Những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái - Pdf 30

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phát triển nông nghiệp sinh thái đang là đòi hỏi tất yếu và là xu hướng
phát triển phổ biến của nông nghiệp thế giới, nhằm giải quyết tốt mối quan
hệ cân bằng, bền vững giữa các yếu tố môi trường sinh thái với sự phát triển
của con người. Trong xu hướng phát triển đó, nông nghiệp sinh thái của các
vùng ngoại thành còn mang một ý nghĩa nhân văn độc đáo, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao cả về vật chất và văn hoá, tinh thần của dân cư đô thị, gắn
liền với việc phát triển nền nông nghiệp sạch và nông nghiệp du lịch- sinh
thái, được khai thác từ những tiềm năng, thế mạnh sẵn có của các vùng
ngoại thành.
Nông nghiệp ngoại thành Hà Nội mặc dù chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong
cơ cấu kinh tế Thủ đô, nhưng được xác định là ngành có vị trí quan trọng
trong phát triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vai trò
đó không chỉ được thể hiện ở chỗ đáp ứng đáng kể nhu cầu lương thực, thực
phẩm cho người dân Thủ đô, làm đẹp cảnh quan, bảo vệ môi trường, mà còn
có ý nghĩa to lớn trong việc mang lại những giá trị tinh thần độc đáo, làm
giàu nét đẹp truyền thống văn hoá người Hà Nội. Trong bối cảnh đô thị hoá
và cạnh tranh ngày càng sâu sắc với các hoạt động phi nông nghiệp, lợi ích
từ các sản phẩm nông nghiệp thuần tuý ở các vùng ngoại ô ngày càng thu
hẹp. Chính vì vậy, nông nghiệp ven đô nói chung và nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội nói riêng chỉ có thể tiếp tục duy trì và phát triển đúng hướng,
phục vụ phát triển đô thị khi nó được phát triển theo hướng sản xuất nông
nghiệp sinh thái.
1
Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng sinh thái bao
gồm các nội dung quan trọng như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng nông nghiệp sinh thái, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ
hướng vào phát triển nông nghiệp sinh thái, xây dựng các mô hình sản xuất
nông nghiệp kết hợp đáp ứng các yêu cầu sinh thái, trong đó chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng sinh thái được coi

của nhiều nhà nghiên cứu và của nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với các
thành phố và các khu đô thị, đặc biệt ở các đô thị đang phát triển có mức độ ô
nhiễm môi trường lớn, nông nghiệp ngoại thành còn giữ một vai trò hết sức
quan trọng trong bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan và phục vụ các chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội. Vì thế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở
các vùng ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái cũng đang thu hút
khá nhiều sự quan tâm, nghiên cứu trong và ngoài nước.
2.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến phát triển nông
nghiệp sinh thái, nông nghiệp đô thị, trong đó có đề cập đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái. Các kết quả
nghiên cứu đã được vận dụng vào hoạt động quản lý, xây dựng các chiến
lược, chính sách kinh tế, định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp để phát triển nền nông nghiệp đô thị, sinh thái ở các nước. Có
nhiều nghiên cứu mà kết quả của nó đã trở thành tài liệu tham khảo quý như
sách giáo khoa cho các trường đại học hoặc sách ”gối đầu giường” cho các
nhà quản lý.
3
Trước hết, có thể kể ra những công trình có giá trị lớn về mặt lý thuyết,
đã xây dựng được các học thuyết về sinh thái nông nghiệp và phát triển bền
vững như “Các nguyên lý sinh thái của nông nghiệp” [63] của hai tác giả
Laura E. Powers và Robert McSorley, viết năm 1998, “Kinh tế học sinh thái
và phát triển bền vững: Lý thuyết, phương pháp và ứng dụng” [60] của tác giả
Jenroen, viết năm 1996, do cùng nhà xuất bản Mc Graw Hill, Inc phát hành,
và “Lịch sử nông nghiệp bền vững và hệ thống nông nghiệp bền vững” [68]
của tác giả Richard R. Harwood, viết năm 1990, ấn hành bởi Lucie Press.
Trong các tác phẩm này, các tác giả đã xây dựng những nguyên lý cơ bản về
hệ sinh thái, hệ sinh thái nông nghiệp, nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp
bền vững, trong đó, các khái niệm, cấu trúc và mối quan hệ hữu cơ giữa các
thành phần của hệ thống được làm rõ. Thông qua việc nghiên cứu, hệ thống

