Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ KIM THUÝ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN
THIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 5.05.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Lợi
Chương III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, PHƢƠNG HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN
NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về thẩm quyền xét xử của Toà án nhân
dân cấp huyện
3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện thẩm
quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện
3.3. Phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện thẩm quyền xét xử
của Toà án nhân dân cấp huyện
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TAND Toà án nhân dân
TANDTC Toà án nhân dân Tối cao
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân Tối cao
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
TTHS Tố tụng hình sự
TTDS Tố tụng dân sự
TTLĐ Tố tụng lao động
TTKT Tố tụng kinh tế
TTHC Tố tụng hành chính
BLHS Bộ luật hình sự

các cơ quan tư pháp nói chung, đã nhấn mạnh đến việc phân định lại thẩm
quyền xét xử của các cấp Toà án, đặc biệt là Toà án cấp huyện. Báo cáo chính
trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ
quan tư pháp. Phân định lại thẩm quyền xét xử của TAND. Từng bước mở
rộng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện….Xây dựng đội ngũ Thẩm
phán, Thư ký Tòa án, Chấp hành viên, Công chứng viên, Giám định viên,
Luật sư…có phẩm chất chính trị và đạo đức, chí công vô tư, có nghiệp vụ
vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạch vững mạnh”. Nghị quyết Trung
ương III (khoá 8) cũng đã xác định rõ: “Nghiên cứu phân cấp thẩm quyền bổ
nhiệm Thẩm phán Toà án cấp tỉnh và Toà án cấp huyện; đồng thời căn cứ vào
tình hình đội ngũ cán bộ hiện nay mà điều chỉnh tiêu chuẩn tuyển chọn cho
phù hợp để kịp thời bổ sung đủ Thẩm phán cho Toà án cấp huyện và Toà án
cấp tỉnh…”. “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh, có
phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn. Lập quy hoạch tuyển

5
chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ tư pháp theo từng loại chức danh với tiêu chuẩn
cụ thể: tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động
của cán bộ tư pháp để có thể đánh giá và sử dụng tốt cán bộ; xử lý nghiêm
những cán bộ tham nhũng, tiêu cực”
(1)
.
Văn kiện Đại hội Đảng IX tiếp tục xác định: “Cải cách tổ chức, nâng cao
chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách
nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ,
truy tố, xét xử, thi hành án không để xảy ra những trường hợp oan sai…tăng
cường đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cả về số lượng và chất
lượng”
(2)

.
Tuy nhiên, công tác xét xử nói chung và thẩm quyền xét xử của TAND
cấp huyện nói riêng cũng còn nhiều hạn chế nhất định, là một trong những
nguyên nhân dẫn đến: còn tồn đọng án đã thụ lý nhưng đưa ra xét xử chậm,
chất lượng xét xử nhiều vụ án còn hạn chế, đặc biệt là tình trạng xét xử oan,
sai tuy xảy ra không nhiều nhưng rất nghiêm trọng
(2)
, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của không ít Thẩm phán còn non yếu, các biểu hiện suy thoái đạo
đức, tiêu cực, tham nhũng của một bộ phận thẩm phán vẫn tiếp tục xảy ra
(3)
.

(1)
Chế định thẩm phán - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn – Viện Khoa học pháp lý
– TS. Phạm Văn Lợi chủ biên, tr 12
(2)
Điển hình là một số vụ án được báo chí và dư luận phán ánh nhiều như vụ Bùi
Minh Hải ở Đồng Nai (năm 1999), vụ Dương Thị Nga ở Hà Nội (năm 2000); vụ Chu
Quang Hưng ở thành phố Hồ Chí Minh (năm 2000)…
Theo báo cáo của VKSNDTC tại Quốc hội khoá X, trong năm 2001 có 31 trường hợp
Toà án cấp sơ thẩm tuyên có tội, nhưng cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm lại tuyên không
có tội; 10 trường hợp cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng cấp phúc thẩm lại tuyên có tội
(nguồn: bài “VKSND tập trung thực hiện chức năng công tố, kiểm sát các hoạt động tư
pháp” – Hạnh Nguyên – Báo Pháp luật số ra ngày 16/12/2001).
(3)
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp trong 3 năm 1999, 2000 và 2001 các cơ quan chức

Phương hướng của việc hoàn thiện” (Luận án Tiến sĩ Luật học của TS Phạm
Văn Lợi – Lômônôxôp – Matxcơva – 1997); Cải cách hệ thống Toà án trong

