Những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp sinh thái đang là đòi hỏi tất yếu và là xu hớng
phát triển phổ biến của nông nghiệp thế giới, nhằm giải quyết tốt mối quan hệ
cân bằng, bền vững giữa các yếu tố môi trờng sinh thái với sự phát triển của
con ngời. Trong xu hớng phát triển đó, nông nghiệp sinh thái của các vùng
ngoại thành còn mang một ý nghĩa nhân văn độc đáo, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao cả về vật chất và văn hoá, tinh thần của dân c đô thị, gắn liền với việc
phát triển nền nông nghiệp sạch và nông nghiệp du lịch- sinh thái, đợc khai
thác từ những tiềm năng, thế mạnh sẵn có của các vùng ngoại thành.
Nông nghiệp ngoại thành Hà Nội mặc dù chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong
cơ cấu kinh tế Thủ đô, nhng đợc xác định là ngành có vị trí quan trọng trong
phát triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vai trò đó
không chỉ đợc thể hiện ở chỗ đáp ứng đáng kể nhu cầu lơng thực, thực phẩm
cho ngời dân Thủ đô, làm đẹp cảnh quan, bảo vệ môi trờng, mà còn có ý nghĩa
to lớn trong việc mang lại những giá trị tinh thần độc đáo, làm giàu nét đẹp
truyền thống văn hoá ngời Hà Nội. Trong bối cảnh đô thị hoá và cạnh tranh
ngày càng sâu sắc với các hoạt động phi nông nghiệp, lợi ích từ các sản phẩm
nông nghiệp thuần tuý ở các vùng ngoại ô ngày càng thu hẹp. Chính vì vậy,
nông nghiệp ven đô nói chung và nông nghiệp ngoại thành Hà Nội nói riêng
chỉ có thể tiếp tục duy trì và phát triển đúng hớng, phục vụ phát triển đô thị
khi nó đợc phát triển theo hớng sản xuất nông nghiệp sinh thái.
Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hớng sinh thái bao gồm
các nội dung quan trọng nh: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo h-
ớng nông nghiệp sinh thái, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hớng vào
1
phát triển nông nghiệp sinh thái, xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp
kết hợp đáp ứng các yêu cầu sinh thái, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hớng sinh thái đợc coi là nội dung quan
trọng hàng đầu. Phát triển nông nghiệp sinh thái tức là tạo lập một cấu trúc

và các khu đô thị, đặc biệt ở các đô thị đang phát triển có mức độ ô nhiễm môi
trờng lớn, nông nghiệp ngoại thành còn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong
bảo vệ môi trờng, tạo cảnh quan và phục vụ các chiến lợc phát triển kinh tế-xã
hội. Vì thế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở các vùng ngoại thành
theo hớng nông nghiệp sinh thái cũng đang thu hút khá nhiều sự quan tâm,
nghiên cứu trong và ngoài nớc.
2.1. Các nghiên cứu ngoài nớc
Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến phát triển nông
nghiệp sinh thái, nông nghiệp đô thị, trong đó có đề cập đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hớng nông nghiệp sinh thái. Các kết quả nghiên cứu
đã đợc vận dụng vào hoạt động quản lý, xây dựng các chiến lợc, chính sách
kinh tế, định hớng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp để
phát triển nền nông nghiệp đô thị, sinh thái ở các nớc. Có nhiều nghiên cứu mà
kết quả của nó đã trở thành tài liệu tham khảo quý nh sách giáo khoa cho các tr-
ờng đại học hoặc sách gối đầu giờng cho các nhà quản lý.
Trớc hết, có thể kể ra những công trình có giá trị lớn về mặt lý thuyết, đã
xây dựng đợc các học thuyết về sinh thái nông nghiệp và phát triển bền vững
nh Các nguyên lý sinh thái của nông nghiệp [63] của hai tác giả Laura E.
Powers và Robert McSorley, viết năm 1998, Kinh tế học sinh thái và phát triển
bền vững: Lý thuyết, phơng pháp và ứng dụng [60] của tác giả Jenroen, viết
năm 1996, do cùng nhà xuất bản Mc Graw Hill, Inc phát hành, và Lịch sử
nông nghiệp bền vững và hệ thống nông nghiệp bền vững [68] của tác giả
3
Richard R. Harwood, viết năm 1990, ấn hành bởi Lucie Press. Trong các tác
phẩm này, các tác giả đã xây dựng những nguyên lý cơ bản về hệ sinh thái, hệ
sinh thái nông nghiệp, nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp bền vững, trong
đó, các khái niệm, cấu trúc và mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần của hệ
thống đợc làm rõ. Thông qua việc nghiên cứu, hệ thống hoá lịch sử phát triển
của các phơng thức sản xuất nông nghiệp, phân tích và đánh giá các tác động
của chúng đến môi trờng, các tác giả đã khẳng định tính tất yếu khách quan

