Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin - Pdf 13


1
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
NĂM 2009 -2010
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN PHỤC VỤ
XÂY DỰNG LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN Chủ nhiệm đề tài : PGS-TS Thái Vĩnh Thắng
Chủ nhiệm khoa Hành chính- Nhà nước
Đại hoc luật Hà Nội
Thư ký đề tài: Th.s. Trần Ngọc Định
Giảng viên Khoa Hành chính- Nhà nước
Đại học luật Hà Nội
Cơ quan chủ trì: Viện khoa học pháp lý
Bộ tư pháp

Thành viên tham gia nghiên cứu:
1. PGS.TS Thái Vĩnh Thắng - Đại học luật Hà Nội.
2. PGS.TS Nguyễn Như Phát - Viện Nhà nước và Pháp luật.
3. TS Nguyễn Kim Thoa - Vụ Pháp luật hình sự- hành chính, Bộ tư
pháp.
4. PGS.TS Nguyễn Thị Hồi - Đại học luật Hà Nội.
5. TS Tô Văn Hoà - Đại học luật Hà Nội.
6. ThS Trần Ng
ọc Định - Đại học luật Hà Nội.
7. PGS.TS Tường Duy Kiên - Viện nghiên cứu quyền con người, Học
viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
8. TS Hoàng Thị Ngân - Văn phòng Chính phủ.
9. TS Bùi Thị Đào - Trường Đại học luật Hà Nội.
10. GS.TS Nguyễn Đăng Dung - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
11. ThS. Nguyễn Thị Hạnh - Vụ pháp luật hình sự- hành chính, Bộ tư
pháp.
12.
TS Nguyễn Thị Thu Vân -Vụ pháp luật kinh tế - dân sự, Bộ Tư pháp.
13. GS.TSKH Lê Văn Cảm – Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
14. ThS Nguyễn Đức Lam - Văn phòng Quốc hội
15. TS Nguyễn Quốc Hoàn - Đại học luật Hà Nội
16. LG Nguyễn Chu Dương - Nhà nghiên cứu luật học
3


trong pháp luật quốc tế và pháp luật của m
ột số
nước trên thế giới 57
2.1 Luật tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế 57
2.2 Luật tiếp cận thông tin của một số nước trên thế giới 58
2.2.1 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Âu 58
2.2.2 Luật tiếp cận thông tin của một số nước Châu Mỹ- La Tin 70
2.2.3 Luật tiếp cận thông tin của một số nước châu Phi 79
2.2.4 Luật tiếp c
ận thông tin của một số nước Châu Á và
châuÚc 82

2.3 Những đặc điểm chung và đặc thù trong pháp luật tiếp cận 94
thông tin và thực hiện pháp luật tiếp cận thông tin của một

4
số nước trên thế giới
2.4 Những kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam 97
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện
pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam hiện nay 100
3.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về tiếp cận
thông tin ở Việt Nam 100
3.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về tiế
p cận
thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay 102
3.3 Thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam
hiện nay 107
Chương 4. Xây dựng Luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam
hiện nay 121

Đại học luật Hà Nội
Chuyên đề 6. Những điều kiện đảm bảo quyền tiếp cận thông tin 201

5
TS Bùi Thị Đào
Đại học luật Hà Nội

Chuyên đề 7. Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, thủ tục
khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến quyền tiếp cận thông tin 218
TS Nguy ễn Kim Thoa
Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp

Phần 2. Pháp luật về tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và
pháp luật n
ước ngoài 263
Chuyên đề 8. Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế 263
PGS-TS Tường Duy Kiên & LG Phạm Hồng Sơn
Chuyênđề 9. Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Âu 271
PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương
Chuyên đề 10. Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Mỹ - Latin
và châu Phi 283
PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương

Chuyên đề 11
. Luật tiếp cận thông tin một số nước châu Á và châu Úc 295
PGS-TS Thái Vĩnh Thắng & LG Nguyễn Chu Dương
Chuyên đề 12. Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện luật về tiếp
cận thông tin của một số quốc gia trên thế giới 307
Th.S Nguyễn Thị Hạnh,
Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp

Việt Nam hiện nay 415
PGS-TS Thái Vĩnh Thắng
Đại học luật Hà Nội
Chuyên đề 20. Những nguyên tắc cơ bản của dự luật tiếp cận
thông tin 425
TS Tô Văn Hoà
Đại học luật Hà Nội
Chuyên đề 21. Quyền tiếp cậ
n thông tin và xây dựng Chính phủ
mở trong điều kiện hội nhập quốc tế 441
TS Hoàng Thị Ngân
Văn phòng Chính phủ
Chuyên đề 22. Cấu trúc và những chế định cơ bản của dự thảo
Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam 471
Th.S Nguyễn Thị Hạnh
Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp Tài liệu tham khảo 499
được can thiệp vào. Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền này bao
gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến,
không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bản viết, in,
hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng
khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ”.
Trong khoả
ng 20 năm gần đây đã diễn ra một cuộc cách mạng toàn cầu về
quyền tiếp cận thông tin. Bản chất của cuộc cách mạng này là công nhận
quyền của cá nhân được tiếp cận thông tin của cơ quan công quyền. Quyền
này ngày nay đã được nhìn nhận rộng rãi là một quyền con người cơ bản,
như hòn đá tảng của nền dân chủ và của nền quản trị tốt và là công c
ụ hữu
hiệu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Quyền được thông tin/ tiếp cận thông tin không những được quy định trong
nhiều văn kiện của Liên Hợp Quốc, trong Hiến pháp của hầu hết các nước
trên thế giới mà còn được thể hiện bằng Luật về tiếp cận thông tin.
Nếu năm 1990 trên thế giới chỉ có 13 nước đã ban hành Luật tiếp cận thông
tin thì đến năm 2009, đ
ã có 86 nước ban hành luật về tiếp cận thông tin:
Thụy Điển (1766), Colombia (1885), Phần Lan (1919), Mỹ (1966), Na Uy
(1970), Pháp (1978), Úc (1982), Canada (1983), Đan Mạch (1985), Hà Lan
(1991); Hungary (1992), Hàn Quốc (1996), Kirgizstan (1997), Thái Lan

8
(1997), Anbani (1999), Bungary (2000, Nam Phi (2000), Anh (2000),
Jamaica (2002), Mexico (2002), Thổ Nhĩ Kỳ (2003), Pêru (2003), Nhật Bản
(2004), Ấn Độ (2005), Azerbaijan (2005), Uganda (2005), LB Nga (2006),
Indonesia (2007)… Trung Quốc cũng đã ban hành Pháp lệnh về quyền tiếp
cận thông tin năm 2007; 30 quốc gia khác đang nỗ lực xem xét ban hành luật
này.

ủa Liên hợp quốc về quyền tiếp
cận thông tin, trong công trình nghiên cứu “Tầm quan trọng của Quyền tiếp
cận thông tin: Xu hướng, Địa vị và Đặc điểm”
1
, tổ chức phi Chính phủ
Quốc tế về nhân quyền có tên là ARTICLE 19 đã coi thông tin là “khí oxy
của nền dân chủ”. Thông tin là nguồn sống cơ bản của nền dân chủ vì về bản
chất dân chủ là khả năng của cá nhân tham gia một cách hiệu quả vào quá
trình ra quyết định có ảnh hưởng đến cá nhân đó
2
.Quyền tiếp cận thông tin

1
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam” ngày 06-07/05/2009 tại Hà
Nội (Trang 30)
2
Tài liệu đã dẫn trang 32

9
xứng đáng được coi là “oxy của nền dân chủ” bởi suy cho cùng nó là quyền
để thực hiện mọi quyền. Vì không có thông tin thì người dân không thể biết,
không thể bàn, không thể làm, không thể kiểm tra về bất cứ vấn đề gì. Nói
một cách khác tất cả các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội của
công dân đều chỉ có thể đảm bảo thực hiện trên cơ sở đảm bảo quyền tiếp
c
ận thông tin.
Quyền tiếp cận thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo
thực hiện các quyền chính trị, dân sự và các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội
của công dân.
Quyền chính trị của công dân bao gồm các quyền: tham gia quản lý công

số ngày càng tăng theo mức độ phát triển của các khu đô thị, tuy nhiên các
trường học từ mẫu giáo đến tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
ở các khu vực đó lại không được xây dựng dẫn đến tình trạng các trường học
ở Hà Nội bị quá tải, tr
ẻ em các khu vực đô thị mới phải đi học xa hoặc phải
chịu mọi sự bất tiện do thiếu trường học trên địa bàn của mình cũng là hệ
quả của việc thiếu các thông tin toàn diện và việc thiếu vai trò điều hoà, phối

