Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đại học này ngoài sự nỗ lực của
bản thân tôi, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của
các tập thể, các nhân trong và ngoài trường. Trước hết tôi xin chân thành
cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo, giáo viên trường Đại học kinh tế Quốc
Dân Hà Nội và các thầy cô giáo khoa đầu tư kinh tế của trường đã giúp đỡ
tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt cho tôi xin bày tỏ biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy Tiến
sĩ Nguyễn Hồng Minh khoa kinh tế đầu tư đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Thanh Trì, cán bộ phòng kế
hoạch – kinh tế và phát triển nông thôn, phòng thống kê đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Hà Nội, ngày tháng năm 2006
Sinh viên thực tập
Trương Hữu Bản
- 1 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế còn kém phát triển, nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân sản xuất nông nghiệp
luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá - hiện
đại hóa đất nước.
Xuất phát từ vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông thôn trong sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong những năm gần đây và những
năm tiếp theo là “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp gắn với
công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản”. Như vậy tiến tới công nghiệp
theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá” là cần thiết phù hợp với thực tế
hiện nay, nhằm đẩy mạnh chiến lược phát triển kinh tế của Đảng trên địa
bàn huyện Thanh Trì.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng phát triển và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn của huyện Thanh Trì những năm qua, tìm ra những thuận
lợi và khó khăn tác động đến quá trình chuyển dịch; từ đó đưa ra nhưng
giải pháp hữu hiệu và có tính khả thi nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn của huyện Thanh Trì phù hợp với nhu cấu cơ chế
thị trường đến năm 2010.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ
cấu kih tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
- Nghiên cứu thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn huyện Thanh Trì từ khi đổi mới đến nay.
- 3 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
- Phần tích, đánh giá các yếu ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn huyện Thanh Trì để tìm ra giải pháp phát triển tiếp theo của
quá trình chuyển cơ cấu kinh tế này phù hợp với cơ chế quản lý trong tình
hình mới.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện
Thanh Trì, Hà Nội thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm các
ngành kinh tế, các vùng kinh tế và thành phần kinh tế của huyện.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Tại huyện Thanh Trì - Thành phố Hà Nội.
Về thời gian: Số liệu thu thập để nghiên cứu thừ năm 2003 – 2005,
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
xã hội diễn ra trên địa bàn nông thôn bao gồm cả nông nghiệp (nông - lâm
- ngư nghiệp và cả công nghiệp dịch vụ trên địa bàn đó.
* Đặc điểm
Khu vực kinh tế nông thôn tồn tại và phats triển trong mối quan hệ
tổng hợp của nền kinh tế quốc dân.
2.1.1.3. Cơ cấu kinh tế nông thôn
* Khái niệm
Cơ cấu kinh tế nông thôn thực hiện chất là một tổng thể các mối quan
hệ trong khu vực nông thôn, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ
lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất. Chúng có tác
động qua lại nhau trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định,
tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn.
Cơ cấu kinh tế nông thôn là nhân tố quan trọng hàng đầu để phát
triển kinh tế nông thôn một cách bền vững. Nó quyết định khai thác và sử
dụng có hiệu quả nguồn lực góp phần nâng cao thu nhập và nâng cao mức
sống của nhân dân lao động.
* Đặc điểm
Cơ cấu kinh tế nông thôn tồn tại khách quan, luôn thay đổi, thích ứng
với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động trong từng thời
kỳ.
Hiểu đầy đủ khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó xây dựng một
cơ cấu kinh tế đúng đắn hợp lý cho từng vùng tạo điều kiện khai thác tốt
nhất mọi nguồn lực trong sản xuất để phát triển nhanh nền kinh tế trên cơ
sở hiệu quả kinh tế – xã hội cao là đòi hỏi hết sức bức xúc của nhiều quốc
gia hiện nay.
2.1.2. Nội dung cơ cấu kinh tế nông thôn
Nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm: Cơ cấu ngành, cơ
cấu thành phần kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ.
- 6 -
- 7 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
vùng chuyên môn hoá khác, gắn với cơ cấu kinh tế của từng khu vực với cả
nước. Trong từng vùng lãnh thổ cần coi trọng chuyên môn hoá kết hợp với
phát triển tổng hợp và đa dạng.
