CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC QUẢN LÝ NỢ
NƯỚC NGOÀI
I/ KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NỢ NƯỚC NGOÀI
1/ Khái niệm nợ nước ngoài
Vay nợ nước ngoài hay tín dụng nước ngoài là quan hệ tín dụng phát sinh
quyền và nghĩa vụ giữa bên vay ở trong nước và bên cho vay ở nước ngoài . Theo
khái niệm thông thường nhất, nợ nước ngoài là tổng số tiền nợ mà quốc gia đi vay
có trách nhiệm và ràng buộc phải trả, thanh toán cho một hay nhiều quốc gia khác
hay có thể là các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, các doanh nghiệp, tư nhân
nước ngoài. Gần đây một nhóm tổ chức quốc tế nghiên cứu thống kê nợ nước
ngoài bao gồm đại diện của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới
(WB) đã thoả thuận và đưa ra một định nghĩa chung về nợ nước ngoài như sau:
“Nợ nước ngoài tính gộp tại một thời điểm nhất định tương ứng với hạn mức
cam kết hợp đồng đang có hiệu lực và đã tạo ra việc người cư trú của một nước
chuyển vốn cho người không cư trú bao gồm nghĩa vụ phải trả lại gốc cùng với lãi
“
Ở Việt nam, Nghi định 58/ CP ban hành ngày 30/8/1998 thống nhất một số
khái niệm sau :
- Vay nước ngoài là những khoản vay ngắn, trung hoặc dài ( có lãi hoặc
không có lãi ) các khoản bảo lãnh và các hình thức vay khác như việc thỏa thuận
hoãn nợ hoặc các hình thức vay mới trả cũ với các chủ nợ nước ngoài .
-Vay nước ngoài của Chính phủ là các khoản vay do Chính phủ vay và cam
kết thực hiện nghĩa vụ với nước ngoài hoặc các khoản vay do Chính phủ uỷ quền
cho các doanh nghiệp vay hộ, được Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng Nhà nước bảo
lãnh.
*Khái niệm chủ nợ và con nợ .
Chủ nợ (hay nói cách khác là bên cho vay) là các tổ chức Tài chính (như
Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB ...), các chính phủ hay các Ngân
hàng Thương mại, các Công ty, tư nhân cho một quốc gia nào đó cho vay theo
những thoả thuận ( như về thời hạn trả, về lãi suất...) nhất định. Ngược lại, một
thực hiện theo chế độ quản lý vốn Ngân sách Nhà nước hiện hành. Khoản vốn vay
này bao gồm cả các khoản do Chính phủ uỷ quyền cho các doanh nghiệp nhà nước
vay hộ Ngân sách Nhà nước sẽ do Bộ Tài chính trực tiếp lập kế hoạch vay, tham
khảo ý kiến của các cơ quan và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Trong trường
hợp nguồn vốn vay bằng hàng hoá thì căn cứ vào các hợp đồng, hiệp định đã ký
với nước ngoài, Bộ Tài chính cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương mại và
Bộ ngành chủ quản xem xét để giao cho các đơn vị đầu mối đứng ra nhập hàng,
bán và nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra còn hình thức vốn vay nước ngoài của các doanh nghiệp không
được Chính phủ uỷ quyền nhưng được Chính phủ bảo lãnh (việc bảo lãnh vốn vay
nước ngoài của các doanh nghiệp được thực hiện theo quy chế bảo lãnh vốn vay
nước ngoài của Chính phủ). Trường hợp vay cho đầu tư xây dựng cơ bản (trừ vốn
góp liên doanh), doanh nghiệp phải tuân thủ theo trình tự lập và xét duyệt dự án
đầu tư xây dựng cơ bản hiện hành.
Mọi khoản vay nước ngoài của Chính phủ, bao gồm trực tiếp vay, uỷ quyền
cho các doanh nghiệp vay hộ v.v... đều phải được quản lý thông qua hạn mức vay
nợ nước ngoài của Chính phủ.
Kế hoạch tổng hạn mức vay nợ nước ngoài hàng năm được xây dựng trên cơ
sở nhu cầu thực tế về sử dụng vốn vay nước ngoài trong năm kế hoạch được xây
dựng trên các căn cứ chủ yếu sau đây:
- Căn cứ vào số vốn vay cho các dự án đã được ký kết trong các hợp đồng,
hiệp định vay vốn với nước ngoài do Chính phủ ký kết hay uỷ quyền cho các
doanh nghiệp ký kết hay có sự bảo lãnh của Chính phủ.
- Căn cứ vào nhu cầu vốn vay nước ngoài cho các dự án đầu tư xây dựng cơ
bản dự kiến bắt đầu thực hiện từ năm kế hoạch đã có đối tác nước ngoài nhưng
chưa ký kết được hợp đồng ngay.