10
hợp giữa các bộ, ngành do các bộ ngành này không nắm được thông tin của
các bộ ngành khác.
Do không có các thông tin đầy đủ, việc thực hiện quyền khiếu nại tố cáo
của công dân sẽ rất khó khăn. Chẳng hạn họ không biết gửi đơn khiếu kiện
đến cơ quan nào, thủ tục giải quyết khiếu kiện sẽ ra sao, ai là người chịu
trách nhiệm chính về loại vụ việc này. Do không có thông tin đầy đủ người
dân có thể buộc phải chịu đựng tình trạng vi phạm pháp luật của các cơ quan
công quyền, vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà không dám
đấu tranh vì các cơ quan công quyền đặc biệt là các cơ quan hành chính Nhà
nước đã bưng bít các thông tin.
Mọi công dân đều có đầy đủ các quyền dân sự của mình. Một trong các
quyền dân sự của công dân là quyền được yêu cầu bồi thường khi họ là nạn
nhân của việc bị bắ
t hoặc bị giam giữ bất hợp pháp. Công dân chỉ có thể đấu
tranh để thực hiện quyền này khi họ được cung cấp thông tin về điều kiện và
mức độ bồi thường, cơ quan bồi thường. Nếu không có các thông tin đó
người dân sẽ rất khó khăn khi bảo vệ các quyền của mình. Quyền tài sản là
quyền dân sự đặc biệt quan trọng của công dân. Khi vì lợi ích công các bất
động sản c
ủa công dân có thể bị nhà nước trưng dụng với sự đền bồi thoả
đáng. Tuy nhiên, công dân chỉ có thể bảo vệ được quyền đền bù thoả đáng

tin cần thiết về các nghề nghiệp mà xã hội đang cần, mặt khác cũng cần cung
cấp các thông tin về những ngành nghề mà nhiều người đã tốt nghiệp được
cấp các bằng đại học, cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp nhưng không
có việc làm . Nếu không có thông tin đầy đủ về các chỉ số trên đây thì sẽ dẫn
đến tình trạng đào tạo tràn lan, đào tạo theo nhu cầu cảm tính, cán bộ vừa
thừa vừa thiếu. Con số ước tính chỉ có khoảng 40% sinh viên các trường đại
học sau khi tốt nghiệp có việc làm theo đúng chuyên ngành đào tạo hiện nay
ở Việt Nam đã nói lên tình trạng này, chưa nói đến những sai lầm về đào tạo
cán bộ
trong thời kỳ theo cơ chế hành chính quan liêu bao cấp. Trong thời
kỳ đó do thiếu thông tin cần thiết nên chúng ta đã gửi các con em đi đào tạo
ở nước ngoài không đúng trọng tâm, trọng điểm. Do không biết ngành gì
đào tạo ở trường nào, ở nước nào thì có chất lượng cao nhất nên hầu như
trong thời kỳ này, các sinh viên đi học nước ngoài bất cứ ngành gì cũng gửi
đi đào tạo ở Liên Xô và các nước XHCN
Đông Âu trong khi đó các trường
có chất lượng cao nhất trong lĩnh vực đó như ở Anh, Nhật Bản, Hà Lan,
Pháp, Đức , Canađa và các nước tư bản phát triển thì Nhà nước không gửi
người đi đào tạo. Do thiếu thông tin khoa học đặc biệt là những thông tin
khoa học cập nhật, các lĩnh vực khoa học đặc biệt là khoa học xã hội của
Việt Nam đã lạc hậu so với nhiều nước tiên ti
ến trên thế giới. Cũng do thiếu
thông tin về hình thức và phương pháp đào tạo ở nước ngoài nên trong một
thời gian dài chỉ có hình thức đào tạo công lập đồng thời phương pháp đào
tạo mang tính chất cổ truyền, đào tạo theo chương trình tín chỉ chỉ được đào
tạo trong thời gian gần đây.
Quyền tiếp cận thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực
hiện các chính sách tạ
o công ăn việc làm cho công dân đặc biệt là các chính
sách xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Do không có thông tin đầy đủ và

