập nền tảng dân chủ và pháp quyền cho chế độ nhà nước kiểu
mới, tổ chức tổng tuyển cử và xây dựng hiến pháp dân chủ. Trên nền tảng đó,
Người lãnh đạo và quán triệt vào thực tiễn xây dựng một nhà nước “của dân, do
dân, vì dân”.
Về hệ thống pháp luật, nếu nhà nước pháp quyền đề cao pháp luật thì ở
Hồ Chí Minh đó là hệ thống pháp luật dân chủ, nhân văn. Người viết “luật pháp
của chúng ta…là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng…, pháp luật
của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi của hàng triệu người lao động…, pháp luật của
chúng ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi
cho nhân dân lao động. Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi
người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác. Người nào
sử dụng quyền tự do quá mức mà phạm đến tựu do của người khác là phạm
pháp…” [11, tr.186].
Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ và phát triển quyền con
người, trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Hồ Chí Minh có cách tiếp cận vấn đề quyền
con người mới mẻ và sâu sắc từ thực trạng nhân dân bị áp bức, bóc lột nặng nề.


Từ sau Đại hội VI của Đảng, tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Đảng
cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, phản ánh quá
trình nhận thức ngày càng đúng đắn, đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn về tư tưởng
nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại cũng như quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nước ta hiện nay.
Đầu tiên phải kể đến đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi
xướng đặt ra chủ trương phải “cải cách lớn” bộ máy nhà nước, sửa đổi Hiến
pháp năm 1980 đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Quá trình thực
hiện chủ trương cải cách nhà nước nói riêng và chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp nói
chung đòi hỏi phải tăng cường nghiên cứu các vấn đề lý luận về nhà nước, pháp
luật và vai trò, định hướng xây dựng nhà nước, pháp luật trong điều kiện Đảng
cầm quyền thực hiện đường lối đổi mới kinh tế. Kết quả nghiên cứu những vấn
đề này được phản ánh tập trung trong tác phẩm “Xây dựng nhà nước của nhân
dân – Thành tựu, kinh nghiệm, đổi mới” của đồng chí Đỗ Mười - được xuất bản
nhân dịp kỷ niệm 45 năm xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta.
Trong tác phẩm này, mặc dù chưa đề cập đến khái niệm nhà nước pháp
quyền nhưng những nội dung, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền đã được
vạch ra rất rõ nét. Khi xác định yêu cầu đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà
nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, thực hiện được chế độ dân chủ
XHCN, đảm bảo cho đất nước ổn định và phát triển, đồng chí Đỗ Mười đã khẳng
định “phải xây dựng một nhà nước mà toàn bộ tổ chức, hoạt động của nó dựa
trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật, đồng thời thực hiện được chức năng
quản lý xã hội bằng pháp luật”[26, tr. 62 - 63].
Lần đầu tiên, thuật ngữ nhà nước pháp quyền và sự cần thiết phải nghiên
cứu nhà nước pháp quyền được nêu trong bài phát biểu của đồng chí Đỗ Mười
tại Hội nghị toàn quốc về ngành tư pháp năm 1989: “Hiện nay, trên thế giới đang
trở lại khái niệm nhà nước pháp quyền mà nội dung quan trọng của nó là thừa

20

Như vậy, đây là lần đầu tiên trong văn kiện quan trọng của Đảng chính
thức sử dụng thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” và nêu cụ thể, toàn diện những
quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Với
cách thể hiện trong văn kiện này, tư tưởng về nhà nước pháp quyền có bước
phát triển rõ nét và toàn diện. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam trở
thành chủ trương có tầm chiến lược, bao trùm toàn bộ tổ chức, hoạt động của
nhà nước, trở thành định hướng cho toàn bộ quá trình và nội dung đổi mới tổ
chức, hoạt động của Nhà nước.
Hội nghị lần thứ 8 BCHTƯ Đảng khóa VII nêu rõ: “Tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách
một bước nền hành chính nhà nước”. Sau khi đánh giá những thành tựu và
khuyết điểm, yếu kém trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta, Văn kiện
Hội nghị đã nêu 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng,
kiện toàn bộ máy nhà nước, trong đó nêu rõ mục tiêu thứ 4 là “Tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội
bằng pháp luật đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội”.
Sau mấy năm thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở
nước ta, Nghị quyết thứ nhất của Hội nghị BCHTƯ lần thứ 3, khóa VIII của
Đảng đã nhận xét rằng Đảng ta”…đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm,
nguyên tắc cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân”, đồng thời cũng chỉ rõ: “Việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ,
hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh
nghiệm”. Hơn nữa, Nghị quyết khẳng định cần tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 8 BCHTƯ (khóa VII) và nhấn mạnh ba yêu cầu là tiếp tục phát huy
tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại
diện và dân chủ trực tiếp; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam (từ đây, cụm từ “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” xin

22

trị quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
1.1.3 - Những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nhà nước pháp quyền với tính cách là tư tưởng về tổ chức và thực hiện
quyền lực nhà nước, là một giá trị, là tinh hoa của nhân loại có thể được áp dụng
ở các nước trên cơ sở những nét đặc trưng về văn hoá, chính trị, tư tưởng – pháp
lý, truyền thống dân tộc. Điều quan trọng là chúng ta phải tìm ra được những đặc
điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCNN Việt Nam với bản sắc dân tộc,
truyền thống, văn hoá và những điều kiện riêng của Việt Nam.
Đối với chúng ta, nói xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nói tới
một phương thức tổ chức nền chính trị XHCN và nhà nước XHCN mà mục tiêu
là không ngừng duy trì bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của nhà
nước, phát huy cao độ dân chủ XHCN, làm cho nhà nước thật sự trong sạch,
vững mạnh, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý và điều hành.
Tuy nhiên, từ thực tiễn quá trình đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước mấy
năm qua ở nước ta cho thấy, do chưa thực hiện đúng vày đầy đủ các nguyên tắc
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nên vẫn tồn tại nguy cơ “chệch hướng”.
Do đó, xác định rõ những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền là góp phần
làm rõ nội dung, yêu cầu của các nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN.
Từ thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, có thể nêu
lên các đặc điểm của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân,
vì dân như sau:
Một là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước thật sự của
dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là
liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều
2, Hiến pháp năm 1992).

24
Đây là đặc điểm cơ bản được ghi nhận trong tất cả các Hiến pháp của Nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status