triển nông nghiệp đô thị đã gắn kết lợi nhuận sản xuất nông nghiệp với chiến l-
ợc sử dụng ruộng đất, phân vùng nông nghiệp và bảo vệ môi trờng, ví dụ nh mô
hình vành đai xanh- Greenbelt [37] của Boal (1970). Theo Boal, có thể hình
thành ba vành đai khác nhau đối với nông nghiệp đô thị. Vành đai thứ nhất tại
trung tâm thành phố, đất đai đã quy hoạch ổn định, nông nghiệp đạt đợc mức
lợi nhuận ổn định do có nhiều lợi thế thị trờng. Vành đai thứ hai cận kề ngoại ô,
quy hoạch đất đai cha ổn định, lợi nhuận sản xuất nông nghiệp thấp do nông
dân không muốn đầu t mà trông chờ vào sự tăng giá đất do chuyển mục đích sử
dụng. Vành đai thứ ba ở ngoài cùng xa thành phố, nông nghiệp phát triển đa
dạng và đạt lợi nhuận rất cao trên đơn vị diện tích. Theo ông, công tác quy
hoạch và phân vùng nông nghiệp để sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển nông
nghiệp theo hớng đa dạng nhằm bảo vệ môi trờng là rất quan trọng cho nông
nghiệp đô thị và ven đô trong quá trình đô thị hoá.
Cũng có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới về cơ cấu kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nh Chuyển dịch cơ cấu- cẩm nang kinh tế
phát triển [56] của tác giả Chenery, viết năm 1988, Nông nghiệp và chuyển
dịch cơ cấu, các chiến lợc kinh tế ở các quốc gia đang phát triển [61] của
Johnston B. F. Kilby P., ấn hành bởi Oxford University năm 1975, hoặc
Nghiên cứu so sánh về cơ cấu kinh tế và tăng trởng kinh tế [62] của Kuznets
năm 1959... Các nghiên cứu đó đã cung cấp những lý luận nền tảng về cơ cấu
5
kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung cũng nh trong nông nghiệp nói
riêng, đặc biệt đã chỉ ra mối quan hệ giữa chiến lợc phát triển nông nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và sự phát triển nông nghiệp bền vững.
Có một số nghiên cứu khá điển hình liên quan đến nông nghiệp đô thị và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở các quốc
gia nh Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ [15] nh các nghiên cứu của McGee và
Greenberg (1990), của Doras (1996), của Mollard (1997) và của Srijantr (1998)
về nông nghiệp đô thị Bangkok; nghiên cứu của Gale F.H (1999) về các mô
hình nông nghiệp kết hợp ở Trung Quốc [59]; và nghiên cứu của Harison và P.

