Áp dụng pháp luật hình sự của tòa án nhân dân (qua thực tiễn tỉnh thanh hóa) - Pdf 38

Áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân (qua
thực tiễn tỉnh Thanh Hóa)
Đàm Cảnh Long
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 603801
Người hướng dẫn: Giáo sư, tiến sỹ Hoàng Thị Kim Quế
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc áp dụng pháp luật (ADPL) trong hoạt động giải
quyết án hình sự của TAND dưới góc độ lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật. Làm rõ
những đặc trưng riêng của hoạt động giải quyết án hình sự và các tiêu chí để đánh giá chất lượng
ADPL trong hoạt động xét xử án hình sự của TAND hiện nay. Phân tích thực trạng ADPL hình
sự của TAND ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian 05 năm (từ 2006 đến 2010), làm rõ các nguyên
nhân dẫn đến việc các bản án, quyết định còn oan, sai, bị hủy, cải sửa lớn do lỗi chủ quan, không
đúng pháp luật. Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản bảo đảm chất lượng ADPL trong
hoạt động giải quyết án hình sự của TAND góp phần thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách tư
pháp, nâng cao uy tín của nền tư pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN của dân, do dân và vì dân.
Keywords: Thanh Hóa; Luật hình sự; Tòa án Nhân dân; Pháp luật Việt Nam
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là con đường phát triển tất yếu, phù hợp với xu thế chung
của thời đại. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền tư pháp giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, mục
tiêu của chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta đến năm 2020 đã được chỉ ra trong Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW) là: "Xây dựng nền tư
pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân
dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử
được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao".
Trong những năm qua, chất lượng hoạt động xét xử đã được nâng lên từng bước. Nhưng chưa ngang
tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; Vẫn còn tình trạng xét xử oan, sai, bỏ lọt tội phạm..., các bản án
bị hủy, cải sửa lớn do lỗi chủ quan. Xâm hại đến quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân, làm giảm
sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp.

số tháng 5/2005.
- Tác giả Chu Thi Trang Vân với bài: "Vai trò sáng tạo của Tòa án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự", Tạp chí Lập pháp, số 27, tháng 9/2007.
- Tác giả Nguyễn Ngọc Trí với bài: "Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải
cách tư pháp", Tạp chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2009.
Những công trình nghiên nêu trên đã đề cập đến việc ADPL, ADPL trong xét xử của TAND nói
chung, ADPL trong xét xử các vụ án hình sự nói riêng. Luận văn này tập trung nghiên cứu toàn bộ hoạt
động ADPL hình sự của TAND qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa, nơi học viên đã có nhiều năm công tác
nhằm rút ra những kết luận trong hoạt động ADPL hình sự của TAND.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn


3.1. Mục đích
Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở lý luận của ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự.
Phân tích, đánh giá thực trạng ADPL hình sự của TAND ở tỉnh Thanh Hóa. Từ đó luận văn đề xuất quan
điểm và giải pháp bảo đảm ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự, khắc phục những hạn chế ADPL
hình sự của TAND.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của TAND dưới góc độ lý
luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật. Làm rõ những đặc trưng riêng của hoạt động giải quyết án hình sự
và các tiêu chí để đánh giá chất lượng ADPL trong hoạt động xét xử án hình sự của TAND hiện nay.
- Phân tích thực trạng ADPL hình sự của TAND ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian 05 năm (từ 2006
đến 2010), làm rõ các nguyên nhân dẫn đến việc các bản án, quyết định còn oan, sai, bị hủy, cải sửa lớn
do lỗi chủ quan, không đúng pháp luật.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản bảo đảm chất lượng ADPL trong hoạt động giải quyết án
hình sự của TAND góp phần thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao uy tín của nền tư
pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc ADPL hình sự, trong quá trình giải quyết các vụ án hình

lôgic, phương pháp thống kê, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về ADPL trong hoạt động xét xử nói chung
và ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của TAND qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa nói riêng, luận
văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các
vụ án hình sự của TAND đáp ứng nhu cầu công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận về ADPL, làm sáng tỏ các đặc điểm của
ADPL hình sự của TAND trong việc giải quyết các vụ án hình sự.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn
cho thẩm phán, thư ký Tòa án, những người trực tiếp làm công tác giải quyết án hình sự tại các TAND,
góp phần nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự của TAND. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, học tập trong các trường Đại học ngành luật.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Các quan điểm và giải pháp cơ bản về bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật hình sự của
Tòa án nhân dân.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN


1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật
1.1.1. Áp dụng pháp luật trong hệ thống các hình thức thực hiện pháp luật
ADPL hình sự có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có những đặc điểm chung như các dạng ADPL khác,
vừa có những đặc điểm riêng của mình.Do vậy, trước khi nghiên cứu về ADPL hình sự, chúng ta cần

mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu tài sản của con người, việc duy trì trật tự công cộng và
chỉ duy nhất Tòa án có quyền áp dụng.