các chất độc hại, các thực phẩm mà người dân sử dụng hàng ngày nếu không
có thông tin đầy đủ người dân cũng có thể sử dụng các thực phẩm độc hại
như hoa quả được tẩm hoá chất để bảo quản lâu ngày, các loại rau quả bị
nhiễm thuốc tr
ừ sâu, các loại thịt có nguy cơ được đưa đến từ một vùng mà
súc vật đang bị các bệnh dịch.
Từ những phân tích trên đây có thể đi đến kết luận quyền tiếp cận thông
tin chính là điều kiên tiên quyết để đảm bảo thực hiện các quyền con người
và quyền công dân. Việc ban hành Luật tiếp cận thông tin đối với Việt nam
hiện nay là cần thiết và cấp bách. Trong thời
đại hội nhập quốc tế và toàn
cầu hoá quyền tiếp cận thông tin đã và đang trở nên một quyền cơ bản và là
một trong những quyền quan trọng nhất của con người và công dân.
Quyền tiếp cận thông tin ( Right to acces to information) là một trong
những quyền cơ bản của công dân, của con người, bảo đảm quyền được
thông tin là một trong những điều kiện cần thiết để xây dựng một th
ể chế
dân chủ và nhà nước pháp quyền. Trong bối cảnh đất nước ta xây dựng nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế,
thông tin trở thành một yêu cầu vô cùng cần thiết trong phát triển kinh tế,
văn hoá, xã hội, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội và an sinh xã hội, nâng
cao dân trí, xây dựng nhà nước và hoàn thiện pháp luật để phát huy rộng rãi
sự tham gia của ngườ
i dân vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giám sát
công quyền, tăng cường tính công khai minh bạch và nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước, phòng và chống tham nhũng, lãng phí, sử dụng có
hiệu quả ngân sách nhà nước. Quyền tiếp cận thông tin cũng bảo đảm mỗi cá
nhân thực hiện các quyền khác tốt hơn và bảo vệ các lợi ích hợp pháp của
họ. Phương châm các công việc quan trọng của nhà nước “dân biế
t, dân bàn,

Quyền được thông tin hay quyền tiếp cận thông tin (Right to access to
information) được coi là một trong các quyền cơ bản của con người đã
được Liên Hợp Quốc cũng như nhiều tổ
chức quốc tế và khu vực công nhận.
Phần lớn các quốc gia trên thế giới, khi tham gia vào các điều ước quốc tế về
quyền con người ở cấp quốc gia và khu vực đều trực tiếp hay gián tiếp công
nhận, tôn trọng quyền được thông tin của cá nhân. Sự bùng nổ của internet
và tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thông tin, nhận thức về dân chủ, tự do cá
nhân và yêu cầu phát triển kinh tế tạ
i các quốc gia đã đưa đến sự bùng phát
làn sóng ban hành Luật tự do thông tin/ Luật tiếp cận thông tin lan rộng
trên toàn cầu và tại khắp các lục địa. Cho đến nay đã có gần 90 quốc gia trên
thế giới ban hành một đạo luật riêng để cụ thể hoá và bảo đảm thực thi
quyền được thông tin ở quốc gia mình, từ những nước phát triển như Thụy
Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nh
ật Bản, Canada
cho đến những nước đang phát triển như Thái Lan, Ấn Độ, Hy Lạp, Mexico,
Georgia, Ba Lan, Romania, Bulgary, Peru, Azerbaijan , Jordani, hay thậm
chí cả những nước còn đang phát triển ở trình độ tương đối thấp như
Pakistan, Kyrgyzstan, Albania, Nepal hay Uganda. Sự bùng nổ pháp luật
thực định về quyền được thông tin ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế là một
dấu hiệu cho thấy sự dồi dào các tài liệu nghiên cứu dưới các hình th
ức khác
nhau cung cấp cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho việc nghiên cứu xây

14
dựng một cách toàn diện pháp luật về quyền được thông tin. Các nghiên cứu
quốc tế trong lĩnh vực này đã có sự phát triển từ rất lâu đời và cho đến nay
đã ở trình độ cao ở cả khía cạnh chiều rộng và chiều sâu.
Ở mức độ nghiên cứu khái quát, những công trình nghiên cứu có uy tín

cả giới nghiên cứu và những người xây dựng chính sách. Các công trình này
cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình quy định và thực thi quyền được thông
tin ở một số quốc gia điển hình như Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Đức,…
có thể làm cơ sở tham kh
ảo quý về kinh nghiệm đối với vấn đề này từ góc
độ so sánh.
Ở mức độ chuyên sâu hơn nữa trong lĩnh vực này có rất nhiều bài nghiên
cứu đăng trên các tạp chí luật học nước ngoài hoặc sách chuyên khảo. Nội
dung và các khía cạnh khác nhau của quyền tiếp cận thông tin được đề cập ở
các hình thức nghiên cứu rất đa dạng và phong phú. Ví dụ như bài Freedom
of Information and Openness: Fundamental Human Right? (Tự do thông tin
và công khai - Quyền cơ bản c
ủa con người?) của Patrick Birkinshaw (tạp