gian xanh cho các khu vực đô thị có mật độ dân cư cao” [57] được trình bày
tại hội thảo quốc tế về “Các vấn đề và tương lai phát triển thành phố sinh
thái” tổ chức qua mạng năm 2003. Tuy nhiên, vẫn có một vài nghiên cứu điển
hình về mô hình phát triển nông nghiệp đô thị đã gắn kết lợi nhuận sản xuất
nông nghiệp với chiến lược sử dụng ruộng đất, phân vùng nông nghiệp và bảo
vệ môi trường, ví dụ như mô hình vành đai xanh- Greenbelt [37] của Boal
(1970). Theo Boal, có thể hình thành ba vành đai khác nhau đối với nông
nghiệp đô thị. Vành đai thứ nhất tại trung tâm thành phố, đất đai đã quy
hoạch ổn định, nông nghiệp đạt được mức lợi nhuận ổn định do có nhiều lợi
thế thị trường. Vành đai thứ hai cận kề ngoại ô, quy hoạch đất đai chưa ổn
định, lợi nhuận sản xuất nông nghiệp thấp do nông dân không muốn đầu tư
mà trông chờ vào sự tăng giá đất do chuyển mục đích sử dụng. Vành đai thứ
ba ở ngoài cùng xa thành phố, nông nghiệp phát triển đa dạng và đạt lợi
5
nhuận rất cao trên đơn vị diện tích. Theo ông, công tác quy hoạch và phân
vùng nông nghiệp để sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển nông nghiệp theo
hướng đa dạng nhằm bảo vệ môi trường là rất quan trọng cho nông nghiệp đô
thị và ven đô trong quá trình đô thị hoá.
Cũng có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới về cơ cấu kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp như “Chuyển dịch cơ cấu- cẩm nang kinh tế
phát triển” [56] của tác giả Chenery, viết năm 1988, “Nông nghiệp và chuyển
dịch cơ cấu, các chiến lược kinh tế ở các quốc gia đang phát triển” [61] của
Johnston B. F. Kilby P., ấn hành bởi Oxford University năm 1975, hoặc
“Nghiên cứu so sánh về cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế” [62] của
Kuznets năm 1959... Các nghiên cứu đó đã cung cấp những lý luận nền tảng
về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung cũng như trong
nông nghiệp nói riêng, đặc biệt đã chỉ ra mối quan hệ giữa chiến lược phát
triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và sự phát triển
nông nghiệp bền vững.
Có một số nghiên cứu khá điển hình liên quan đến nông nghiệp đô thị

chuyên môn hoá khác nhau. Kết quả nghiên cứu đã xuất bản cuốn sách
chuyên khảo có giá trị về “Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo
hướng nông nghiệp sinh thái” [15] do PGS.TS Phạm Văn Khôi chủ biên, nhà
xuất bản nông nghiệp ấn hành năm 2004. Trong cuốn sách này, tác giả đã chỉ
ra hoạt động sản xuất nông nghiệp ngoại thành đã bước đầu có tiền đề tiếp
cận đến các tiêu chí của nông nghiệp sinh thái vùng ven đô nhưng còn gặp
khá nhiều những khó khăn cần tháo gỡ trên các mặt kinh tế, tổ chức và kỹ
7
thuật để có thể đạt tới các tiêu chí của nông nghiệp sinh thái ngoại thành vào
những năm 2010. Trong số các giải pháp, cần đẩy mạnh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành theo hướng phát triển các sản
phẩm cao cấp, hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hoá kết
hợp phát triển tổng hợp các hoạt động du lịch, dịch vụ. Từ kết quả nghiên
cứu, đề tài cũng đã cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sinh thái của các đô thị trong và ngoài
nước, trong đó có nhiều bài học khá bổ ích cho nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội (kinh nghiệm về mô hình VAC và IPM, kinh nghiệm chuyển đổi cơ cấu
của Thành phố Nam Định, Đà Lạt..).
Năm 2003, đề tài nghiên cứu khoa học “Cơ sở khoa học để phát triển
nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị-sinh thái và hiện đại hoá nông
thôn Hà Nội giai đoạn 2006-2010” [12] bắt đầu được nghiên cứu, do Phó chủ
tịch UBND Thành phố Hà Nội Lê Quý Đôn làm chủ nhiệm đề tài. Thông qua
việc điều tra, khảo sát, thu thập thông tin đánh giá tình hình phát triển nông
nghiệp nông thôn Hà Nội 20 năm qua, đề tài đã xây dựng được các luận cứ
khoa học, đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp Hà Nội
theo hướng đô thị- sinh thái và hiện đại hoá nông thôn giai đoạn 2006-2010.
Các nhà khoa học trong nước cũng rất quan tâm đến các thuật ngữ
nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững và nông nghiệp đô thị vì các
thuật ngữ này còn khá mới mẻ và còn nhiều tranh luận ở Việt nam. Đã có
những nghiên cứu khá công phu nhằm làm rõ các khái niệm này. Có thể kể ra

