CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI - Pdf 70


13
chơng 1
cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện cơ chế,
chính sách thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài
Để phát triển và tăng trởng nền kinh tế, mỗi quốc gia đều đòi hỏi phải
có nguồn vốn đầu t, để khắc phục khó khăn về sự khan hiếm vốn, hầu hết các
nớc đ sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu t từ bên ngoài. Vào những năm
đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, thế giới bùng lên phong trào đầu t và thu hút
đầu t vào sản xuất hàng thay thế nhập khẩu nhằm hạn chế nhập siêu và chảy
máu ngoại tệ. Thế nhng, chính sách này hầu nh không đem lại kết quả khả
quan mà có xu hớng làm triệt tiêu các ngành hàng sản xuất truyền thống.
Trớc tình hình này, vào cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
hàng loạt nớc lại chuyển sang chính sách thu hút FDI vào các ngành hàng
thúc đẩy xuất khẩu, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc và các nớc ASEAN.
Nhờ theo hớng đi đúng này, nhiều nớc đang từ chậm phát triển, có nền kinh
tế nghèo nàn, lạc hậu sống phụ thuộc vào viện trợ đ trở thành các nớc công
nghiệp xuất khẩu, các trung tâm tài chính của khu vực. Điển hình là Nhật Bản,
Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore,..., đợc mệnh danh là những con Rồng
Châu á. Đạt đợc kết quả trên là nhờ chính phủ các nớc này đ có những
bớc hoạch định đờng lối, chiến lợc đúng đắn, ban hành hệ thống cơ chế,
chính sách thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI có hiệu quả. Điều này đợc thể
hiện rõ, ngay sau khi khủng hoảng tài chính khu vực Châu á năm 1997 xẩy ra,
để ổn định nền kinh tế và giảm thiểu thiệt hại, chính phủ các nớc trong khu
vực nhờ nhanh chóng ban hành ban hành hệ thống cơ chế, chính sách mới nên
đ tăng cờng thu hút đợc FDI vào quá trình thúc đẩy sản xuất kinh doanh
trong nớc, qua đó khắc phục đợc hậu quả do khủng hoảng gây ra, đa nền
kinh tế trở lại ổn định và tiếp tục phát triển. Chơng đầu tiên của luận án đợc
trình bày với mục đích giúp hiểu rõ hơn vai trò của vốn FDI và cơ sở lý luận về
hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI.


đầu t quốc tế dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu t (vốn,

15
lao động, thị trờng) giữa các nớc, trong đó đặc biệt là giữa các nớc phát
triển và đang phát triển.
Trên cơ sở mô hình lý thuyết thơng mại quốc tế của Heckcher & Ohlin
- HO (1933), Richard, S. Eckaus (1987) đ loại bỏ giả định không có sự di
chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, công nghệ) giữa các nớc để mở rộng phân
tích nguyên nhân hình thành đầu t quốc tế. Theo tác giả, từ mục tiêu tối đa
hoá lợi nhuận ở phạm vi toàn cầu nhờ vào chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn đ
hình thành nên dòng lu chuyển vốn đầu t giữa các nớc [39].
Dựa vào các quan điểm trên, ta có thể thấy rõ thực chất nguồn vốn FDI là
nguồn vốn của nớc này đầu t vào nớc khác để tận dụng các lợi thế của
nớc sở tại (tài nguyên, thị trờng tiêu thụ, lao động, hiệu quả sử dụng vốn,...),
nhằm mục đích đem lại lợi nhuận cho cả hai phía. Theo luật đầu t nớc ngoài
tại Việt Nam (1996) "đầu t trực tiếp nớc ngoài là việc nhà đầu t nớc
ngoài đa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành
hoạt động đầu t theo quy định của luật này"[36].
Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển cần phải tăng cờng đầu t cho sản
xuất, kinh doanh, nhng muốn tăng cờng đầu t cho sản xuất, kinh doanh lại
cần có vốn. Với những nớc đang hoặc chậm phát triển, tình trạng thiếu vốn
đầu t là một thực tế hiển nhiên. Bên cạnh việc huy động các nguồn vốn trong
nớc, thu hút đầu t từ bên ngoài là biện pháp quan trọng để khắc phục tình
trạng thiếu vốn nói trên.
Trong cuốn "Những vấn đề hình thành vốn ở các nớc chậm phát triển"
R. Nurkse đ trình bày một cách hệ thống về việc giải quyết vấn đề vốn cho
công nghiệp hoá ở các nớc lạc hậu. Ông đ phân tích vòng luẩn quẩn của sự
nghèo đói nh sau: "Xét về lợng cung, ngời ta thấy khả năng tiết kiệm ít ỏi,
tình hình đó là do mức độ thu nhập thực tế thấp. Mức thu nhập thực tế thấp
phản ánh năng suất lao động thấp, đến lợt mình năng suất lao động thấp phần