15
chí Administrative Law Review, 2006) trình bày và phân tích sâu các quan
điểm đa chiều của giới luật học về ưu điểm cũng như hạn chế của pháp luật
về quyền được thông tin của một số quốc gia trên thế giới. Trong đó có
những lập luận có giá trị tham khảo về ưu điểm của pháp luật về quyền tiếp
cận thông tin như giúp tăng thêm tính dân chủ của chính quyền, tính trách
nhiệm của cơ quan hành pháp, tăng cường vai trò giám sát tối cao của Nghị
viện,… hay về nhược điểm của pháp luật về quyền này như trong quá trình
thực hiện dễ vi phạm đến quyền tự do cá nhân hay quyền lợi của bên thứ ba,
hay mối quan hệ với an ninh quốc gia…Các khía cạnh chuyên sâu khác của
pháp luật về quyền được thông tin cũng được quan tâm như mối quan hệ
giữa quyền được thông tin vớ
i bảo đảm bí mật quốc gia trong bài Freedom
of Information and State Secrets (Tự do thông tin và bí mật quốc gia) (tạp
chí 9 E. Eur.Const.Rev.102 (2000)), với quyền tự do cá nhân trong bài
Freedom of Information: Is Privacy Winning (Tự do thông tin là chiến

16
Có thể nói, pháp luật về tiếp cận thông tin chỉ được các học giả Việt Nam
nghiên cứu trong những năm gần đây. Các công trình nghiên cứu này chủ
yếu chỉ dừng lại ở những cách tiếp cận khác nhau về quyền tiếp cận thông
tin, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ
thống, toàn diện và đầy đủ về pháp luật về tiếp cận thông tin. Về hình thức,
các công trình này cũ
ng mới chỉ được thực hiện như các bài tham luận, báo
cáo khoa học viết cho các hội thảo hoặc đăng trên các tạp chí chuyên ngành
như Hội thảo Tiếp cận thông tin – quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt
Nam, Đan Mạch, Hà Nội ngày 5-6/10/2006 và Hội thảo khoa học: Tiếp cận
thông tin – thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm của Vương quốc Anh
tháng 10/2007 với các bài tham luận của các tác giả:
- Nguyễn Chí Dũng –
Quyền tiếp cận thông tin: Yêu cầu của quản lý nhà
nước hiệu quả, vì phát triển;
- Tường Duy Kiên – Hoàng Mai Hương – Chu Thuý Hằng – Tìm hiểu pháp
luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được đảm bảo thông tin của
Việt Nam;
- TS.Dương Thanh Mai – Quyền được thông tin và sự tham gia của nhân
dân vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam;
- TS. Đinh Văn Minh – Chuẩn mực tiếp cận thông tin và cuộc đấu tranh
chống tham nhũ
ng;
- TS. Hoàng Minh Thái – Tiếp cận thông tin – Những vẫn đề đang đặt ra;
- TS. Nguyễn Đức Thuỳ - Quyền tiếp cận thông tin- Kinh nghiệm Việt Nam
và Vương quốc anh;
- Phạm Quốc Anh – Sự cần thiết và đề xuất khuôn khổ của luật tiếp cận
thông tin của Việt Nam;
- TS. Cao Đức Thái – Quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

c ban hành
Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay.
Đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu và nâng cao
nhận thức về quyền tiếp cận thông tin là việc xuất bản cuốn sách: “ Các văn
kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin” do Viện
nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh tổ chức dịch và biên so
ạn, Nhà xuất bản Công an nhân dân
phát hành năm 2007. Cuốn sách này đã dịch toàn văn và trích dịch các
Văn kiện Quốc tế liên quan đến quyền tiếp cận thông tin như Tuyên ngôn
thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền chính trị và
dân sự năm 1966, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước
quốc tế về chống tham nhũng năm 2003, Chương trình hành động chống
tham nhũ
ng dành cho châu Á và khu vực châu Á, Thái Bình Dương năm
2001. Cuốn sách này cũng đã dịch nguyên văn và trích dịch các Luật về tiếp
cận thông tin/ tự do thông tin của nhiều nước trên thế giới như Luật về tiếp
cận thông tin trong các tài liệu chính thức của Anbani năm 1999, Luật về
quyền được thông tin của Ấn Độ năm 2005, Luật về tiếp cận thông tin công
của Ba Lan năm 2001, Luật tiếp cận thông tin của Bulgary năm 2000, Luậ
t
tiếp cận thông tin của Canada năm 1985, Luật quy định về quản lý tiếp cận
chung đối với các thông tin của Chính phủ của Hà lan năm 1991, Luật về
công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của Hàn Quốc 1996, Luật
về quyền tiếp cận của công chúng đối với các tài liệu hành chính công của
Na Uy năm 1970 ( sửa đổi bổ sung năm 2003), Luật thúc đẩy tiếp cận thông
tin của Nam Phi năm 2000, Luật về tiếp c
ận thông tin của các cơ quan hành
chính của Nhật Bản năm 1999 , Luật về thông tin, công nghệ thông tin và
bảo vệ thông tin của Liên Bang Nga năm 2006, Luật về minh bạch và tiếp