Áp dụng Bộ luật hình sự (BLHS) là ADPL nội dung, áp dụng BLTTHS là ADPL hình thức của hoạt
động giải quyết án hình sự. Hoạt động tố tụng hình sự chứa đựng cả áp dụng quy phạm pháp luật nội dung
và quy phạm pháp luật hình thức với mục đích bảo đảm áp dụng BLHS chính xác. Hoạt động đó bao gồm
những bước đi theo trình tự tố tụng chặt chẽ, là tiền đề quan trọng để quyết định chính xác trách nhiệm hình
sự nhằm bảo đảm nguyên tắc khách quan, công bằng, tạo ảnh hưởng tích cực trong việc trừng trị kết hợp
giáo dục, cải tạo người phạm tội thành công dân có ích cho xã hội, góp phần đấu tranh phòng chống tội
phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
ADPL hình sự của Tòa án là một hình thức ADPL do Tòa án tiến hành, áp dụng quy phạm pháp luật
tố tụng hình sự và quy phạm pháp luật hình sự để giải quyết các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền và thực
hiện một số nhiệm vụ trong giai đoạn thi hành án hình sự.
1.2.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân
Thứ nhất, ADPL hình sự của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước, do Tòa án tiến
hành được thực hiện bởi người có thẩm quyền mà chủ yếu là hội đồng xét xử.
Thứ hai, ADPL hình sự của Tòa án chủ yếu được tiến hành tại phiên tòa công khai.
Thứ ba, ADPL hình sự của Tòa án phải tuân thủ chặt chẽ về trình tự thủ tục do BLTTHS quy định.
Thứ tư, ADPL hình sự của Tòa án là quá trình cá biệt hóa những quy phạm pháp luật hình sự đối với
mỗi bị cáo.
Qua phân tích những đặc điểm của việc ADPL hình sự của TAND, có thể hiểu:
ADPL hình sự của TAND là những hoạt động nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước của
Tòa án, chủ yếu là thông qua hội đồng xét xử tiến hành trực tiếp tại phiên tòa theo quy định của BLTTHS
và BLHS để xác định tội danh và hình phạt cụ thể đối với những người bị VKSND truy tố, kết quả thường
được thể hiện bằng những bản án hình sự.
1.2.3. Các giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân
1.2.3.1 Giai đoạn xét xử sơ thẩm
Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong việc ADPL hình sự của TAND. Bằng những hoạt động tố tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành định tội và lượng hình cho mỗi bị cáo, kết quả thường

1.4.1. Xét xử thấu tình đạt lý
Xét xử thấu tình đạt lý là mong muốn lớn nhất của xã hội đối với việc xét xử của Tòa án nói chung,
đặc biệt là xét xử hình sự.
Vì vậy xét xử kịp thời, đúng người đúng tội, đúng pháp luật (cả pháp luật nội dung và tố tụng) là tiêu
chí đầu tiên và quan trọng nhất của việc ADPL hình sự của Tòa án.
Không chỉ đúng pháp luật mà bản án của Tòa án phải mang tính thuyết phục cao.
1.4.2. Việc áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án phải thực sự dân chủ, minh bạch, bảo vệ các
quyền lợi chính đáng hợp pháp của công dân.
Quyền con người luôn luôn được pháp luật hình sự đặc biệt coi trọng trong tất cả các giai đoạn tố
tụng.
1.4.3. Việc áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án phải góp phần nâng cao ý thức pháp luật của
người dân
ADPL hình sự của Tòa án phải góp phần khuyến khích hành vi hướng thiện, hợp pháp, phòng chống
tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
1.4.4. Việc áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án phải góp phần tích cực vào việc thực hiện
đường lối chính sách của Đảng và nhà nước.
Kết luận chƣơng 1