tế còn đem vào các nớc sở tại những kiến thức quản lý kinh tế - x hội cơ bản
và hiện đại. Thông qua hoạt động giao dịch hoặc đầu t hỗn hợp với các hng
nớc ngoài, một cộng đồng các nhà doanh nghiệp có đủ năng lực cần thiết để
điều hành mọi hoạt động kinh tế ở nớc sở tại đợc hình thành, đội ngũ này
đóng vai trò rất tích cực cho quá trình phát triển kinh tế đất nớc. Chính sách

17
phát triển kỹ thuật thông qua việc sử dụng là nhằm mục đích khai thác chất
xám của các nớc đi trớc, quyết tâm du nhập công nghệ tiên tiến để rút ngắn
khoảng cách chênh lệch về kinh tế với các nớc công nghiệp phát triển.
Singapore là một minh chứng điển hình cho thấy tác dụng của FDI đối
với việc giúp các nớc chậm phát triển rút ngắn khoảng cách với các nớc
công nghiệp phát triển. Là một quốc gia nhỏ, ít tài nguyên thiên nhiên (chỉ
đợc biết đến nh là kho chứa hàng tái xuất khẩu trong khu vực Đông - Nam
á), Singapore đ nhanh chóng phát triển thành một quốc gia có nền kinh tế
hàng đầu khu vực Đông -Nam á nhờ coi trọng thu hút đầu t trực tiếp nớc
ngoài. Ngay từ khi tuyên bố thành lập năm 1965, chính phủ Singapore đ có
chủ trơng thu hút đầu t nớc ngoài vào các cơ sở công nghiệp xuất khẩu.
Sau khi lên cầm quyền, ông Lý Quang Diệu đa ra quan điểm "hoan nghênh
đầu t hơn viện trợ". Nhờ vậy, tính đến năm 1980 đầu t trực tiếp nớc ngoài
đ chiếm 98% tổng số vốn đầu t của cả nớc (toàn bộ số vốn đầu t là 1,41 tỷ
USD, trong đó vốn đầu t nớc ngoài chiếm 1,189 tỷ USD). Đến năm 1989
con số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đ lên tới 1,198 tỷ USD. Chỉ sau hơn 20
năm thực hiện chính sách mở cửa thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hớng tới xuất khẩu, Singapore từ một quốc
gia nghèo nàn, lạc hậu, sống nhờ vào viện trợ nớc ngoài đ trở thành nớc
xuất khẩu t bản và là trung tâm tài chính của khu vực [40]. Không những đối
với Singapore, mà đối với tất cả các nớc đợc mệnh danh là con Rồng Châu
á, đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc coi là nguồn lực tài chính, kỹ thuật chủ
yếu giúp họ tạo nên sự thần kỳ về tốc độ tăng trởng kinh tế. Nh vậy rõ ràng

nghiệp tiên tiến (điển hình nh Trung Quốc, Hàn Quốc...). Qua đó ta có thể
khẳng định rằng: Ngày nay bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển ổn định
và nhanh chóng, hoặc biến đổi nền kinh tế theo hớng công nghiệp hoá (đặc
biệt là các nớc đang phát triển) đều phải vận dụng đồng thời hai quá trình:
Thứ nhất, đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả các phát minh, sáng chế và
những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào nền kinh tế, đồng thời đổi mới,
hiện đại hoá thờng xuyên công nghệ sản xuất.