Nam - Kết quả nghiên cứ
u kinh nghiệm quốc tế về Luật tiếp cận thông
tin của một số quốc gia trên thế giới;
– GS-TS Nguyễn Đăng Dung, Đại học quốc gia Hà Nội - Kết quả khảo sát
thực tiễn tại địa phương về thực thi quyền được thông tin;
– TS Tường Duy Kiên, Trung tâm nghiên cứu về quyền con người, Học
viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh – Chính sách và hệ
thống các văn b
ản quy phạm pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận
thông tin;
– Th.S Ngô Trung Thành, Phó vụ trưởng Vụ pháp luật, Văn phòng Quốc
hội - Mối quan hệ giữa Luật tiếp cận thông tin và các văn bản có liên
quan khác của Việt Nam;
Cuộc Hội thảo ngày 6 -7 tháng 5 năm 2009 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc nâng cao nhận thức về quyền tiếp cận thông tin và pháp luật về
tiếp cận thông tin tại Việ
t Nam. Với các báo báo của các chuyên gia cao cấp
về quản trị quốc gia, về cải cách hành chính, chuyên gia pháp luật có uy tín
của nước ngoài và Việt Nam như James Anderson, Jairo Acuna Alfaro,
Matt Ottoson, Toby Melden, Hoàng Thị Ngân, Nguyễn Đăng Dung, Tường
Duy Kiên, Ngô Trung Thành, Hội thảo đã phân tích những kinh nghiệm
thực thi pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở các nước Đông Âu là những
nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, các nước Đông Nam Á là
những nước láng giềng hoặc c
ận kề với Việt Nam, kinh nghiệm thực thi

19
pháp luật của Thụy Điển, nước đi đầu trong lĩnh vực pháp luật về tiếp cận
thông tin. Các báo cáo mang tính chất so sánh trên đây cho chúng ta thấy rõ
bên cạnh những điểm khác nhau, nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông

tạo ra do các công việc được nhân dân giao phó. Hiện tượng đóng dấu mật
lên các công văn giấy tờ không thuộc phạm trù mật còn tràn lan. Việc khai
thác và sử dụng các trang Web chưa được rộng rãi. Quyền được thông tin
mặc dù được quy định nhưng không có điều kiện thực thi sở dĩ như vậy là
do chưa có một đạo luật riêng quy định đầy đủ về v
ấn đề này. Tất cả các
phiếu điều tra đều nhất trí về việc cần thiết ban hành Luật tiếp cận thông
tin
3
.
Với sự phối hợp tổ chức và tài trợ của Trung tâm nhân quyền Na Uy, Hội
luật gia Việt Nam đã tiến hành Hội thảo quốc tế : “ Luật tiếp cận thông tin
– kinh nghiệm một số nước trên thế giới” vào các ngày 19- 20/8/2009 tại

3
Xem GS-TS Nguyễn Đăng Dung – Báo cáo tóm tắt kết quả khảo sát thực tiễn tại địa phương về thực thi
quyền được thông tin, Tài liệu Hội thảo quốc tế Xây dưng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội
ngày 06-07/5/2009, tr.45

20
thành phố Nha Trang. Tại cuộc Hội thảo này nhiều công trình nghiên cứu
của các tác giả trong và ngoài nước đã được trình bày:
- GS-TSKH Đào Trí Úc, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội luật gia Việt
Nam - Tổng quan về Luật tiếp cận thông tin và vai trò của các tổ chức
xã hội dân sự trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở các nước
trên thế giới;
- TS Hoàng Thị Ngân, Phó vụ trưởng Vụ tổ
chức hành chính và công vụ,
Văn phòng Chính phủ - Tiến trình xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở
Việt nam;

nhiều quốc gia trên thế giới như các nước Đông Âu, Thụy Điển, Na Uy,
Đan Mạch, Hàn Quốc , Bungary, Mexico, Thái Lan. Hội thảo đã đề cập đến
tính cấp thiết và những nội dung cơ bản của dự thảo Luật tiếp cận thông tin
ở Việt Nam. Hai cu
ộc Hội thảo này đã góp những ý kiến quan trọng cho
việc xây dựng bản dự thảo Luật tiếp cận thông tin phù hợp với Việt Nam.