8
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam (TSKH Lê Cảm - tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 4 năm 2001); Nguyên nhân và giải pháp khắc phục án
quá tải ở Toà án phúc thẩm TANDTC hiện nay (Nguyễn Duy tạp chí pháp lý
số 11 năm 2000); Một số vấn đề về hoàn thiện thẩm quyền xét xử của TAND
các cấp (TS Trần Văn Độ- tạp chí Toà án nhân dân số 6 năm 2001); Vấn đề
mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND cấp quận,
huyện và yêu cầu hoàn thiện PLTTHS (TS Nguyễn Văn Hiện – chánh án Toà
án nhân dân tối cao); Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam (đề tài cấp nhà
nước, mã số 92 – 98 – 353, chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Yểu và TS
Nguyễn Đình Lộc); Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động
của các cơ quan tư pháp (góp phần sửa đổi Hiến pháp , đề tài cấp bộ, chủ
nhiệm đề tài: PGS. TS Hoàng Thế Liên, năm 2001); Những vấn đề đổi mới hệ
thống tư pháp ở nước ta (PGS. TS Phạm Hồng Hải, tạp chí TAND số 04 năm
1999)
Ngoài ra, vấn đề thẩm quyền xét xử còn được đề cập, phân tích trong
một số giáo trình và sách chuyên khảo như: Giáo trình luật TTHS (Nhà xuất
bản Đại học quốc gia Hà Nội 2001 – tập thể tác giả do TS Nguyễn Ngọc Chí
chủ biên); Giáo trình luật TTHS Việt Nam (Trường đại học Luật Hà Nội); Hệ
thống hoá luật lệ về TTHS (Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1992);
Bình luận khoa học BLTTHS… Trong một số khoá luận tốt nghiệp cử nhân
luật học và một số đề tài luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về chế định
thẩm quyền xét xử như: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền xét
xử của TAND các cấp (Vũ Quang Dương – năm 2003); Thẩm quyền của
TAND các cấp ( Ngô Hồng Phúc – năm 1996)…. Tuy nhiên, các nghiên cứu
trên đây của các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử
nói chung mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thẩm quyền


10
pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, thống kê số liệu thực tiễn …
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đặc biệt coi trọng các phương pháp phân tích
và tổng hợp, so sánh, hệ thống kết hợp với khảo sát thực tiễn để làm sáng tỏ
nội dung nghiên cứu của đề tài.

6. Cơ cấu luận văn:

- Lời mở đầu:
- Nội dung: gồm 3 chương
Chương I: Một số vấn đề chung về thẩm quyền xét xử của Toà án nhân
dân cấp huyện
1.1. Khái niệm thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện.
1.2. Các căn cứ quy định thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp
huyện.
Chương II: Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền
xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về thẩm quyền xét xử
của Toà án nhân dân cấp huyện.
2.2. Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định
của pháp luật hiện hành.
Chương III: Thực tiễn áp dụng, phương hướng và các giải pháp hoàn
thiện về thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về thẩm quyền xét xử của Toà án
nhân dân cấp huyện.

11

nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân. Nhân dân trao quyền lực cho cơ
quan đại diện nhưng không có nghĩa là làm tất cả các chức năng của nhà
nước, mà bên cạnh cơ quan quyền lực nhà nước còn có các cơ quan khác mỗi
cơ quan có thẩm quyền hoạt động trong một lĩnh vực nhất định.
Toàn bộ hoạt động của các cơ quan đó đều để thực hiện chu trình quản lý
nhà nước, trong đó cơ quan quyền lực (Quốc hội) có thẩm quyền thực hiện
chức năng lập pháp và giám sát tối cao, còn các cơ quan khác (Chính phủ, Toà
án, Viện kiểm sát) thực hiện chức năng hành pháp và tư pháp.
Chức năng tư pháp là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước được hiểu
là hoạt động xét xử của các Toà án và những hoạt động của cơ quan nhà nước
khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử như: điều tra, truy tố, thi
hành án và bổ trợ tư pháp.
Mỗi cơ quan nhà nước có những nhiệm vụ khác nhau, hoạt động trong
phạm vi quy định thể hiện sự phân công trong hoạt động quản lý để tạo điều
kiện cho các cơ quan kiểm tra, giám sát lẫn nhau bảo đảm sự hoạt động của
bộ máy nhà nước. Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan
nhà nước do pháp luật quy định được hiểu là thẩm quyền của các cơ quan nhà
nước đó.
Trong từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học
Việt Nam xuất bản năm 1992 thì “thẩm quyền” được hiểu là: quyền xem xét
để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật. Như vậy, ta có thể hiểu
thẩm quyền là quyền của một chủ thể nhất định, đó là khả năng mà pháp luật
cho phép được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất
định.
Mỗi cơ quan khi được thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình đều
hoạt động trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định với những quyền năng

