Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Nội dung
I - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Bản chất của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kin tế nông
nghiệp
1.1. Bản chất cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1. Cơ cấu kinh tế theo ngành và nội bộ ngành
1.1.2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng kinh tế lãnh thổ và
nội bộ vùng kinh tế lãnh thổ
1.1.3. Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.3. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta
2. Đặc điểm của nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
3.Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
3.1. Vị trí địa lý
3.2. Đất đai
3.3. Dân số
3.4. Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội.
3.4.1. Ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế ngành ở khu vực nông
thôn ngoại thành
3.4.2. Ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế vùng
3.4.3. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nguồn lao động nông nghiệp
Trang
3
4
4
4
2.1. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
2.2. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề đất đai
2.3. Kinh nghiệm tạo việc làm và giải quyết việc làm ở khu vực
ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
2.4. Kinh nghiệm về hạn chế ô nhiễm môi trường ở khu vực ngoại
thành thành phố Hồ Chí Minh
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
26
27
27
27
27
28
28
28
33
35
37
41
42
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Dinh - Khoa NN&PTNT - ĐHKTQD - Hà Nội
-2-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 7 tháng 11 năm 2006,Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức kinh tế thế giới WTO, mở ra nhiều cơ hội và thách thức phát triển kinh tế.
Với nhiều khó khăn như nguồn nhân lực chất lượng còn thấp, thiếu vốn, thiếu
khoa học công nghệ, thiếu cơ sở hạ tầng…, các ngành kinh tế nước ta đang phải
đối mặt với nguy cơ mất thị trường ngay trên “sân nhà”. Điều đó đã đáng lo ngại
thời gian và không gian nhất định.
Như vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp là cấu trúc bên trong của ngành nông
nghiệp, bao gồm những bộ phận hợp thành ngành kinh tế nông nghiệp và những
mối quan hệ tỷ lệ, hữu cơ về mặt lượng và chất giữa các bộ phận đó trong thời
gian và không gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có 3 nội dung:
+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành và nội bộ ngành.
+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng kinh tế lãnh thổ và nội bộ vùng
kinh tế lãnh thổ.
+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế.
1.1.1. Cơ cấu kinh tế theo ngành và nội bộ ngành:
Ngành là một tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chức
năng trong hệ thống phân công lao động xã hội. Ngành phản ánh một loạt hoạt
động nhất định của con người trong quá trình sản xuất xã hội, nó được phân biệt
theo tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, đặc tính của sản phẩm sản
xuất ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất. Các ngành trong cơ cấu
kinh tế nông thôn ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của phân công lao
động xã hội. Quá trình phát triển của loài người đã trải qua ba cuộc phân công lao
động xã hội: Phân công lao động xã hội lần thứ nhất, tách chăn nuôi ra khỏi
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Dinh - Khoa NN&PTNT - ĐHKTQD - Hà Nội
-4-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngành trồng trọt. Phân công lao động xã hội lần thứ hai, tách thủ công nghiệp
(tiền thân của ngành công nghiệp ngày nay) khỏi nông nghiệp. Phân công lao
động xã hội lần thứ ba, tách dịch vụ lưu thông ra khỏi khu vực sản xuất vật chất.
Như vậy, phân công lao động theo ngành là cơ sở hình thành các ngành và
cơ cấu ngành. Phân công lao động càng phát triển ở trình độ cao thì sự phân chia
các ngành càng đa dạng, sâu sắc và chi tiết.
Các ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm:
* Ngành nông nghiệp, bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi.
mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hóa khác, gắn bó cơ cấu kinh tế
của từng vùng với cả nước. Trong từng vùng lãnh thổ phải coi trọng phát triển sản
xuất kinh doanh theo hướng chuyên môn hóa kết hợp đa dạng hóa trên cơ sở phát
huy lợi thế của vùng để định hướng chuyên môn hóa, nhờ đó nâng cao được trình
độ sản xuất hàng hóa của vùng.