Chương 1 luận văn đã nghiên cứu lý luận chung về ADPL, khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn ADPL
hình sự của Tòa án. Ngoài đặc điểm chung của ADPL thì ADPL hình sự của Tòa án còn có những đặc
trưng riêng. Đó là hoạt động ADPL hình sự của Tòa án được tiến hành chủ yếu tại phiên tòa, do Hội đồng
xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, trực tiếp tiến hành theo quy định của BLTTHS nhằm xác định tội
danh và áp dụng hình phạt đối với bị cáo có tội theo quy định của BLHS.
Qua đó làm rõ vai trò và các tiêu chí đánh giá chất lượng ADPL hình sự của Tòa án. Kết quả hoạt
động ADPL hình sự của Tòa án chủ yếu là các bản án hình sự. Bản án hình sự của Tòa án phải thấu tình
đạt lý, nghĩa là đúng người đúng tội đúng pháp luật và có sức thuyết phục cao. Bảo đảm tính công khai, dân
chủ, khách quan, minh bạch của hoạt động xét xử, bảo vệ được các quyền lợi chính đáng hợp pháp của những
người tham gia tố tụng, góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước trong
mỗi giai đoạn cách mạng. Chất lượng của bản án hình sự là thước đo chất lượng hoạt động ADPL hình sự của

đã thụ lý, là phần việc chính trong hoạt động ADPL hình sự của Tòa án. Chủ yếu thông qua phiên Tòa xét
xử hình sự sơ thẩm, Hội đồng xét xử đánh giá chứng cứ, xác định tội danh và áp dụng hình phạt cụ thể
đối với mỗi bị cáo.
2.2.2. Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự phúc thẩm
Trong 05 năm từ 2006 đến 2010 TAND tỉnh Thanh Hóa đã giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với
951 vụ án hình sự của tòa án cấp huyện. Trong đó chủ yếu là y án sơ thẩm, chỉ thay đổi hình phạt đối với
33 bị cáo do có tình tiết mới tại cấp phúc thẩm (do bị cáo tích cực khắc phục hậu quả) và hủy án 14 vụ án
(chiếm 1,47%).
TANDTC xét xử phúc thẩm các bản án do TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị, từ năm 2006 đến năm 2010 là 340 vụ, trong đó giảm hình phạt cho 37 bị cáo, tăng hình phạt
đối với 02 bị cáo, hủy án 05 vụ, thay đổi tội danh đối với 02 bị cáo.
2.2.3. Áp dụng pháp luật trong giai đoạn thi hành án hình sự
Từ năm 2006 đến năm 2010 TAND tỉnh Thanh Hóa:
- Đã ra quyết định thi hành án đối với 1866 người bị kết án, bằng 100% các bản án đã có hiệu lực
pháp luật.
- Quyết định tạm đình chỉ chấp hành án đối với 819 người bị kết án bị bệnh nặng (chủ yếu bị
HIV/AIDS) cần được điều trị.
- Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 25550 người bị kết án đã tích cực lao động cải
tạo, đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam đóng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, đúng theo quy định
của pháp luật.
2.2.4. Áp dụng pháp luật trong giám đốc thẩm, tái thẩm
Từ 2006 đến 2010 TAND ở tỉnh Thanh Hóa không có vụ án nào bị kháng nghị theo trình tự tái thẩm;
quyết định giám đốc thẩm đối với 27 vụ án hình sự của TAND cấp huyện, trong đó 21 vụ đã bị hủy án theo
trình tự giám đốc thẩm.
Từ năm 2006 đến 2010 TANDTC đã hủy theo trình tự giám đốc của TAND tỉnh Thanh Hóa 03 vụ án
hình sự, hủy cả bản án sơ thẩm của Tòa án cấp huyện và án phúc thẩm của TAND tỉnh Thanh Hóa 02 vụ,
hủy án sơ thẩm của TAND tỉnh Thanh Hóa và án hình sự phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TANDTC 01 vụ.
2.3. Những hạn chế trong áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thanh Hóa
2.3.1. Những hạn chế


tại địa phương. Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đã đạt được, vẫn còn một số vụ án còn có sai lầm về
đánh giá chứng cứ, quyết định tội danh, quyết định hình phạt và áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự.
Chương 3


QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN
VỀ BẢO ĐẢM CHẤT LƢỢNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
3.1. Các quan điểm cơ bản về về nâng cao chất lƣợng áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án
nhân dân
- Bảo đảm chất lượng hoạt động ADPL hình sự của TAND để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, của dân do dân và vì dân.
- Bảo đảm chất lượng hoạt động ADPL hình sự của TAND để đáp ứng yêu cầu xây dựng cải cách tư
pháp, bảo vệ các quyền con người, hội nhập quốc tế.
- Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vì sự ổn định và phát triển bền
vững của đất nước.
3.2. Các giải pháp bảo đảm chất lƣợng áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân
Bảo đảm chất lượng ADPL hình sự của TAND cần phải tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ, các giải
pháp này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành cơ chế vận hành thúc đẩy hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong hoạt động ADPL hình sự. Các giải pháp bảo đảm
chất lượng ADPL hình sự của TAND bao gồm:
3.2.1. Các giải pháp chung
- Hoàn thiện pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự.
Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng và
người tiến hành tố tụng ADPL được thống nhất và chính xác. Hiện nay BLHS và BLTTHS dù được sửa đổi,
bổ sung nhiều lần nhưng một số quy định vẫn còn những bất cập, không phù hợp, gây khó khăn cho các chủ
thể ADPL và không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ các quyền lợi ích
chính đáng hợp pháp của công dân.
+ Tranh tụng tại phiên tòa cần phải được đưa lên thành một nguyên tắc trong BLTTHS.
+ Bảo đảm sự bình đẳng giữa Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa với luật sư bào chữa cho
bị cáo, bị cáo.

ngành để thẩm phán, công chức thuận lợi tra cứu, cập nhật văn bản mới. Thường xuyên tổ chức tập huấn,
hội thảo các chuyên đề về luật hình sự, luật tố tụng hình sự, kỹ năng nghiệp vụ xét xử án hình sự. Tổ chức
các phiên tòa mẫu, yêu cầu các thẩm phán khác dự và đóng góp ý kiến.
Sớm hoàn thiện các quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán phán. Ngoài tiêu chuẩn theo quy
định hiện hành cần phải kết hợp với đánh giá hiệu quả công tác, năng lực thực tiễn. Trước khi bổ nhiệm
hoặc tái nhiệm cần tổ chức thi tuyển nghiệp vụ xét xử hoặc 05 năm 01 lần tổ chức thi sát hạch với toàn
thể đội ngũ thẩm phán để sàng lọc những thẩm phán trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém. Việc thi tuyển
hoặc thi sát hạch phải hết sức khách quan, công bằng, thông qua việc xử lý các tình huống cụ thể mà quá
trình xét xử đòi hỏi người thẩm phán phải giải quyết.
Việc tạo nguồn thẩm phán nên nghiên cứu theo hướng mở, không chỉ là thư ký, công chức Tòa án.
TANDTC nên tổ chức thi tuyển đào tạo chức danh thẩm phán đối với những người có bằng tốt nghiệp
Đại học luật trở lên, có nguyện vọng làm thẩm phán. Sau thời gian đào tạo xét xử chuyên sâu một lĩnh
vực, sát hạch nghiêm túc, khách quan, công bằng (công khai các bài thi của người trúng tuyển lên mạng
internet để nhiều chủ thể có thể giám sát). Nếu họ vượt qua được thì tuyển dụng họ vào làm thư ký Tòa án
các cấp và là nguồn bổ nhiệm thẩm phán. Điều này sẽ nâng cao chất lượng nguồn bổ nhiệm thẩm phán,
tạo điều kiện cho những người có năng lực và tâm huyết với nghề thẩm phán có cơ hội được làm thẩm


phán, mặt khác giảm được gánh nặng ngân sách của nhà nước cho việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cũng
như những tiêu cực trong việc xét duyệt cử đi học lớp nghiệp vụ xét xử.
+ Đãi ngộ thỏa đáng và sử dụng hợp lý đội ngũ thẩm phán. Lao động của thẩm phán là lao động đặc thù,
chịu nhiều áp lực, đòi hỏi phải có trí tuệ, bản lĩnh, chuyên môn nghiệp vụ cao. Cần phải có mức lương tương
xứng với lao động đặc thù của thẩm phán. Chỉ khi mức lương của thẩm phán đáp ứng được nhu cầu cuộc sống
của bản thân và gia đình thì họ mới yên tâm công tác, đầu tư thời gian nghiên cứu pháp luật, nghiên cứu hồ sơ
vụ án, hạn chế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tiêu cực, vô tư, khách quan trong việc ADPL.
Thực hiện chế độ khen thưởng bằng vật chất tương xứng với hiệu quả công tác, chất lượng, số lượng
các vụ án đã xét xử hàng năm. Xây dựng các danh hiệu, như thẩm phán nhân dân, thẩm phán ưu tú…để
xã hội tôn vinh những thẩm phán mẫu mực.
Phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ và năng lực thực tế của từng thẩm phán. Việc sắp xếp, bố
trí, phân công nhiệm vụ đối với thẩm phán phải căn cứ vào trình độ chuyên môn, kinh nghiệm xét xử, sở