21
Gần đây, phục vụ cho soạn thảo và ban hành Luật tiếp cận thông tin, có
nhiều công trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao đã được xuất
bản. Đặc biệt phải kể đến là công trình nghiên cứu: “Luật Tiếp cận thông tin
– Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam” do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên với
sự tham gia của các tác giả: GS-TSKH Đào Trí Úc, Th.S Lê Thị Kim Thanh,
TS. Hoàng Thị Ngân, TS. Tường Duy Kiên, TS. Nguyễn Thị Kim Thoa.
Công trình nghiên cứu này đ
ã nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về
quyền tiếp cận thông tin bao gồm các vấn đề như: quan niệm về quyền tiếp
cận thông tin ở nước ngoài và Việt Nam, ý nghĩa của quyền tiếp cận thông
tin trong các văn kiện pháp lý quốc tế, phạm vi của quyền tiếp cận thông tin,
các nguyên tắc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin, chủ thể của quyền tiếp cận
thông tin, nộ
i dung của quyền tiếp cận thông tin, thủ tục thực hiện quyền tiếp
cận thông tin, thủ tục khiếu nại khiếu kiện về quyền tiếp cân thông tin, vai
trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc thúc đẩy sự phát triển của pháp
luật về quyền tiếp cận thông tin, các kiến nghị cho quá trình soạn thảo Luật
tiếp cận thông tin ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu trên đây đã cung cấp
cho chúng ta những kiến thức khái quát về pháp luật tiếp cận thông tin ở
nước ngoài và Việt Nam, làm cơ sở lý luận để các nhà luật học có thể nghiên
cứu sâu hơn về những khía cạnh khác nhau của Luật tiếp cận thông tin trên
cơ sở đó có thể xây dựng và ban hành Luật tiếp cận thông tin phù hợp nhất

công khai, minh bạch có thể giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài
nước xây dựng cho mình một kế hoạch đầu tư dài hạn, xây dựng được
kế hoạch kinh doanh đả
m bảo phát triển bền vững. Các doanh nghiệp
được bình đẳng trong việc khai thác và sử dụng các thông tin vào quy
hoạch, chính sách thuế để lập kế hoạch đầu tư dài hạn. Đảm bảo quyền
tiếp cận thông tin sẽ giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí kinh
doanh và các rủi ro khi đầu tư nhờ đó mà đảm bảo được hiệu quả kinh
doanh bền vững. Việc ban hành Luật tiếp cận thông tin là tiền đề thực
hiệ
n một nền hành chính công khai, minh bạch tạo điều kiện thuận lợi
thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
4
.
- Về mặt quản lý nhà nước, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của cá nhân
làm tăng khả năng giám sát các cơ quan công quyền từ phía công chúng.
Nghĩa vụ cung cấp thông tin đảm bảo công khai, minh bạch sẽ làm cho
hoạt động của các cơ quan công quyền có hiệu lực, hiệu quả cao hơn vì
vậy hoạt động quản lý nhà nước sẽ tốt hơn và có thể hạn chế được nạn
tham nh
ũng trong bộ máy nhà nước.
- Về đảm bảo thực hiện các quyền con người và quyền công dân, quyền
tiếp cận thông tin là điều kiện tiên quyết để mọi cá nhân có thể thực
hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình do vậy việc ban hành Luật
tiếp cận thông tin sẽ là một bước đột phá, mở rộng khả năng thực hiện
các quyền con người và quyền công dân được ghi nhận trong Hi
ến pháp
và pháp luật…
Một số công trình nghiên cứu gần đây của một số tác giả đã được tạp chí
Nghiên cứu lập pháp đăng tải trong số đặc biệt giành cho quyền tiếp cận