Để hình thành cơ cấu vùng kinh tế vùng lãnh thổ hợp lý trước hết cần
hướng vào những khu vực có điều kiện phát triển hàng hóa lớn. Đó là khu vực có
nhiều lợi thế so sánh về thời tiết khí hậu, đất đai, vị trí địa lý và giao thông thuận
lợi, các cơ sở hạ tầng khác… Trên cơ sở đó xây dựng phương án sản xuất kinh
doanh nhằm trả lời câu hỏi: Trên mỗi vùng đó sản xuất cái gì? Số lượng là bao
nhiêu? Theo một cơ cấu hợp lý, để khai thác tốt nhất lợi thế của vùng, khai thác
tổng hợp và có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của vùng nhằm phát triển nhanh
kinh tế của vùng.
Trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, quá trình chuyển sang
sản xuất hàng hóa, đã từng bước hình thành các vùng và tiểu vùng sản xuất
chuyên môn hóa. Đó là nơi sản xuất ra những nông sản hàng hóa ngày càng lớn
với chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Theo phương
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Dinh - Khoa NN&PTNT - ĐHKTQD - Hà Nội
-6-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
án phân vùng kinh tế cơ bản đã được Chính phủ phê duyệt thì cả nước ta chia
thành 8 vùng kinh tế sinh thái cơ bản là: vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng
đồng bằng Bắc Bộ, vùng Bắc Trung Bộ, vùng ven biển Nam Trung Bộ, vùng Tây
Nguyên, vùng Tây Nam Bộ, vùng Đông Nam Bộ.
1.1.3. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế:
Đây là nội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói
chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng.
Đại hội Đảng làn thứ VI (năm 1986) đã khẳng định việc chuyển nền kinh tế
nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và coi trọng phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đến Nghị
Cụ thể:
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá
trình chuyển từ trạng thái cơ cấu sang cơ cấu mới phù hợp với sự phát triển tiến
bộ của khoa học công nghệ, nhu cầu thị trường và nhằm sử dụng hiệu quả mọi
yếu tố nguồn lực của đất nước.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành biểu hiện dưới mặt lượng là sự thay đổi mối
tương quan tỷ lệ của mỗi ngành so với tổng thể ngành trong cơ cấu kinh tế nông
nghiệp. Còn về mặt chất, sự chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện ở sự thay đổi
phương án bố trí các ngành trong chiến lược phát triển và vị trí của từng ngành
trong cơ cấu với sự thay đổi tính cân đối để chuyển sang trạng thái cân đối mới
cao hơn.
Như vậy, thực chất chuyển dịch cơ cấu ngành là thực hiện phân công lại
lao động giữa các ngành cho phù hợp với yêu cầu khách quan.
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Dinh - Khoa NN&PTNT - ĐHKTQD - Hà Nội
-8-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu ngành và nội bộ ngành trong cơ cấu kinh
tế nông nghiệp là phải hướng tới một cơ cấu ngành hợp lý, đa dạng, trong đó cần
phát triển các ngành chủ lực có nhiều lợi thế để đáp ứng yêu cầu trong nước và
xuất khẩu. Đồng thời phải kết hợp tối ưu giữa cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh
thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế.
Về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng giữa các vùng kinh tế có sự khác nhau. Song
nhìn chung cơ cấu kinh tế của vùng đều chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các
ngành có giá trị kinh tế cao. Ngoài những vùng kinh tế sinh thái cơ bản, nông
nghiệp đã hình thành những vùng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa tập
trung đó là: Vùng lúa đồng bằng sông Cửu Long, vùng cà phê ở Tây Nguyên,
vùng cao su Đông Nam Bộ, cây ăn quả Nam Bộ và miền núi phía Bắc, mía ở
Duyên Hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long… Các vùng sản xuất hàng
hóa tập trung có tỷ suất hàng hóa cao, chất lượng ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu
cao.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đảm bảo khai thác sử dụng hợp lý
mọi tiềm năng lợi thế để đảm bảo khả năng xuất khẩu.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn xuất phát từ thực trạng cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ở nước ta còn lạc hậu, do đó cần đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thực sự tạo được những điều
kiện giải phóng mọi sức sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao
đời sống và tăng trưởng kinh tế góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Dinh - Khoa NN&PTNT - ĐHKTQD - Hà Nội
-10-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta:
Để đẩy nhanh phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa thì phải đẩy
nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hướng XHCN.
