CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Pdf 63

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Từ những năm trước công nguyên, các nhà tư tưởng Trung Quốc như
Khổng Tử, Mạnh Tử đã có những tư tưởng trong DH phải quan tâm đến việc kích
thích suy nghĩ của người học, người học phải tự suy nghĩ chứ không nên nhắm mắt
làm theo sách.[8]
Thế kỉ 17 – 18, ở các nước châu Âu, các nhà GD nổi tiếng như Comenski,
J.J. Rousseau cũng đã có những quan điểm phải đưa ra những biện pháp DH hướng
HS tìm tòi suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiến thức. Những
quan điểm này chỉ rõ: không nên cho HS kiến thức có sẵn mà cần phải cho HS tự
phát minh ra, tự bồi dưỡng tinh thần độc lập trong quan sát, đàm thoại và trong
việc ứng dụng vào thực tiễn.[8]
Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, việc tổ chức cho HS học tập theo hướng tích
cực hoá đã hình thành và phát triển với những quan điểm, công trình nghiên cứu có
qui mô lớn ở các nước châu Âu và Mỹ. Nhiều nhà GD ở các nước trên thế giới đã
thấy rằng việc DH phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi, phát huy sáng
tạo của HS, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn.
Tác giả N.M. Veczilin (Liên Xô cũ) trong tác phẩm “Đại cương về phương
pháp dạy học sinh học” cũng cho rằng: “cần tổ chức tự học cho HS không chú ý
đến nội dung, phương pháp mà việc tổ chức sắp xếp logic của tài liệu cũng có ý
nghĩa lớn ”[46]
Tác giả V.P.Xtơrozicozin trong tác phẩm “Tổ chức quá trình dạy học trong
trường phổ thông” cũng đã trình bày những nghiên cứu của mình về vai trò của HS
trong việc tự học, vị trí của tự học trong học tập, phương pháp tổ chức tự học,
những nguyên tắc, điều kiện đảm bảo cho tự học có hiệu quả.[30]
+ Các thông tư chỉ thị của bộ GD Pháp suốt những năm 1970—1980 đều
khuyến khích tăng cường vai trò chủ động tích cực của HS, chỉ đạo áp dụng
phương pháp tích cực từ bậc sơ học, tiểu học đến trung học.[36 ]
+ Ở Hoa Kì, ý tưởng DH cá nhân hoá ra đời trong những năm 1970 đã được
thử nghịêm tại gần 200 trường. GV xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướng

sở lí thuyết về việc sử dụng CH, BT trong DHSH.[2]
Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Oai (2003): “Sử dụng câu hỏi, bài tập
để tích cực hoá hoạt động của HS trong dạy học sinh thái học 11- THPT” là công
trình nghiên cứu có hệ thống từ cơ sở lí luận đến việc thực hiện đề xuất các nguyên
tắc về qui trình xây dựng và sử dụng CH, BT, từ đó định hướng cho GV về phương
pháp, kĩ năng thiết kế CH, BT trong tất cả các khâu của quá trình lên lớp.[30]
Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Phượng (2004): “Xây dựng và sử dụng CH, BT
để tổ chức hoạt động học tập tự lực của HS trong dạy học Sinh thái học 11- THPT”
đã đề xuất các nguyên tắc xây dựng CH, BT để tổ chức hoạt động học tập tự lực
của HS và đã xây dựng được bộ CH, BT để tổ chức hoạt động tự lực của HS trong
dạy học sinh thái học THPT, áp dụng trong các khâu nghiên cứu tài liệu mới, ôn
tập, kiểm tra đánh giá.[32]
+ Tác giả Nguyễn Kì với “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã
đề ra nguyên tắc và các bước tổ chức HS tự học.[26]
Ngoài ra còn nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả cũng nghiên
cứu về xây dựng và sử dụng CH, BT để dạy các phần khác nhau của Sinh học phổ
thông:
+ GS. TS Đinh Quang Báo: “Dạy dọc sinh học ở trường phổ thông theo
hướng hoạt động hoá người học” (Kỉ yếu hội thảo KH đổi mới PPDH theo hướng
hoạt động hoá người học, Hà Nội, 1995), Tổng kết kinh nghiệm sử dụng SGK, Hà
Nội, 1997. Dạy sinh viên đọc sách - phương pháp dạy tự học chủ yếu (Tài liệu
dành cho học viên sau đại học)
+ PGS. TS Nguyễn Đức Thành: chuyên đề: “Tích cực hoá hoạt động người
học” (Tài liệu dành cho học viên sau đại học). [39 ]
+ PGS. TS Lê Đình Trung: chuyên đề: “Câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh
học” (Tài liệu dành cho học viên sau đại học). [45]
+ Luận văn thạc sĩ của Vũ Phương Thảo (2004): “Sử dụng CH tự lực nhằm
phát huy tính tích cực của HS khi DH phần sinh học tế bào lớp 10 – ban KHTN”.
[40 ]
+ Luận văn thạc sĩ của Bùi Thuý Phượng (2001): “Sử dụng CH, BT để tổ