13
mà pháp luật cho phép. Việc này được gọi là thẩm quyền của cơ quan, tổ chức
đó. Sự phân định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt

14
là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật”. Việc xử lý của các cơ quan hành chính Nhà nước được
tiến hành theo các thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ hơn trong khi đó việc
xét xử của Toà án được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ được quy định
trong pháp luật tố tụng như luật tố tụng hình sự. Vì vậy, hiệu lực các phán
quyết của Toà án cũng cao hơn các biện pháp xử lý hành chính.

(1)
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền xét xử của TAQS các cấp - Đề
tài cấp Bộ - TANDTC - 2002
Để bảo đảm cho Toà án thực hiện tốt việc xét xử, Nhà nước trao cho Toà
án nhiều quyền năng pháp lý. Đó là khả năng pháp luật cho phép Toà án được
thực hiện, theo đó giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động,
hành chính.
Trong lĩnh vực hình sự quy định về thẩm quyền xét xử của Toà án ở mỗi
quốc gia cũng khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố như hệ thống pháp luật nói
chung, luật hình sự nói riêng, bộ máy tổ chức các cơ quan tư pháp, đội ngũ
thẩm phán, các điều kiện kinh tế xã hội… Trong cuốn từ điển pháp luật của
Pháp thì Leneunier cho rằng thẩm quyền xét xử được hiểu là khả năng của
một Toà án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép.
Ở một số nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và hệ thống
luật án lệ thì Toà án được tổ chức theo cấp xét xử: Toà án sơ thẩm, Toà án
phúc thẩm và Toà án tối cao tương ứng với các cấp xét xử. Luật quy định
thẩm quyền xét xử: Toà án sơ thẩm xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án; Toà án
phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm khi vụ án bị kháng cáo hoặc bị
kháng nghị; Toà án tối cao xét xử giám đốc thẩm. Ở nước ta các Toà án được
tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ: Các TAND huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là TAND cấp huyện), TAQS cấp khu vực chỉ
có thẩm quyền xét xử sơ thẩm; còn các TAND cấp tỉnh, TAQS cấp Quân khu

thẩm quyền xét xử của một Toà án theo các cấp xét xử khác như xét xử phúc

16
thẩm, giám đốc thẩm… cần phải căn cứ vào tính chất pháp lý của thủ tục xét
xử đó.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về thẩm quyền xét xử
về hình sự của Toà án như sau: Thẩm quyền xét xử về hình sự là quyền của
Toà án được xét xử vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
dựa trên các dấu hiệu về tính nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, tính
phức tạp của vụ án, không gian liên quan đến việc thực hiện tội phạm, hành
vi tố tụng và đặc điểm nhân thân của người phạm tội.

1.1.2. Khái niệm thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện
Cải cách tư pháp hiện nay phải lấy Toà án làm trọng tâm và việc đổi mới
tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra và kiểm sát đều có những yêu cầu
riêng nhưng có một cái chung là phục vụ cho việc phán xét đúng pháp luật
của Toà án
(1)
.
Sự nghiệp cải cách tư pháp hiện nay bao gồm nhiều nội dung, nhiều vấn
đề thuộc lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành, song với ngành Toà án, nhiệm
vụ quan trọng nhất là đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống Toà án
nhằm nâng cao chất lượng xét xử, năng lực xét xử và tăng thẩm quyền xét xử
cho Toà án cấp huyện đã và đang được Đảng và Nhà nước tập trung chỉ đạo
và tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, phải dựa vào đâu để quy định thẩm quyền
xét xử của Toà án các cấp đối với các vụ án khác nhau cho hợp lý là vấn đề
cần được làm rõ trên cơ sở khoa học và thực tiễn Việt Nam.
Trước khi đi vào khái niệm thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện
chúng ta cần xem xét khái niệm về năng lực xét xử của TAND cấp huyện.
Năng lực là một thuật ngữ được dùng trong nhiều lĩnh vực hoạt động của

mạnh thực thi thẩm quyền xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng. Còn
năng lực xét xử của Toà án cấp huyện là khả năng của Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân và các điều kiện khách quan khác để hoàn thành chức năng xét xử
và bảo đảm chất lượng cao các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án. Năng lực