gỡ trên các mặt kinh tế, tổ chức và kỹ thuật để có thể đạt tới các tiêu chí của
nông nghiệp sinh thái ngoại thành vào những năm 2010. Trong số các giải
pháp, cần đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại
thành theo hớng phát triển các sản phẩm cao cấp, hình thành các vùng sản xuất
tập trung, chuyên môn hoá kết hợp phát triển tổng hợp các hoạt động du lịch,
dịch vụ. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài cũng đã cung cấp nhiều kinh nghiệm quý
báu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng sinh thái của các đô
thị trong và ngoài nớc, trong đó có nhiều bài học khá bổ ích cho nông nghiệp
ngoại thành Hà Nội (kinh nghiệm về mô hình VAC và IPM, kinh nghiệm
chuyển đổi cơ cấu của Thành phố Nam Định, Đà Lạt..).
Năm 2003, đề tài nghiên cứu khoa học Cơ sở khoa học để phát triển
nông nghiệp theo hớng nông nghiệp đô thị-sinh thái và hiện đại hoá nông thôn
Hà Nội giai đoạn 2006-2010 [12] bắt đầu đợc nghiên cứu, do Phó chủ tịch
UBND Thành phố Hà Nội Lê Quý Đôn làm chủ nhiệm đề tài. Thông qua việc
điều tra, khảo sát, thu thập thông tin đánh giá tình hình phát triển nông nghiệp
nông thôn Hà Nội 20 năm qua, đề tài đã xây dựng đợc các luận cứ khoa học, đề
xuất định hớng và giải pháp phát triển nông nghiệp Hà Nội theo hớng đô thị-
sinh thái và hiện đại hoá nông thôn giai đoạn 2006-2010.
7
Các nhà khoa học trong nớc cũng rất quan tâm đến các thuật ngữ nông
nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững và nông nghiệp đô thị vì các thuật ngữ
này còn khá mới mẻ và còn nhiều tranh luận ở Việt nam. Đã có những nghiên
cứu khá công phu nhằm làm rõ các khái niệm này. Có thể kể ra một số nghiên
cứu nh Nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp bền vững [35] của GS. VS.
Đào Thế Tuấn đăng trong tạp chí Phát triển nông thôn, số 37 tháng 3, 4 năm
2003; Nghiên cứu khái niệm, nội dung nông nghiệp đô thị [36] cũng của tác
giả Đào Thế Tuấn, thực hiện năm 2003; và Nghiên cứu khái niệm về nông
nghiệp đô thị-sinh thái và hiện đại hoá nông thôn [19] của PGS.TS Nguyễn
Trung Quế, thực hiện năm 2003.
Liên quan đến các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ để chuyển

nguyên nhân cơ bản của tồn tại và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết
cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hớng
nông nghiệp sinh thái.
- Xây dựng các quan điểm, định hớng chyển dịch một cách có căn cứ
khoa học và đề xuất các giải pháp kinh tế chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hớng nông nghiệp sinh thái.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề kinh tế chủ yếu của cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội trong quá trình phát triển nông nghiệp theo hớng sinh thái. Vấn đề nghiên
cứu đợc đặt trong mối quan hệ với cơ cấu kinh tế của Hà Nội, gắn liền với các
9
kế hoạch và nội dung phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất
nông nghiệp nói chung.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận án nghiên cứu trên phạm vi không gian 5 huyện
ngoại thành Hà Nội bao gồm: Từ Liêm, Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì và
Sóc Sơn.
Về thời gian, luận án nghiên cứu trong phạm vi thời gian gắn liền với quá
trình phát triển của sản xuất nông nghiệp ngoại thành Hà Nội, đặc biệt từ năm
1991 đến nay với sự ra đời của chơng trình 06/ Ctr-TU về 10 năm phát triển kinh
tế ngoại thành và xây dựng nông thôn mới và sau đó là chơng trình 12/CTr-TU
về phát triển kinh tế ngoại thành và từng bớc hiện đại hoá nông thôn giai đoạn
2001-2005. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quá trình chuyển dịch trong khoảng
thời gian đó, luận án đề xuất định hớng và giải pháp chủ yếu cho quá trình
chuyển dịch tiếp theo đến năm 2010.
Về nội dung của cơ cấu kinh tế: Nội dung của cơ cấu kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Hà Nội theo hớng sinh thái sẽ đợc giới hạn
xem xét trên ba khía cạnh là theo ngành, theo vùng và theo yếu tố kỹ thuật

tra khảo sát).
Nghiên cứu tài liệu có sẵn: giúp tác giả tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, kế
thừa những thành tựu khoa học, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và cơ sở
khoa học của luận án, tìm hiểu các kinh nghiệm trong nớc và thế giới trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp các vùng ngoại thành theo hớng sinh
thái. Tài liệu có sẵn cũng là nguồn chủ yếu và quan trọng để tác giả phân tích
11
và đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội theo hớng sinh thái. Các tài liệu chủ yếu đã sử dụng nh các báo
cáo kết quả sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội và niên giám
thống kê Hà Nội qua các năm, các báo cáo của chơng trình 12 CTr/TU, báo
cáo quy hoạch ngành nông nghiệp Hà Nội cho đến năm 2010 và định hớng
đến 2020, các báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 huyện ngoại thành
và nhiều tài liệu quan trọng khác Ngoài ra, thực trạng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kỹ thuật cũng sử dụng nguồn tài liệu này.
Các tài liệu nghiên cứu cụ thể đợc liệt kê trong phần danh mục các tài liệu
tham khảo.
Điều tra khảo sát chủ yếu cung cấp thông tin cho việc phân tích và
đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu kỹ thuật, đồng
thời giúp đánh giá thực trạng và tiềm năng, những vấn đề khó khăn vớng mắc
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
theo hớng sinh thái, từ đó đề xuất phơng hớng và các giải pháp thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn
tới.
Đối tợng điều tra khảo sát là các hộ gia đình nông dân 5 huyện ngoại
thành, thuộc 4 nhóm hộ là nhóm hộ trồng hoa- cây cảnh, nhóm hộ trồng rau,
nhóm hộ trồng cây ăn quả và nhóm hộ nuôi trồng thuỷ sản.
Mẫu điều tra: Kích thớc mẫu điều tra bao gồm 100 hộ, trong đó có 25
hộ sản xuất hoa, 25 hộ sản xuất rau, 20 hộ trồng cây ăn quả và 30 hộ nuôi
trồng thuỷ sản theo hớng sinh thái. Việc chọn mẫu dựa vào tiêu chí số lợng