chính quyền Hàn quốc ( Nghiên cứu lập pháp số 9 (170) tháng 5 năm 2010.
Tạp chí: “Dân chủ và pháp luật”năm 2010 cũng đã dành riêng một số
chuyên đề: “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin” với các bài viết của các tác
giả:
- Th.s. Nguyễn Công Hồng và TS. Hoàng Thị Ngân – Nhà nước pháp quyề
n
và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân;
- Th.s. Nguyễn Công Hồng – Lợi ích của việc ban hành Luật tiếp cận thông
tin;
- TS. Tường Duy Kiên – Chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật Việt Nam đảm bảo quyền tiếp cận thông tin;
- TS Nguyễn Thị Kim Thoa - Những vấn đề cơ bản được giải quyết trong
Luật tiếp cận thông tin của một số nước trên th
ế giới;
- GS-TS Nguyễn Đăng Dung - Một số vấn đề về đảm bảo quyền được thông
tin của công dân;
- Lê Huy – Khái niệm và cơ sở chính trị, pháp lý của quyền tiếp cận thông
tin;
- Hạnh Bình - Thực tiễn về tiếp cận thông tin của các bộ, ngành, địa
phương;
- TS Hoàng Thị Ngân - Quyền tiếp cận thông tin và việc xây dựng chính
phủ mở;
- Th.s Dương Thị Bình - Thực trạ
ng và kiến nghị về thực hiện quyền tiếp
cận thông tin ở Việt Nam;
- Thoa Huế - Cơ quan cung cấp thông tin – Kinh nghiệm quốc tế và hướng
quy định trong dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam;
- Mai Nguyễn – Cung cấp thông tin theo yêu cầu – Cơ chế hữu hiệu bảo
đảm quyền tiếp cận thông tin;
- Nguyễn Quỳnh Liên– Kinh nghiệm xây dựng Luật tiếp cận thông tin của

của mình trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền này với đầy đủ
các nội dung. Các công trình nghiên cứu này cũng đề cập đến các khía cạnh
khác nhau của nội hàm khái niệm quyền tiếp cận thông tin như: tự do thông
tin hay tiếp nh
ận thông tin được thừa nhận không chỉ là quyền cơ bản của
con người được quy định và bảo vệ bởi pháp luật quốc tế và quốc gia mà còn
là công cụ thiết yếu để tăng cường tính dân chủ của chính quyền, đảm bảo
tính minh bạch nền hành chính, tính trách nhiệm và quản trị tốt của Chính
phủ. Tự do thông tin hay tiếp cận thông tin chính là việc công dân được tiếp
cận hồ sơ, văn b
ản của cơ quan công quyền, nắm bắt được các hoạt động của
cơ quan công quyền, đảm bảo nguyên tắc các cơ quan công quyền không
được giữ thông tin thay mặt chính họ mà là thay mặt hay xuất phát từ việc
bảo đảm lợi ích của tất cả các thành viên trong xã hội, và hoạt động trên sự
giám sát của nhân dân. Quyền tiếp cận thông tin của cá nhân còn có ý nghĩa
thứ hai là quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước phải công bố
, phổ biến các
loại thông tin mà cơ quan đó nắm giữ vì lợi ích của cộng đồng. Quyền tiếp
cận thông tin bắt đầu xuất hiện là quyền được biết sự thật, nó phản ánh nghĩa
vụ của nhà nước bảo đảm mọi người được biết sự thật về các vấn đề khác
nhau của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và thế giới
đến các
vấn đề về quản lý tư pháp - hành chính, và các vấn đề liên quan đến quyền
con người và bảo vệ các quyền và tự do của con người.

25
Những công trình nghiên cứu trên cũng đề cập đến những giới hạn của
quyền tiếp cận thông tin, như:
- Tôn trọng các quyền, uy tín, bí mật cá nhân của người khác;
- Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng;

Luật tiếp cận thông tin và các công trình nghiên cứu về Luật tiếp cận thông
tin của các quốc gia trên thế giới đề tài phải lý giải được vì sao gần 90 quốc
gia trên thế giới trong đó có hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đã
ban hành Luật tiếp cận thông tin. Lý giải
được tính cấp thiết của việc ban
hành Luật tiếp cận thông tin của các quốc gia đã ban hành Luật tiếp cận
thông tin. Từ đó lý giải tính cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật tiếp cận
thông tin ở Việt Nam, đặc biệt là tính cấp thiết của việc ban hành một đạo
luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay làm công cụ đắc lực
cho việc xây dựng m
ột xã hội dân chủ, xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập
quốc tế.
4.Phương pháp nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status