19
Thứ hai, không ngừng tăng cờng mở rộng qui mô và tính hiệu quả các
nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn FDI
Dù phải chịu sự chi phối của chính phủ, nhng hoạt động đầu t trực tiếp
nớc ngoài ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa quốc gia của nhà đầu t
và quốc gia sở tại. Do bên nớc ngoài trực tiếp quản lý sản xuất, kinh doanh
trong các doanh nghiệp có vốn FDI, nên mức độ khả thi của dự án khá cao (vì
họ có phơng thức quản lý tiên tiến và đặc biệt là có nhiều kinh nghiệm trong
lĩnh vực tiếp cận thị trờng quốc tế để mở rộng xuất khẩu). Hiệu quả kinh
doanh là cái đích cuối cùng mà các nhà đầu t muốn vơn tới. Muốn đạt đợc
nó, họ phải tìm các biện pháp để nâng cao năng suất lao động và tiêu thụ sản
phẩm của mình trên thị trờng. Một trong những biện pháp đó là chú trọng lựa
chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý cho cán bộ và tay nghề
cho công nhân trong doanh nghiệp của mình. Nh vậy FDI không những có
vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nớc đầu
t mà còn cả ở nớc sở tại.
Một trong những tác động quan trọng nhất của FDI đối với nớc sở tại là
góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, phục vụ cho mục
tiêu công nghiệp hóa. Thông qua FDI, chính phủ các nớc này có thể chú
trọng u tiên phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành kinh tế phù
hợp đặc điểm của từng vùng lnh thổ, các ngành kinh tế phục vụ cho nhu cầu
thiết yếu của nhân dân. Vì phần lớn các dự án có vốn FDI đợc triển khai trên

nghệ mới, công nghệ thiết kế và xây dựng, công nghệ quản lý, marketing,...
Thứ ba, góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm. Phát triển
nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trởng
kinh tế, bởi vì nhân tố này có ảnh hởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất,
các vấn đề x hội và mức độ tiêu dùng của dân c. Phần lớn các doanh nghiệp
có vốn FDI đều tổ chức các khoá đào tạo nghề tại nớc sở tại, trờng hợp cần
thiết họ còn gửi lao động đi để đợc đào tạo ở nớc ngoài. Bên cạnh giúp nớc
sở tại có đợc đội ngũ lao động với trình độ chuyên môn cao, có tác phong
công nghiệp, tạo việc làm cho nhiều ngời thuộc lĩnh vực cung cấp dịch vụ.
Thứ t, thúc đẩy xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp có vốn FDI luôn phải
nhập nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của mình và

21
đa các sản phẩm đ qua gia công chế biến ra bán ở thị trờng trong và ngoài
nớc, qua đó đ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nớc sở tại. Đối với
các nhà ĐTNN, xuất khẩu là yếu tố quan trọng giúp họ thu đợc lợi nhuận
cao, thông qua xuất khẩu những lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuất đợc
khai thác có hiệu quả hơn. Bởi vậy, đẩy mạnh xuất khẩu luôn là u tiên đặc
biệt của các doanh nghiệp có vốn FDI. Đối với nớc sở tại, xuất khẩu là nhân
tố quyết định đến tốc độ tăng trởng của nền kinh tế. Nh vậy, tác dụng thúc
đẩy xuất khẩu của FDI đ mang lại lợi ích cho cả hai phía.
Thứ năm, hình thành liên kết các ngành công nghiệp. Trong thực tế, luôn
tồn tại hiện tợng đầu ra của doanh nghiệp này lại là đầu vào của doanh
nghiệp kia, do đó nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp trong nớc
và các doanh nghiệp có vốn FDI thờng xuyên xẩy ra. Xuất phát từ nhu cầu
này, mối liên kết giữa các ngành công nghiệp đợc hình thành và phát triển.
Việc hình thành mối liên kết này là cơ sở quan trọng để chuyển giao công
nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy xuất nhập khẩu của nớc sở tại.
Ngoài những tác động trên, FDI trong một chừng mực nào đó có thể góp
phần nâng cao chất lợng môi trờng, xoá bỏ độc quyền, tăng cờng an ninh

kinh tế thị trờng, cơ chế đợc hiểu là sự điều tiết, điều hoà và thích ứng lẫn
nhau của các yếu tố cung, cầu, giá cả dới tác động của các quy luật thị
trờng. Theo A.Smith thì đó là bàn tay vô hình chi phối hoạt động của các
chủ thể thị trờng. ở dạng khái quát nhất: Cơ chế của nền kinh tế, là tổng hoà
của các thể chế và thiết chế kinh tế mà nhờ đó con ngời có thể tác động vào
sự vận động của nền kinh tế một cách tích cực và có hiệu quả, nhằm định
hớng vào các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản. ở đây, cơ chế kinh tế còn biểu
thị quan hệ chế ớc và tác động lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành trong một
thể chế kinh tế xác định.
Trong đó: Thể chế kinh tế đợc hiểu là các khuôn khổ pháp lý đợc x
hội xác lập, dựa trên quyền tài sản để chuẩn mực hoá hành vi kinh tế của các
chủ thể và xác định phạm vi hoạt động, cũng nh thụ hởng các lợi ích nhờ
hoạt động kinh tế đó sinh ra, còn thiết chế kinh tế là bộ máy điều hành nền
kinh tế.