- Cân đối thu, chi Ngân sách Nhà nước năm kế hoạch và các dự kiến nhu cầu
vay vốn nước ngoài để bù đắp thiếu hụt ngân sách;
- Và cuối cùng là căn cứ vào khả năng trả nợ nước ngoài trong năm kế
hoạch được Bộ Tài chính xem xét.
nợ nước ngoài là một tất yếu trong tiến trình phát triển. Thật vậy, trong bối cảnh
của các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển muốn nhanh chóng thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu nhằm đạt tới mục tiêu tăng trưởng dự kiến thì
nhu cầu vốn đầu tư luôn là một vấn đề nan giải bởi nó luôn là sự mâu thuẫn bất cập
giữa khả năng tích luỹ có hạn với nhu cầu đầu tư lại lớn. Do vậy, việc huy động
vốn nước ngoài là một vấn đề tất yếu.
Đối với Việt nam, chúng ta thực hiện phát triển kinh tế trong điều kiện từ
một đất nước vừa thoát khỏi hàng chục năm chiến tranh liên miên và trong thế bị
bao vây cấm vận của Hoa Kỳ, cùng với một nền kinh tế đặc trưng nông nghiệp lạc
hậu vào loại nghèo nhất thế giới. Do vậy, thực hiên công nghiệp hóa, hiện đại hoá
là giải pháp duy nhất để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói, đồng thời
công nghiệp hóa, hiện đại hoá cũng là mục tiêu duy nhất của Đảng và Nhà nước
ta để đưa nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với nền kinh tế trên thế giới
và trong khu vực, là cơ sở để thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh.
Để đạt được các chỉ tiêu phát triển kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế
- xã hôi trong giai đoạn 2001-2005 là tăng gấp đôi GDP so với năm 1995 và tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân 9-10 % thì chúng ta cần một lượng vốn đầu tư
khoảng 40-42 tỷ USD, trong khi đó khả năng đáp ứng vốn từ nền kinh tế trong
nước theo quy hoạch đầu tư đạt khoảng 45 % (xấp xỉ 20 tỷ USD). Vậy số thiếu hụt
lấy từ đâu? Một câu hỏi không dễ trả lời, nhưng chắc chắn phải là nguồn vốn từ
bên ngoài thông qua hoạt động vay nợ.
2/ Sự cần thiết tăng cường quản lý hoạt động vay, trả nợ nước ngoài.
Để hiểu rõ được vấn đề, trước hết chúng ta hãy xét thực trạng nợ nước ngoài
của Việt Nam :
Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến 31/12/2001, nợ nước ngoài của Việt
Nam bằng ngoại tệ chuyển đổi là 3,6 tỷ đô -la Mỹ và hơn 10 tỷ đồng rúp chuyển
nhượng, chiếm 50 % GDP, trong đó 1/3 số nợ của Chính phủ do hậu quả từ thời cơ
chế bao cấp để lại. Xét về số tuyệt đối, đây là con số không lớn nhưng là không
nhỏ so với thu nhập quốc dân và điều kiện kinh tế của nước ta. Đáng lưu ý hơn là
khác biệt về thu nhập. Tỷ lệ tích lũy của Việt Nam đã được nâng lên trong suốt
thập kỷ vừa qua,nhưng nỗ lực sẽ hết sức cần thiết để ngăn chặn khuynh hướng
giảm gần đây và phục hồi tỷ lệ tăng trưởng tích lũy nhanh, nhằm đạt được mức
tăng tỷ lệ tích lũy dự kiến là 20 % GDP vào năm 2005.
Mặc dù tích lũy trong nước tăng đáng kể, nhu cầu tài trợ từ bên ngoài của
Việt Nam vẫn lớn (Biểu 1). Trong năm 2003, Ngân hàng Thế giới dự tính nhu cầu
tài chính bên ngoài là 3,7 tỷ đô -la Mỹ. Với mức tổng dư nợ nước ngoài cao và
khả năng trả nợ nước ngoài của Việt Nam trong trung hạn vẫn còn hạn chế, phần
lớn nhu cầu tái chính bên ngoài này cần phải ở dưới dạng tài trợ với điều kiện ưu
đãI, và cả nguồn vốn FDI nữa.
Biểu 2. Nhu cầu tài trợ từ bên ngoài và nguồn.
(Tỷ đô-la Mỹ)
Thực
2001
Ước
tính
2002 2003
Dự
2004
báo
2005 2005-2010
TB năm
Nhu cầu tài trợ
Thâm hụt cán cân vãnglai 2,6 2,5 2,6 2,9 2,1 3,7
Khấu trừ nợ chính thức
trung và dài hạn
0,9 0,5 0,6 0,8 0,8 1,0
Những khoản khác (ròng) -0,3 - - - - -
Dự trữ bắt buộc 0,5 0,5 0,4 0,5 0,7 0,7
Tổng số 3,7 3,5 3,7 4,1 4,5 5,4