đặc biệt từ sau năm 2000 trở lại đây. Từ đó đa ra những nhận xét có cơ sở
khoa học về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội theo hớng nông nghiệp sinh thái.
- Đa ra các quan điểm, đề xuất các định hớng và giải pháp có căn cứ
khoa học nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ngoại thành Hà Nội theo hớng nông nghiệp sinh thái.
7. Tên và kết cấu của luận án
Tên luận án: " Những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hớng nông nghiệp sinh
thái".
Kết cấu luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài
liệu tham khảo, luận án đợc chia thành 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ngoại thành theo hớng nông nghiệp sinh thái
Chơng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội theo hớng nông nghiệp sinh thái
Chơng 3: Định hớng và những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hớng nông nghiệp sinh thái
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành
theo hớng nông nghiệp sinh thái
1. 1 những vấn đề cơ bản về nông nghiệp sinh thái
và nông nghiệp sinh tháI ven đô
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về nông nghiệp sinh thái
1.1.1.1 Sơ lợc về các nền nông nghiệp trong lịch sử
Cho đến nay, thế giới đã và đang tồn tại nhiều mô hình nông nghiệp điển
hình. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế có thể dựa vào các tiêu chí

những hạn chế cơ bản nh: môi trờng đất và nớc ngày càng bị suy thoái do sử
dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu hoá học. Ngời sản xuất và tiêu dùng bị ảnh
hởng do sử dụng các hoá chất, đa dạng sinh học tiếp tục bị giảm sút.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp công nghiệp hoá cao: Đây là mô hình
sản xuất khá phổ biến ở các nớc công nghiệp phát triển. Các công cụ và nguyên
vật liệu có nguồn gốc từ công nghiệp đợc sử dụng ở mức rất cao. Sản xuất nông
nghiệp mang sắc thái của sản xuất công nghiệp, các thành tựu của công nghệ
sinh học cũng đợc sử dụng nhiều trong sản xuất nông nghiệp. Quy mô sản xuất
lớn dựa trên trình độ thâm canh, chuyên môn hoá sâu sắc. Kết quả của mô hình
này là, năng suất ruộng đất, cây trồng và năng suất lao động đã tăng vọt, an
ninh lơng thực đợc đảm bảo, nhu cầu của dân c đợc thoả mãn khá tốt. Tuy
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiên, ở nền nông nghiệp này đã bộc lộ gay gắt mâu thuẫn giữa sự thoả mãn
cao nhu cầu thực phẩm của thế hệ hôm nay với thoả mãn các nhu cầu đó cho
thế hệ tơng lai. Phơng pháp và công nghệ sản xuất của nền nông nghiệp này
không phải là con đờng thích hợp để phát triển bền vững, do sự huỷ diệt của
hoá chất đối với môi trờng và sức khoẻ con ngời. Các yếu tố nh đất đai, nguồn
nớc, đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng. Từ các nền nông nghiệp công
nghiệp hoá cao độ này đã xuất hiện nhu cầu phát triển nền nông nghiệp sinh
thái, bền vững.
1.1.1.2 Khái niệm nông nghiệp sinh thái
Trớc hết cần hiểu rõ khái niệm hệ sinh thái (Ecosystem), và hệ sinh thái
nông nghiệp (Agroecosystem). Có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ sinh thái.
Odum (1971) đã định nghĩa hệ sinh thái là một cấu trúc và chức năng của tự
nhiên. Ehrlich và Roughgarden (1987) cho rằng hệ sinh thái là mối quan hệ
giữa các tổ chức và môi trờng sinh học và vật chất của chúng [63]. Nh vậy,
sinh thái đề cập đến tính chất tự nhiên, vốn có của một hệ thống cân bằng giữa
các yếu tố sự sống và môi trờng tự nhiên tồn tại trên trái đất của chúng ta.
Từ khái niệm trên, hệ sinh thái nông nghiệp đợc hiểu là hệ sinh thái tạo