23
ở dạng cụ thể, thể chế kinh tế là một hệ thống các quy tắc pháp quy và
các phơng thức vận hành, đợc Nhà nớc xác lập để điều khiển sự vận động
của các lĩnh vực kinh tế và hành vi của các chủ thể trong sản xuất, lu thông
phân phối các sản phẩm sau hoạt động kinh tế [33].
Vì cơ chế kinh tế phát huy đợc tác dụng trong vận hành thể chế kinh tế
nên còn đợc gọi là cơ chế vận hành kinh tế. Vận hành nền kinh tế thị trờng
là cơ chế thị trờng. Nó là cơ chế tự điều tiết và chỉ chịu chi phối bởi các qui
luật khách quan. Chỉ khi nào có nhận thức đúng đắn về các qui luật khách
quan, con ngời mới đa ra đợc cơ chế vận hành nền kinh tế phù hợp.
Thể chế kinh tế và cơ chế vận hành nền kinh tế là hai mặt của một hệ
thống. Thể chế kinh tế xây dựng khuôn khổ, xác định phạm vi hoạt động cho
các chủ thể hành vi phải tuân theo trong hệ thống, còn cơ chế vận hành kinh tế
chỉ ra cho các chủ thể phơng thức hoạt động trong phạm vi đ đợc quy định
và mối quan hệ giữa các chủ thể đó. Thomas. L. Friedmxir coi hệ thống kinh

tế - x hội để cùng hớng tới những mục tiêu của nền kinh tế.
- Đợc Nhà nớc ban hành để giải quyết những vấn đề bức xúc phát
sinh trong đời sống kinh tế - x hội, điều tiết những mất cân đối, những hành
vi không phù hợp, nhằm tạo một hành lang pháp lý cho các hoạt động x hội theo
các mục tiêu đ đề ra.
- Khác với các công cụ quản lý khác, phần lớn chính sách của Nhà nớc
có vai trò kích thích, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - x hội.
Bản thân mỗi chính sách khi hớng vào việc giải quyết một vấn đề bức xúc đ
làm cho sự vật phát triển thêm một bớc, đồng thời lại tác động lên các vấn đề
khác, làm nảy sinh những nhu cầu phát triển mới.
Về bản chất, chính sách phản ánh đờng lối phát triển kinh tế - x hội của
đất nớc, các quan điểm, t tởng phát triển đất nớc. Đó là các nguyên tắc
thể hiện bản chất của chế độ x hội, đợc dùng làm cơ sở để điều hành trong
tiến trình xây dựng nền kinh tế đất nớc. Các quan điểm phản ánh trong chính
sách là kim chỉ nam cho hoạt động của tất cả các ngành, lĩnh vực và địa
phơng trên cả nớc.
Nếu tiếp cận theo hệ thống, thì chính sách là một hệ thống gồm hai nhóm
lớn: Nhóm thứ nhất là các chính sách kinh tế, chủ yếu gồm có chính sách cơ

25
cấu kinh tế, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách giá cả, chính
sách kinh tế đối ngoại. Nhóm thứ hai là các chính sách x hội, chủ yếu bao
gồm có chính sách dân số và lao động, chính sách giáo dục, chính sách y tế,
chính sách bảo đảm x hội, chính sách văn hoá, chính sách khoa học công
nghệ, chính sách bảo vệ môi trờng.
Có thể thấy rằng chính sách đầu t nớc ngoài là một bộ phận của chính
sách kinh tế đối ngoại (thuộc nhóm thứ nhất), có liên kết chặt chẽ với các
chính sách nêu trên thành một hệ thống, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục tiêu
chung của chính sách kinh tế - x hội
Theo dòng chảy của vốn đầu t, chính sách đầu t nớc ngoài đợc phân