còn căn cứ vào lẽ công bằng, lẽ phải ở đời, dưới góc nhìn của những người dân để phán quyết đối với bị
cáo có tội hay không có tội, tội danh gì và mức hình phạt tương xứng. Vì vậy không thể yêu cầu Hội thẩm
phải có trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp như thẩm phán. Không chỉ Việt Nam mà hầu hết các
nước trên thế giới, thành viên bồi thẩm đoàn đều là những công dân có uy tín đại diện cho các bộ phận
dân cư trực tiếp tham gia xét xử, không yêu cầu cao về tiêu chuẩn trình độ pháp lý. Tuy nhiên các Hội
thẩm nhân dân cần chủ động tìm hiểu pháp luật, nâng cao trách nhiệm của mình đối với công tác xét xử,
để có đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ Hội thẩm của mình.
Đoàn Hội thẩm nhân dân cần độc lập về tài chính và việc bố trí Hội thẩm tham gia phiên tòa.
Để khuyến khích Hội thẩm nhân dân nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích cực nghiên cứu hồ sơ, tham
gia xét xử có hiệu quả cần có chế độ đãi ngộ tương xứng. Kinh phí hoạt động của Đoàn Hội thẩm nhân
dân cần phải độc lập không phụ thuộc vào Tòa án như hiện nay, để đoàn hội thẩm chủ động chi trực tiếp
cho các hội thẩm tham gia nghiên cứu hồ sơ và xét xử. Mặt khác cũng là để tạo điều kiện cho Hội thẩm
nhân dân độc lập khi xét xử, giao việc bố trí Hội thẩm tham gia phiên tòa cho Đoàn Hội thẩm. Đoàn Hội
thẩm cần có quy chế bố trí Hội thẩm lần lượt tham gia phiên tòa, nếu vì lý do không tham gia xét xử được
khi đến lượt phải có văn bản báo cáo và được bố trí tham gia vào lần tiếp theo. Tránh tình trạng Hội thẩm
không theo định hướng của thẩm phán khi nghị án thì ít được mời tham gia xét xử hoặc để tiết kiệm kinh
phí, thời gian Tòa án bố trí cho Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ quá ít so với yêu cầu.
- Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nguyên tắc này được đảm bảo dưới các khía cạnh sau:
Thứ nhất: Độc lập với những yếu tố khách quan tác động từ bên ngoài Tòa án.
Thứ hai: Độc lập từ các yếu tố khách quan tác động từ bên trong các mối quan hệ nội bộ của Tòa án.
Độc lập giữa Tòa án cấp dưới với Tòa án cấp trên, độc lập trong nội bộ một Tòa án, giữa thẩm phán chủ
tọa với chánh án, chánh tòa. Cần phải tách bạch giữa quan hệ hành chính với quan hệ tố tụng. Đề cao
trách nhiệm của Hội đồng xét xử đối với phán quyết của mình.
Thứ ba: Độc lập giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử, mỗi thành viên độc lập và ngang quyền
với nhau trong việc đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận.
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là hai nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chỉ khi nào bảo đảm
cho Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, thì họ mới chỉ tuân theo pháp luật và ngược lại. Thẩm phán và Hội thẩm
độc lập mới nâng cao được chất lượng xét xử, nâng cao trách nhiệm cá nhân của các thành viên Hội đồng xét
xử, đúng với tính chất của hoạt động xét xử, bảo đảm khách quan đúng với diễn biến phiên tòa.

References.
1.

Bộ Tư pháp (1995), Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2.

Lê Cảm (2006), "Các nguyên tắc cơ bản của cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam, Tòa án nhân dân, (01).

3.

Tô Xuân Dân - Nguyễn Thanh Bình (2004), "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
do, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng", Tạp chí Cộng sản, (4).

4.

Nguyễn Tấn Dũng (2003), Bài phát biểu tại hội nghị tổng kết công tác năm 2002 và triển khai công
tác năm 2003 của ngành Kiểm sát nhân dân, ngày 7/01/2003, Hà Nội.

5.

Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.


nước và pháp luật, (6).
17. Phạm Hồng Hải (2003), "Đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả của hoạt động tư pháp", Luật học, (2).
18. Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
19. Hoàng Văn Hảo (1999), "Xã hội hóa một số hoạt động của cơ quan tư pháp nhìn từ góc độ dân chủ",
Dân chủ và pháp luật, (8).
20. Hoàng Văn Hảo (2003), "Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của mô hình tổng thể Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", Nhà nước và pháp luật, (2).
21. Nguyễn Văn Hiện (1999), "Một số vấn đề thực tiễn xét xử và vướng mắc trong việc phân biệt giữa
các tội phạm: "Lừa đảo chiếm đoạt...", "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt...", "Sử dụng trái phép
tài sản xã hội chủ nghĩa" quy định tại các điều 134, 134a, 135, 137, 137a, 157, 158 Bộ luật
hình sự và phân biệt các tội phạm này với các vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế", Tòa án nhân
dân, (1).
22. Nguyễn Văn Hiện (2001), "Nâng cao chất lượng soạn thảo bản án hình sự - một yêu cầu cấp bách",
Dân chủ và pháp luật, (4).
23. Nguyễn Văn Hiện (2002), "Tăng cường năng lực xét xử của tòa án cấp huyện - một số vấn đề cấp
bách", Tòa án nhân dân, (1).
24. Phan Chí Hiếu (2011), "Đào tạo các chức danh tư pháp - nhiệm vụ quan trọng để xây dựng đội nhũ
cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh", Dân chủ và pháp luật, (01).
25. Nguyễn Ngọc Hòa (2000), "Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm
1999", Luật học, (2).
26. Nguyễn Mạnh Kháng (2003), "Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng", Nhà nước và pháp luật, (10).
27. Khoa Luâ ̣t, Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật , Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
28. Hoàng Thế Liên (2004), "Xây dựng Nhà nước pháp quyền từ lý luận đến thực tiễn", Dân chủ và pháp
luật, (1).
29. Hoàng Thế Liên (2011), "Về hệ thống cơ quan xét xử và vấn đề công tố, Dân chủ và pháp luật, (01).
30. Nguyễn Văn Luyện (2003), "Dư luận xã hội và pháp luật", Nhà nước và pháp luật, (3).



52. Chu Hồng Thanh (2001), "Bảo đảm công bằng xã hội trong tư pháp", Dân chủ và pháp luật, (2).
53. Đỗ Ngọc Thịnh (2003), "Tăng cường công tác đào tạo các chức danh tư pháp trong điều kiện cải cách
tư pháp ở nước ta", Đặc san Nghề Luật, (4).
54. Ngô Ngọc Thủy (1998), "Chính sách pháp luật, chính sách hình sự trong sự nghiệp đổi mới của Nhà
nước ta", Luật học, (5).
55. Phan Hữu Thư (2003), "Đạo đức nghề luật", Đặc san Nghề luật, (3) và (4).


56. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2006), Báo cảo tổng kết ngành Tòa án năm 2006, Thanh Hóa.
57. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2007), Báo cảo tổng kết ngành Tòa án năm 2007, Thanh Hóa.
58. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2008), Báo cảo tổng kết ngành Tòa án năm 2008, Thanh Hóa.
59. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2009), Báo cảo tổng kết ngành Tòa án năm 2009, Thanh Hóa.
60. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2010), Báo cảo tổng kết ngành Tòa án năm 2010, Thanh Hóa.
61. Tòa án nhân dân tối cao (2002), Các văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành về tổ chức và hoạt
động của tòa án nhân dân, Hà Nội.
62. Hà Mạnh Trí (2003), "Sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự nhằm đấu tranh có hiệu quả với tội phạm, bảo
vệ tốt hơn quyền tự do dân chủ của công dân", Kiểm sát, (6).
63. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003)., Giáo trình Luật hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
64. Nguyễn Văn Tuân (2011), "Đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử", Dân chủ
pháp luật, (01).
65. Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
66. Đào Trí Úc (1993), Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
67. Đào Trí Úc (2003), "Cải cách tư pháp: ý nghĩa, mục đích và trọng tâm", Nhà nước và pháp luật, (2).
68. Đào Trí Úc (2003), "Về vị trí, vai trò, đặc trưng và các nguyên tắc của hoạt động tư pháp", Nhà nước
và pháp luật, (7).
69. Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý (2000), "Người thẩm phán nhân dân", Thông tin khoa học pháp
lý, (5).
70. Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý (2001), "Văn hóa tư pháp", Thông tin khoa học pháp lý, (7).
71. Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý (2001), Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.


Tỷ lệ

thụ lý

đã xét xử

đã xét xử

giải quyết

2006

1.441

1.294

1.984

90%

2007

1.383

1.359

2.172

98%


Nguồn: văn phòng tổng hợp Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status