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tự học:
+ Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn thì: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp….), và có khi
cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ,
tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến
thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở
hữu của mình”. [43]
+ Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức
của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người
học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và
SGK đã được qui định ”. [29]
+ Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công tác
học tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến
chất lượng đào tạo”. [2]
Tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong GD nhà trường và trong cả cuộc
sống người học. Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt
động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ
học tập suốt đời.
Theo V.P. Xtơrozicozin (1981), [30] tổ chức cho HS tự học có các vai trò sau:
- Nâng cao tính tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của HS.
- Rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo được qui định trong chương trình của mỗi bộ
môn, phù hợp với mục đích của nhà trường.
- Dạy cho HS biết cách áp dụng các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhận được
vào cuộc sống và lao động công ích.
- Phát triển khả năng nhận thức của HS (tính quan sát, tính ham hiểu biết, khả
năng tư duy logic, tích cực sáng tạo).
- Luyện cho HS khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới mục đích
đặt ra.
- Chuẩn bị cho HS có thể tiếp tục tự học một cách có hiệu quả.

+ Năng lực đánh giá và tự đánh giá. [44]
Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau tạo nên NLTH ở
HS.
* Năng lực tự học SGK
Tự học SGK là quá trình HS thực hiện các thao tác với SGK để tự mình
chiếm lĩnh nội dung học tập.
Theo I.F. Khavlamop: “Bản chất của hoạt động độc lập nghiên cứu SGK và
tài liệu tham khảo là ở chỗ việc nắm vững kiến thức mới được thực hiện độc lập
đối với từng HS thông qua đọc sách có suy nghĩ kĩ tài liệu nghiên cứu, thông hiểu
các sự kiện, các ví dụ nêu ra trong sách và các kết luận khái quát hoá từ các sự kiện
và ví dụ đó.”[36]
Đối tượng nhận thức của HS khi làm việc với SGK là các nguồn tri thức
được diễn đạt bằng các hình thái ngôn ngữ khác nhau như kênh chữ, kênh hình, sơ
đồ, đồ thị, bảng biểu. Do đó, khi làm việc với SGK, HS cần có các kĩ năng cơ bản
mới chiếm lĩnh được kiến thức đồng thời có được phương pháp hoạt động sáng tạo
trong nhận thức. Vì rằng, ít trường hợp kiến thức đến trực tiếp ngay với người học
mà người học không phải động não gì lắm, chỉ cần nghe, nhìn, hiểu, phần lớn phải
trải qua một quá trình học phức tạp với những thao tác tư duy cần thiết được rèn
luyện thành thạo.
Làm việc độc lập với sách là một năng lực cần thiết cho mọi người để có thể
học suốt đời vì thật khó mà luôn có thầy bên cạnh, còn sách thì có dễ dàng hơn.
Tóm lại: NLTH SGK là năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức từ SGK
1.2.1.3. Các mức độ của năng lực tự học
- Tự học có hướng dẫn
Là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng
dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
Có 2 mức độ:
+ Người học có SGK và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn, nghĩa là
vẫn có các quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới dạng phản ánh thắc
mắc, làm bài, chấm bài….

dưới sự hướng dẫn của GV – xã hội hoá lớp học.
1.2.2. Vai trò của CH, BT trong dạy học.
1.2.2.1. Khái niệm CH, BT
* Khái niệm câu hỏi.
Hỏi: Là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời về một vấn đề nào đó.
CH: Theo Aristotle – người đầu tiên phân tích CH dưới góc độ logic: “CH là
một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết. CH đó là những
bài làm mà khi hoàn thành chúng, HS phải tiến hành hoạt động tái hiện, bất luận là
trả lời miệng, trả lời viết hoặc có kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực
nghiệm”. [45, 39]
Theo GS Trần Bá Hoành: CH kích thích tư duy tích cực là CH đặt ra trước
HS một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực
tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng
hợp, khái quát hoá qua đó lĩnh hội kiến thức mới và được tập dượt phương pháp
nghiên cứu, phương pháp giải quyết vấn đề có được niềm vui của sự khám phá.
[19]
Thuật ngữ CH có 3 ý nghĩa:
+ Một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh đòi hỏi phải trả lời, phải thực
hiện.
+ Một nhiệm vụ như là một đối tượng nghiên cứu, một phán đoán, một bài
toán, một vấn đề đòi hỏi giải quyết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status