Tổ chức Cá nhân
Cộng
đồng

thể
chế
Năng
lợng
Đất
Không khí
NớcWebsite: Email : Tel : 0918.775.368
bằng của hệ sinh thái nông nghiệp, khái niệm nông nghiệp sinh thái còn đợc
xem xét theo tiếp cận phơng pháp, tức là một phơng thức sản xuất nông
nghiệp sinh học hoặc hữu cơ, nhằm vào mục tiêu bảo vệ môi trờng là chủ yếu
và duy trì các mối cân bằng của đất và hệ sinh thái nông nghiệp [35]. Khái
niệm này ngụ ý rằng để đạt đ ợc mục tiêu hệ sinh thái nông nghiệp cân bằng
thì sản xuất nông nghiệp phải sử dụng các phơng pháp và công nghệ sản xuất
sạch, không ô nhiễm môi trờng và bảo toàn nguồn lực.
Nh vậy, dù đợc hiểu theo tiếp cận nào, nông nghiệp sinh thái cũng luôn
phản ánh một cấu trúc cân bằng của hệ sinh thái nông nghiệp, và giữa
chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nông nghiệp sinh thái sử dụng
phơng pháp sản xuất sạch, đáp ứng mục tiêu phát triển cân bằng, bền vững của
hệ thống. Ngợc lại, phát triển nông nghiệp đạt đợc mục tiêu cân bằng, bền
vững trong hệ sinh thái nông nghiệp đòi hỏi phải lựa chọn, sử dụng và kết hợp

môi trờng là chủ yếu (nông nghiệp sinh thái chỉ phơng pháp sản xuất nông
nghiệp còn nông nghiệp bền vững chỉ mục tiêu của hệ thống nông nghiệp),
thì ở Trung Quốc và Việt Nam, khi gọi "nông nghiệp sinh thái", mọi ngời th-
ờng đồng nghĩa nó với nông nghiệp bền vững.
Nh vậy cần hiểu rằng, mặc dù gọi "nông nghiệp sinh thái", Trung Quốc
và Việt Nam vẫn ngụ ý phát triển một nền nông nghiệp nhằm vào mục tiêu
bền vững, tức là vừa hớng vào giảm thiểu tác hại đối với môi trờng, đảm bảo
duy trì nguồn lực và hệ sinh thái tự nhiên, vừa có sức sống về mặt kinh tế,
đồng thời đáp ứng các mục tiêu phát triển về mặt văn hoá, xã hội của con ng-
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ời. Nói cách khác, nông nghiệp sinh thái luôn phản ánh cấu trúc cân bằng,
bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp.
1.1.1.3 Đặc trng của nông nghiệp sinh thái
- Sản phẩm của nông nghiệp sinh thái là sản phẩm sạch trong đó sản
phẩm phi ăn uống (cảnh quan, môi trờng) rất đợc coi trọng: Nông nghiệp
thuần tuý th ờng coi trọng các sản phẩm lơng thực, thực phẩm, nhng nông
nghiệp sinh thái với mục tiêu duy trì sự phát triển bền vững của hệ thống lại
nhấn mạnh cả sản phẩm phi ăn uống nh cảnh quan môi trờng. Các lơng thực,
thực phẩm phải đảm bảo sạch, an toàn và có đầy đủ hàm lợng các chất dinh d-
ỡng cần thiết cho sự phát triển thể lực của con ngời. Các sản phẩm phi ăn uống
phải đảm bảo đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu văn hoá tinh thần của con
ngời và duy trì hệ sinh thái cân bằng, bền vững. Các sản phẩm phi ăn uống
bao gồm môi trờng tự nhiên hài hoà, trong sạch, những khu vui chơi, giải trí
trong lành, tơi đẹp đáp ứng nhu cầu tinh thần cho dân c. Những vành đai xanh
quanh thành phố, những hồ nớc kết hợp nuôi thả thuỷ sản với du lịch sẽ vừa
thoả mãn nhu cầu tinh thần của con ngời, vừa điều hoà khí hậu và bảo vệ các
nguồn lực sản xuất.
Một điểm cần lu ý khi lựa chọn hình thức tổ chức quản lý và huy động
vốn cho nông nghiệp sinh thái là trong khi lơng thực, thực phẩm là hàng hoá