18
xét xử của TAND cấp huyện được cấu thành bởi các yếu tố và điều kiện khác
nhau, trong đó có các yếu tố và điều kiện cơ bản là:
- Cơ cấu tổ chức bộ máy xét xử của Toà án cấp huyện;
- Trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức Toà án
trong đó đóng vai trò nòng cốt là Thẩm phán Toà án cấp huyện;
- Kỹ năng, trình độ nghiệp vụ xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký
Toà án cấp huyện;
- Trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của cán bộ,
Thẩm phán Toà án cấp huyện;
- Sự phối hợp có hiệu quả giữa Toà án cấp huyện với cơ quan tiến hành
tố tụng và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác;
- Các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật cần và đủ để bảo đảm cho
hoạt động của Toà án cấp huyện có hiệu quả;
- Cơ chế pháp lý ảnh hưởng đến năng lực phát triển của Toà án cấp
huyện.
Từ việc phân tích khái niệm về năng lực xét xử của TAND cấp huyện
nêu trên chúng ta đi vào phân tích khái niệm thẩm quyền xét xử của TAND
cấp huyện.
Theo quy định tại Điều 32 khoản 2 Luật tổ chức TAND năm 2002 thì:
TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm
những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng.
Ở đây, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi chung là
Toà án nhân dân cấp huyện. Vì vậy, xác định thẩm quyền của TAND cấp
huyện không nằm ngoài các cơ sở xác định thẩm quyền xét xử về hình sự của

xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án hình sự có thể phạt từ 2 năm tù trở xuống.
Tại Luật TCTAND năm 1981 mở rộng thẩm quyền cho Toà án cấp huyện
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự được xử những tội có mức hình phạt từ 5
năm tù trở xuống.

20
Theo Luật TCTA năm 1992 thì TAND cấp huyện được xét xử sơ thẩm
các vụ án về hình sự với mức hình phạt được quy định từ 7 năm tù trở xuống,
trừ những tội xâm phạm an ninh quốc gia và một số tội liên quan đến chính
trị, uy tín… quốc gia do luật định. BLTTHS sửa đổi, bổ sung năm 2003 quy
định thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện được xét xử các vụ án hình sự
với mức hình phạt từ 15 năm tù trở xuống. Lộ trình thực hiện là 5 năm, từ
tháng 07/2004 đến tháng 07/2009 phải hoàn thành.
Như vậy, nghiên cứu khái quát quá trình phát triển của hệ thống Toà án
Việt Nam chúng ta thấy thẩm quyền cho Toà án cấp huyện ngày một được mở
rộng hơn, phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của xã hội.
Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên - đặc biệt quan trọng, vì theo Điều
72 Hiến pháp năm 1992 quy định: “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình
phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy,
để xác định một người có tội và chịu hình phạt đòi hỏi họ phải được đưa ra
xét xử trước phiên toà. Toà án là cơ quan duy nhất của Nhà nước CHXHCN
Việt Nam có quyền quyết định một người có tội hay không có tội. Chính vì
vậy, để hoạt động xét xử của Toà án luôn được thực hiện một cách tốt nhất, có
hiệu quả nhất, bảo đảm được việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội thì ngoài việc quy
định các quyền của Toà án, pháp luật cũng giới hạn phạm vi quyền đó, đó là
quy định thẩm quyền của Toà án, mà trong đó TAND cấp huyện là một bộ
phận cực kỳ quan trọng không thể tách rời.
Có thể nói: thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện chính là
khả năng mà pháp luật cho phép Toà án cấp huyện xem xét và giải quyết các

cấp huyện nói riêng có như vậy việc phân định thẩm quyền xét xử cho TAND
cấp huyện mới chính xác. Có thể dựa vào các căn cứ sau đây để phân định
thẩm quyền xét xử.
1.2.1. Căn cứ vào tính chất, mức độ và sự phức tạp của vụ án