- Đẩy nhanh phát triển ngành chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản
xuất chính trong nông nghiệp, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm từ 30% -
35% giá trị sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp).
Hiện nay, ngành chăn nuôi mới chiếm 22,5% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.
Ngành chăn nuôi phải phát triển theo hướng đa dạng hóa để tạo ra nhiều sản
phẩm phong phú chất lượng cao.
- Ngành trồng trọt phát triển nhanh theo hướng nâng cao chất lượng sản
xuất ngành trồng trọt. Về tỷ trọng, giá trị sản xuất ngành trồng trọt chiếm khoảng
65% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Trong ngành trồng trọt phải giảm tỷ
trọng giá trị sản xuất lương thực nhưng vẫn phải đảm bảo an ninh lương thực cho
đất nước và mỗi năm trên dưới 4 triệu tấn gạo. Mở rộng và đầu tư thâm canh cây
ngô, sắn để làm thức ăn chăn nuôi và đáp ứng nhu cầu chế biến. Đồng thời tăng tỷ
trọng giá trị sản xuất các cây trồng khác có giá trị kinh tế cao, có khả năng sản
xuất và xuất khẩu lớn và mở rộng sản xuất các cây trồng để thay thế nhập khẩu.
không chỉ đảm bảo về chất dinh dưỡng mà còn phải hướng đến sức khỏe và đến
những giá trị thẩm mỹ khác. Vì vậy mà nông nghiệp Hà Nội chủ yếu tập trung
vào phát triển những vùng rau, hoa tươi, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao chứ ít
tập trung vào các cây lương thực thực phẩm.
Các sản phẩm nông nghiệp tiêu thụ trên thị trường Hà Nội chủ yếu là do các
tỉnh lân cận chuyển vào thủ đô, còn nông sản do nông nghiêp Hà Nội sản xuất ra
chỉ chiếm một phần nhỏ. Ngoài ra các huyện ngoại thành Hà Nội thường có các
làng nghề truyền thống rất nổi tiếng, tạo nguồn thu nhập lớn hơn rất nhiều so với
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Dinh - Khoa NN&PTNT - ĐHKTQD - Hà Nội
-12-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp nên người dân cũng không quá mặn mà
với công việc đồng áng.
Hơn nữa, khi nước ta đã gia nhập vào WTO thì nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội lại càng phải tập trung vào các lĩnh vực trên để phát triển đáp ứng không chỉ
thị hiếu của người tiêu dùng mà còn góp phần vào bảo vệ và cải tạo môi trường
sống ngày càng trong sạch, tươi đẹp hơn.
Với những đặc điểm trên, nông nghiệp ngoại thành Hà Nội cần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế để tránh lãng phí các nguồn lực và phát triển nông nghiệp thủ đô hài
hòa với sự phát triển các ngành khác trong cơ cấu kinh tế toàn thành phố.
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ngoại thành Hà Nội:
3.1. Vị trí địa lý:
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng Bắc Bộ, tiếp giáp với 5 tỉnh: Thái
Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Vĩnh Yên và Hà Tây ở
phía Tây và phía Nam. Hà Nội có diện tích tự nhiên 920,97 km
2
, trong đó diện
tích các huyện ngoại thành khoảng 836,67 km
2
ở khu vực ngoại thành
Đơn vị: ha
Năm
Các loại đất
Huyện
Đất
nông
nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Đất
chuyên
dùng
Đất ở
Đất chưa
sử dụng
Đô thị
Nông
thôn
1995
Từ Liêm 5.332 20 1.236 145 1.283 1.430
Gia Lâm 9.158 44 3.942 191 1.545 2.370
Đông Anh 9.989 6 3.482 103 1.972 2.650
Sóc Sơn 12.874 6.674 5.273 26 3.089 2.652
Thanh Trì 5.622 - 2.082 38 1.192 1.055
Tổng 42.975 6.717 16.015 503 9.081 10.157
2000
Từ Liêm 4.071 16 1.497 49 931 749
Gia Lâm 9.144 59 4.172 213 1.570 2.273
Đông