đầu t nớc ngoài và đầu t ra nớc ngoài có một mối quan hệ mật thiết với
nhau. Đối với các nớc đang phát triển thời kỳ đầu do thiếu vốn nên họ phải
tăng cờng thu hút FDI, sau một thời gian, khi các doanh nghiệp trong nớc
đ tích luỹ đủ vốn họ sẽ có nhu cầu đầu t ra nớc ngoài.
Nếu xét trên phơng diện cụ thể, trong quản lý và điều hành nền kinh tế
của Nhà nớc đối với hoạt động đầu t nớc ngoài, có thể khái quát: Cơ chế,
chính sách đầu t nớc ngoài, là tổng thể các thể chế và thiết chế đợc cụ thể
hoá thành các quyết định của Nhà nớc, của các cấp, nhằm quản lý và sử
dụng có hiệu quả vốn đầu t nớc ngoài để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ
mô cơ bản. Cơ chế, chính sách đầu t nớc ngoài phản ảnh các quan điểm, t
tởng, các giải pháp, công cụ, các nguyên tắc và phơng thức hành động của
Nhà nớc trong hoạt động đầu t nớc ngoài nhằm thực hiện những mục tiêu
nhất định theo định hớng của đất nớc.
Để thực hiện mục tiêu thu hút FDI nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc, các nớc đang phát triển đ hoạch định những
chính sách riêng phù hợp với những đặc thù của mình. Tuy có nhiều nét riêng
biệt, song chính sách thu hút FDI của tất cả các nớc đều là một dạng chính
sách thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đợc ban hành nhằm tăng cờng thu hút
đầu t nớc ngoài để tận dụng hết các nguồn lực trong nớc nh tài nguyên,
đất đai, lao động, phục vụ cho việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô đ
định. Chính sách thu hút FDI của Nhà nớc là một dạng chính sách thuộc lĩnh

27
vực kinh tế đối ngoại, đợc hiểu là các quyết định thu hút đầu t nớc ngoài
theo quy hoạch tổng thể của nền kinh tế để phát triển kinh tế, đảm bảo sự phân
bổ hợp lý về lực lợng sản xuất, sử dụng có hiệu quả nguồn lực quốc gia nh
tài nguyên, đất đai, lao động nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ
bản. Chính sách thu hút FDI còn là cầu nối quan trọng nối liền nền kinh tế
quốc gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Nh vậy, chúng ta có thể
hiểu chính sách thu hút FDI dới dạng khái quát:

động trực tiếp vào nền kinh tế. Thực hiện cơ chế cỡng chế có nghĩa là nhà
nớc sử dụng quyền uy và lực lợng vật chất lớn mạnh của mình để can thiệp
trực tiếp vào các hoạt động kinh tế - x hội, buộc các hoạt động này phải tuân
theo những quyết định của mình. Khi áp dụng cơ chế này, điều đặc biệt cần
chú ý là phải tôn trọng tính khách quan của các quy luật kinh tế . Trong hoạt
động đầu t nớc ngoài, cần cân nhắc kỹ trớc khi sử dụng cơ chế này (chỉ sử
dụng khi lợi ích của quốc gia bị xâm phạm), vì nếu mắc sai lầm sẽ gây nên
những hậu quả nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn cho nền kinh tế.
Từ những cơ sở lý luận trên, có thể hiểu cơ chế thu hút FDI dới dạng
khái quát sau: Cơ chế thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài, là hệ thống các
phơng thức, cách thức, phơng pháp nhằm dẫn dắt, kích thích và cỡng chế
để tác động đến quá trình thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài theo đờng lối,
chủ trơng, kế hoạch của Nhà nớc trong từng giai đoạn phát triển khác nhau
của nền kinh tế.
1.1.2.2. Vai trò của cơ chế, chính sách đối với hoạt động thu hút FDI.
Mục đích tối thợng của các nhà đầu t là tìm kiếm lợi nhuận, bởi vậy
trớc khi quyết định đầu t vào nớc nào, lĩnh vực nào họ nghiên cứu rất kỹ
các yếu tố liên quan đến khả năng sinh lợi khi tổ chức sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh việc tìm hiểu các điều kiện cần thiết cho sản xuất nh cơ sở hạ tầng,
nguyên nhiên vật liệu, lao động, máy móc thiết bị ..., các nhà đầu t còn xem
xét khả năng tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là các cơ chế, chính sách về đầu t
nớc ngoài mà nớc sở tại ban hành. Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro, dẫn
đến đầu t bị thua lỗ, bên cạnh các nguyên nhân bất khả kháng nh: Thiên tai,
địch hoạ, sự bất ổn về mặt chính trị x hội, là các nguyên nhân có thể khắc

29
phục đợc thông qua việc ban hành các qui định, chính sách hợp lý. Ví dụ nh
chính sách đất đai, việc qui định giá thuê đất, thời gian cho thuê đất hợp lý, tạo
điều kiện cho các nhà đầu t không những thu hồi đợc vốn mà còn tạo ra lợi
nhuận. Các chính sách về thuế, về tuyển dụng lao động, về sử dụng tài nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status