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về nông nghiệp sinh
thái, nông nghiệp sinh thái ven đô, cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
sinh thái ở ngoại thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại
thành theo hướng nông nghiệp sinh thái, làm cơ sở khoa học cho nghiên cứu
của luận án.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng sinh thái trong những năm qua, rút ra
những ưu điểm và chỉ ra những tồn tại trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
đánh giá các nguyên nhân cơ bản của tồn tại và những vấn đề đặt ra cần tiếp
tục giải quyết cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái.
- Xây dựng các quan điểm, định hướng chyển dịch một cách có căn cứ
khoa học và đề xuất các giải pháp kinh tế chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề kinh tế chủ yếu của cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội trong quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái. Vấn đề
nghiên cứu được đặt trong mối quan hệ với cơ cấu kinh tế của Hà Nội, gắn
liền với các kế hoạch và nội dung phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ
cấu sản xuất nông nghiệp nói chung.
10
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận án nghiên cứu trên phạm vi không gian 5 huyện
ngoại thành Hà Nội bao gồm: Từ Liêm, Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì và
Sóc Sơn.
Về thời gian, luận án nghiên cứu trong phạm vi thời gian gắn liền với
quá trình phát triển của sản xuất nông nghiệp ngoại thành Hà Nội, đặc biệt từ
năm 1991 đến nay với sự ra đời của chương trình 06/ Ctr-TU về 10 năm phát

thái trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau và trạng thái vận động biến đổi không
ngừng của các yếu tố cấu thành và tác động lên cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Phương pháp luận duy vật lịch sử nhằm xem xét những vấn đề trên đây
trong điều kiện lịch sử cụ thể và trong quá trình biến đổi, phát triển của cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành theo hướng sinh thái.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Các phương pháp thu thập thông tin: bao gồm thu thập thông tin thứ
cấp (thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn) và thu thập thông tin sơ cấp
(điều tra khảo sát).
Nghiên cứu tài liệu có sẵn: giúp tác giả tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, kế
thừa những thành tựu khoa học, hệ thống hoá những vấn đề lýý luận và cơ
sở khoa học của luận án, tìm hiểu các kinh nghiệm trong nước và thế giới
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp các vùng ngoại thành theo
hướng sinh thái. Tài liệu có sẵn cũng là nguồn chủ yếu và quan trọng để tác
12
giả phân tích và đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng sinh thái. Các tài liệu chủ yếu đã sử
dụng như các báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Hà Nội và niên giám thống kê Hà Nội qua các năm, các báo cáo của chương
trình 12 CTr/TU, báo cáo quy hoạch ngành nông nghiệp Hà Nội cho đến
năm 2010 và định hướng đến 2020, các báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế
xã hội 5 huyện ngoại thành và nhiều tài liệu quan trọng khác …Ngoài ra,
thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kỹ thuật
cũng sử dụng nguồn tài liệu này. Các tài liệu nghiên cứu cụ thể được liệt kê
trong phần danh mục các tài liệu tham khảo.
Điều tra khảo sát chủ yếu cung cấp thông tin cho việc phân tích và
đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu kỹ thuật,
đồng thời giúp đánh giá thực trạng và tiềm năng, những vấn đề khó khăn
vướng mắc trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội theo hướng sinh thái, từ đó đề xuất phương hướng và các giải

6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp sinh thái ven đô, cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng sinh thái và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở
ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái.
- Phân tích và đánh giá thực trạng cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội theo hướng sinh thái những năm đổi
14
mới, đặc biệt từ sau năm 2000 trở lại đây. Từ đó đưa ra những nhận xét có
cơ sở khoa học về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái.
- Đưa ra các quan điểm, đề xuất các định hướng và giải pháp có căn
cứ khoa học nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái.
7. TÊN VÀ KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Tên luận án: " Những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh
thái".
Kết cấu luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục
tài liệu tham khảo, luận án được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lýý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái
Chương 3: Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái
15
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LýÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NGOẠI THÀNH THEO HƯỚNG NÔNG