22
Đây là một trong những căn cứ cơ bản và quan trọng để phân định thẩm
quyền xét xử của Toà án. Theo căn cứ này, việc phân định thẩm quyền xét xử
dựa vào hai tiêu chí: tiêu chí nghiêm trọng và tiêu chí phức tạp của vụ án.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội được xem xét ở hai mặt: mặt thực tế (đã gây thiệt hại
hoặc có nguy cơ gây thiệt hại) cho một hay nhiều khách thể nhất định và mặt
xã hội (xem xét tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phải được đặt trong
những điều kiện xã hội nhất định). Đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của
một loại tội phạm phải xem tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan
hệ xã hội do tội phạm xâm hại. Hành vi phạm tội càng xâm hại đến những
quan hệ xã hội khách thể quan trọng càng gây nguy hại lớn cho xã hội thì tội
phạm càng nghiêm trọng. Tính nghiêm trọng của tội phạm được nhà làm luật
thể hiện thông qua chế tài quy định với tội phạm đó. Tội phạm càng nghiêm
trọng thì hình phạt càng nghiêm khắc. Vì vậy, muốn giải quyết vụ án được
nhanh chóng, chính xác, tránh oan sai thì khi phân định thẩm quyền xét xử
cho Toà các cấp phải căn cứ vào tính nghiêm trọng của tội phạm. Theo đó tội
càng nghiêm trọng càng đòi hỏi cơ quan và người tiến hành tố tụng có năng
lực cao hơn. BLTTHS đã quy định thẩm quyền xét xử theo hướng này.
Bên cạnh việc căn cứ vào tính nghiêm trọng của tội phạm khi phân định
thẩm quyền xét xử còn phải căn cứ vào tính phức tạp của từng loại tội phạm.
Tính phức tạp của tội phạm được xem xét dưới hai góc độ: luật hình sự và
luật tố tụng hình sự.
Ở góc độ luật hình sự sự phức tạp của tội phạm được xem xét ở khách
thể tội phạm và đường lối xử lý tội phạm đó. Còn ở góc độ luật tố tụng hình

trong BLHS. Dựa vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm, nhà làm luật đã
chia tội phạm thành bốn loại: tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất
nghiêm trọng, và tội đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất
giữa luật nội dung và luật hình thức thì quy định thẩm quyền xét xử cũng cần
dựa vào sự phân loại tội phạm trong BLHS. Hiện nay theo BLTTHS sửa đổi,
bổ sung thì phân định cho một số TAND cấp huyện (có đủ các điều kiện về cơ

24
sở vật chất; số lượng, chất lượng thẩm phán … và các cơ quan hữu quan cùng
hội tụ đầy đủ các yêu cầu) xét xử sơ thẩm những tội phạm mà BLHS quy
định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống tức là được xét xử các tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Lộ trình
thực hiện thẩm quyền xét xử mới của Toà án cấp huyện là 5 năm, từ 2004 –
2009. Từ nay cho đến năm 2009, TAND cấp huyện nào có đủ các điều kiện sẽ
được xem xét giao thẩm quyền xét xử những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy
định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống. Còn hiện tại đang có sự đan xen thẩm
quyền xét xử của TAND cấp huyện vì phần lớn các TAND cấp huyện hiện
nay chưa hội tụ đủ những yêu cầu đã đặt ra nên chỉ xét xử sơ thẩm những tội
phạm mà BLHS quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống, tức là được xét xử
các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng.
1.2.2. Căn cứ vào các tổ chức hệ thống cơ quan Nhà nƣớc nói chung,
các cơ quan tƣ pháp nói riêng, vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của
cơ quan tiến hành tố tụng
Ở mỗi một quốc gia có một cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước khác
nhau. Có nước tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập, ở đó quyền lực
Nhà nước được phân thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong
khi đó một số nước khác, trong đó có Việt Nam lại tổ chức theo nguyên tắc
tập quyền không có sự phân chia quyền lực.
Ở nước ta quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân thực hiện
quyền lực của mình thông qua Quốc hội. Tuy nhiên, Quốc hội cũng không thể

Mọi công việc đều do con người thực hiện, nên cho dù việc phân định
thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng có đúng đắn đến đâu nhưng nếu
không tính đến yếu tố con người thì cũng không đạt hiệu quả cao được. Chỉ
khi có sự phù hợp giữa công việc và khả năng của con người thì mới phát huy
được hết khả năng của họ, đồng thời giải quyết được tốt các công việc. Việc
quy định thẩm quyền xét xử trước hết phải dựa vào năng lực của người trực
tiếp tiến hành việc xét xử, đó là thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Để hoàn

Trích đoạn Cơ cấu, tổ chức của Toà án cấp huyện Các yếu tố vật chất ảnh hƣởng đến năng lực xét xử của Toà án Sự phối hợp giữa Toà án nhân dân cấp huyện với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan bổ trợ tƣ pháp: Cơ chế về pháp lý ảnh hƣởng đến năng lực xét xử – hoạt động của Toà án cấp huyện. Phƣơng hƣớng và các giải pháp nhằm hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status