hoặc nuôi trồng sinh vật cảnh không sử dụng nhiều máy móc hiện đại mà đòi
hỏi bàn tay khéo léo, tinh xảo, óc thẩm mỹ tinh tế, kết hợp với công nghệ vi
sinh và sinh học để điều khiển quá trình sinh trởng và phát triển của hoa và
sinh vật cảnh.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Bố trí sản xuất của nông nghiệp sinh thái tạo thành một không gian
hài hoà về cảnh quan sinh thái nhằm tôn trọng môi trờng và khai thác sản
phẩm văn hoá tinh thần. Nếu vấn đề về sản phẩm sạch đợc giải quyết chủ yếu
bởi công nghệ và phơng pháp sản xuất thì việc tạo ra cảnh quan, môi trờng tơi
đẹp, có giá trị văn hoá, tinh thần lớn phải đợc giải quyết chủ yếu bởi bố trí sản
xuất và phân vùng kinh tế. Hơn thế nữa, bố trí sản xuất còn có thể tác động đến
công nghệ và ảnh hởng đến mức độ can thiệp của công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp. Nông nghiệp sinh thái phản ánh cấu trúc cân bằng của hệ sinh thái
nông nghiệp. Cấu trúc cân bằng này đợc hình thành cơ bản từ việc bố trí sản
xuất và phân vùng nông nghiệp để tạo ra một cơ cấu hợp lý giữa các yếu tố của
hệ thống nhằm đạt đến sự cân bằng sinh thái. Duy trì một cấu trúc cân đối, hài
hoà giữa các yếu tố sinh học và vật chất trong hệ thống tự nó sẽ tạo ra một môi
trờng trong sạch, hạn chế sự can thiệp của công nghệ và thúc đẩy sự phát triển
của cả hệ thống nông nghiệp. Do đó, đây là đặc trng rất quan trọng của nông
nghiệp sinh thái.
Để hình thành một cơ cấu cân đối trong hệ thống, bố trí sản xuất của
nông nghiệp sinh thái phải tạo ra một không gian hài hoà về cảnh quan, môi tr-
ờng trên cơ sở coi trọng quy hoạch không gian theo hớng đan xen, kết hợp để
bảo vệ môi trờng và phát triển các hoạt động thăm quan, du lịch trên địa bàn.
Quy hoạch không gian đợc xem xét trên hai phơng diện là không gian chung và
không gian nông nghiệp tại mỗi vùng. Bố trí không gian chung phải có đợc sự
đan xen hợp lý giữa các vùng chuyên canh với các khu dân c và khu công
nghiệp. Bố trí không gian nông nghiệp tại mỗi vùng phải đợc xem xét trên
nguyên tắc kết hợp chuyên môn hoá với đa dạng hoá và phát triển các mô hình

nhiên
- Sức người
- Du canh, sơ
canh, trọc tỉa
- Cảnh quan hoang

- SP lựa chọn theo
kinh nghiệm
- Sức gia súc, công
cụ thủ công, phân
hữu cơ
- Du canh, khai
hoang
- Đa dạng sinh học
bị giảm sút
- SP được lai tạo
- Công cụ cơ
giới, hoá chất
- Định canh,
thâm canh
- Đã bố trí sx và
phân vùng
- Ô nhiễm môi
trường
- SP năng suất, không
an toàn, không cảnh
quan
- CN hoá chất và sinh
học cao
- Thâm canh, CMH cao

1.1.2.1 Khái niệm nông nghiệp sinh thái ven đô
Nông nghiệp sinh thái ven đô có thể đợc hiểu từ kết hợp hai khái niệm
nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp ven đô. Các nghiên cứu trên thế giới từ
xa đến nay thờng dùng thuật ngữ nông nghiệp đô thị (Urban Argiculture) để
gọi chung cho việc sản xuất các nông sản hàng hoá dựa vào các vùng đất và
diện tích mặt nớc nằm xen kẽ, rải rác trong các khu đô thị và vùng ngoại ô
25

Trích đoạn Các chỉ tiêu cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành theo hớng nông nghiệp sinh thá Kinh nghiệm trong nớc Kinh nghiệm thế giớ Dân số và lao động nông nghiệp Đánh giá về ảnh hởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của ngoại thành đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status