xuất hiện của mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cải tiến.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cải tiến: Là mô hình sản xuất ở
những nơi đã định canh, định cư, với cách thức sản xuất gần giống mô hình
nông nghiệp hữu cơ cổ truyền, nhưng sử dụng ngày càng nhiều động lực cơ
giới, công cụ sản xuất hiện đại, phân hoá học và các chế phẩm phòng trừ dịch
bệnh bằng hoá chất, một số giống cây trồng, vật nuôi được lai tạo theo công
nghệ tiên tiến. Kết quả là về cơ bản đã sản xuất đủ thực phẩm cho con người
nhờ tăng năng suất lao động, cây trồng và vật nuôi. Tuy nhiên, mô hình này
ngày càng bộc lộ những hạn chế cơ bản như: môi trường đất và nước ngày
càng bị suy thoái do sử dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu hoá học. Người
sản xuất và tiêu dùng bị ảnh hưởng do sử dụng các hoá chất, đa dạng sinh học
tiếp tục bị giảm sút.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp công nghiệp hoá cao: Đây là mô hình
sản xuất khá phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển. Các công cụ và
nguyên vật liệu có nguồn gốc từ công nghiệp được sử dụng ở mức rất cao.
Sản xuất nông nghiệp mang sắc thái của sản xuất công nghiệp, các thành tựu
của công nghệ sinh học cũng được sử dụng nhiều trong sản xuất nông nghiệp.
Quy mô sản xuất lớn dựa trên trình độ thâm canh, chuyên môn hoá sâu sắc.
17
Kết quả của mô hình này là, năng suất ruộng đất, cây trồng và năng suất lao
động đã tăng vọt, an ninh lương thực được đảm bảo, nhu cầu của dân cư được
thoả mãn khá tốt. Tuy nhiên, ở nền nông nghiệp này đã bộc lộ gay gắt mâu
thuẫn giữa sự thoả mãn cao nhu cầu thực phẩm của thế hệ hôm nay với thoả
mãn các nhu cầu đó cho thế hệ tương lai. Phương pháp và công nghệ sản xuất
của nền nông nghiệp này không phải là con đường thích hợp để phát triển bền
vững, do sự huỷ diệt của hoá chất đối với môi trường và sức khoẻ con người.
Các yếu tố như đất đai, nguồn nước, đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm
trọng. Từ các nền nông nghiệp công nghiệp hoá cao độ này đã xuất hiện nhu
cầu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, bền vững.
1.1.1.2 Khái niệm nông nghiệp sinh thái


Tổ chức

Cá nhân
Tổ chức Cá nhân
CỘNG
ĐỒNG

THỂ
CHẾ
Năng
lượng
Đất
Không
NướcĐể hệ sinh thái nông nghiệp đạt được cân bằng, cần xây dựng và duy
trì một cơ cấu hợp lýý giữa các yếu tố trong hệ thống, trong đó tác động của
khoa học-công nghệ và phương pháp sản xuất là hết sức quan trọng để có
được một nền nông nghiệp sạch, năng suất cao và giá trị văn hoá, tinh thần
lớn. Với sự nhấn mạnh tầm quan trọng của phương thức sản xuất nông
nghiệp đến sự cân bằng của hệ sinh thái nông nghiệp, khái niệm “nông
nghiệp sinh thái” còn được xem xét theo tiếp cận phương pháp, tức là “một
phương thức sản xuất nông nghiệp sinh học hoặc hữu cơ, nhằm vào mục tiêu
bảo vệ môi trường là chủ yếu và duy trì các mối cân bằng của đất và hệ sinh
thái nông nghiệp” [35]. Khái niệm này ngụ ýý rằng để đạt được mục tiêu hệ

theo tiếp cận phương pháp, nông nghiệp sinh thái thuộc phạm trù nông
nghiệp bền vững vì để đạt được sự bền vững của hệ thống nông nghiệp, cần
phải có sự bền vững về môi trường.
Bắt đầu từ đầu những năm 40 của thế kỷ 20, các thuật ngữ "nông
nghiệp sinh thái" và "nông nghiệp bền vững" đã trở nên quen thuộc với các
chuyên gia kinh tế ở Mỹ và Châu Âu, sau đó lan sang nhiều nước khác trên
thế giới, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay ở
Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi
các thuật ngữ trên. Đối với các nước Bắc Âu, cụm từ “nông nghiệp sinh
thái" thường được dùng để chỉ phương thức sản xuất nông nghiệp sinh học
hay hữu cơ, có mục đích bảo vệ môi trường là chủ yếu (“nông nghiệp sinh
thái” chỉ phương pháp sản xuất nông nghiệp còn “nông nghiệp bền vững”
chỉ mục tiêu của hệ thống nông nghiệp), thì ở Trung Quốc và Việt Nam, khi
21
gọi "nông nghiệp sinh thái", mọi người thường đồng nghĩa nó với nông
nghiệp bền vững.
Như vậy cần hiểu rằng, mặc dù gọi "nông nghiệp sinh thái", Trung
Quốc và Việt Nam vẫn ngụ ý phát triển một nền nông nghiệp nhằm vào mục
tiêu bền vững, tức là vừa hướng vào giảm thiểu tác hại đối với môi trường,
đảm bảo duy trì nguồn lực và hệ sinh thái tự nhiên, vừa có sức sống về mặt
kinh tế, đồng thời đáp ứng các mục tiêu phát triển về mặt văn hoá, xã hội
của con người. Nói cách khác, nông nghiệp sinh thái luôn phản ánh cấu
trúc cân bằng, bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp.
1.1.1.3 Đặc trưng của nông nghiệp sinh thái
- Sản phẩm của nông nghiệp sinh thái là sản phẩm sạch trong đó sản
phẩm phi ăn uống (cảnh quan, môi trường) rất được coi trọng: Nông nghiệp
thuần tuýý thường coi trọng các sản phẩm lương thực, thực phẩm, nhưng
nông nghiệp sinh thái với mục tiêu duy trì sự phát triển bền vững của hệ
thống lại nhấn mạnh cả sản phẩm phi ăn uống như cảnh quan môi trường.
Các lương thực, thực phẩm phải đảm bảo sạch, an toàn và có đầy đủ hàm

động lực của sự phát triển. Các giống mới sẽ tăng khả năng chống chịu sâu
bệnh cho cây trồng, vật nuôi để giảm dần việc sử dụng hoá chất. Công nghệ
truyền thống sử dụng phân vi sinh, hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, các cây
họ đậu), kỹ thuật trồng cây che phủ đất, chống xói mòn, hoặc các phương
thức canh tác luân canh, trồng xen…vẫn đang là những phương pháp thích
hợp, không thể thay thế được ở nhiều nơi trên thế giới (chiếm 5-10% diện
23
tích canh tác ở châu Âu). Công nghệ sản xuất rau thuỷ canh đối với nông
nghiệp đô thị cũng được phát triển phổ biến ở các nước châu Phi và một số
nước châu Á. Công nghệ này sử dụng môi trường dung dịch và nước sạch,
lao động gia đình với kỹ thuật truyền thống để sản xuất các loại rau xanh
cho thu nhập cao, tốn ít không gian, kết hợp với kỹ thuật quản lý sâu bệnh
tổng hợp (IPM), giảm tác hại môi trường. Công nghệ sản xuất hoa tươi hoặc
nuôi trồng sinh vật cảnh không sử dụng nhiều máy móc hiện đại mà đòi hỏi
bàn tay khéo léo, tinh xảo, óc thẩm mỹ tinh tế, kết hợp với công nghệ vi sinh
và sinh học để điều khiển quá trình sinh trưởng và phát triển của hoa và sinh
vật cảnh.
- Bố trí sản xuất của nông nghiệp sinh thái tạo thành một không gian hài
hoà về cảnh quan sinh thái nhằm tôn trọng môi trường và khai thác sản phẩm
văn hoá tinh thần. Nếu vấn đề về sản phẩm sạch được giải quyết chủ yếu bởi
công nghệ và phương pháp sản xuất thì việc tạo ra cảnh quan, môi trường
tươi đẹp, có giá trị văn hoá, tinh thần lớn phải được giải quyết chủ yếu bởi bố
trí sản xuất và phân vùng kinh tế. Hơn thế nữa, bố trí sản xuất còn có thể tác
động đến công nghệ và ảnh hưởng đến mức độ can thiệp của công nghệ vào
sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp sinh thái phản ánh cấu trúc cân bằng của
hệ sinh thái nông nghiệp. Cấu trúc cân bằng này được hình thành cơ bản từ
việc bố trí sản xuất và phân vùng nông nghiệp để tạo ra một cơ cấu hợp lýý
giữa các yếu tố của hệ thống nhằm đạt đến sự cân bằng sinh thái. Duy trì một
cấu trúc cân đối, hài hoà giữa các yếu tố sinh học và vật chất trong hệ thống
tự nó sẽ tạo ra một môi trường trong sạch, hạn chế sự can thiệp của công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status