Theo kinh nghiệm lịch sử để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý,
trước hết cần hướng vào các khu vực có lợi thế so sánh; đó là những khu
vực có điều kiện đất đai, khí hậu tốt, có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi,
là những vùng gần với trục đường giao thông huyết mạch, cửa sông cửa
biển lớn, gần các thành phố và khu công nghiệp lớn sôi động có điều kiện
phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng bên trong và bên ngoài,
có khả năng tiếp cận và hoà nhập nhanh chóng vào các thị trường hàng hoá
và dịch vụ.
Tuy nhiên so với cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trí tuệ
hơn, do đó việc xây dựng các vùng chuyên môn hoá nông – lâm nghiệp cần
được nghiên cứu và xem xét cụ thể, thận trọng, nếu sai lầm sẽ khó khăn
khắc phục và chịu sự tổn thất lớn.
2.1.2.3. Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế là nói lên mối quan hệ giữa các thành phần
kinh tế với các hoạt động kinh tế có mối quan hệ biện chứng tác động qua
lại với nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và cạnh tranh với nhau.
Các thành phần kinh tế bao gồm: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế
tư nhân, kinh tế cá thể, kinh thể hỗn hợp, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Phát triển kinh tế – xã hội ở nhiểu nước trên Thế giới. Các thành
phần kinh tế cùng tồn tại, phát triển hỗn hợp đan xem và tác động qua lại
lẫn nhau. Các nước có nền kinh tế phát triển đều dựa trên cơ sở một cơ cấu
kinh tế đa dạng gồm nhiều thành phần.
Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng
ở nước ta. Trong một thời gian tương đối dài, chúng ta xây dựng chủ nghĩa
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là sự thay đổi tỷ trọng giữa
các ngành kinh tế, trong nội bộ ngành nhưng phải gắn với sự phát triển,
gắn với sự thay đổi về chất của nền kinh tế. Cụ thể chuyển dịch cơ cấu kinh
- 9 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
tế nông thôn là giảm tính thuần nông, giảm tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
trong nông thôn.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn góp phần tạo nên sự phân
công lao động xã hội trong nông thôn, giảm tỷ lệ lao động trong công
nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ trong đó phần lớn
lao động công nghiệp và dịch vụ làm việc tại các vùng nông thôn.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn liền với chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tiền đề quan trọng cho chuyển
dịch cơ cấu cây trồng theo hướng bình ổn lương thực, thâm canh tăng vụ,
phát huy thế mạnh của vùng nhiệt đới. Trong ngành chăn nuôi thì đưa chăn
nuôi lên làm ngành chính kết hợp với phát triển nuôi tròng thuỷ sản làm
cho kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng lên.
2.1.3.2. Những chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Tỷ lệ giá trị sản xuất của ngành trong tổng giá trị sản xuất của địa
phương hay của cả nước.
Tỷ lệ (%) giá trị tăng của ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
trong tổng sản phẩm quốc nội(GDP).
Trên đây là những chỉ tiêu chính để xem xét cơ cấu của các ngành
chủ thể, ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu bổ sung.
Cơ cấu lao động của ngành trong tổng số lao động.
Cơ cấu giá trị vốn đầu tư.
Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá.
Cơ cấu giá trị sản phẩm theo ngành sản xuất.
Trong nông nghiệp
việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế. Vì mọi hoạt động kinh tế của con
người luôn phải đặt lợi ích kinh tế lên trên, đó là động lực của sự phát
triển.
Vấn đề về nguồn dân số và lao động, các phong tục tập quán và
truyền thống của mỗi vùng là nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất ở
nông thôn.
- 11 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
ở những vùng đất chật người lao động du thừa và có tay nghề, nghề
truyền thống, thì mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn liền
với giải quyết công ăn việc làm, sử dụng tay nghề cử người lao động trong
điều kiện nền kinh tế mở cửa, vấn đề kinh tế đối ngoại và hợp tác phân công
lao động quốc tế cũng tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
* Nhóm các yếu tố phi kinh tế:
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nông nghiệp
nói riêng không chỉ anh hưởng bởi các nhân tố kinh tế mà còn ảnh hưởng
tới các nhân tố phi kinh tế như: Mô hình kinh tế – xã hội, phong tục tập
quán, cộng đồng dân cư, trình độ dân trí, khả năng tiếp nhận khoa học công
nghệ mới, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ, cơ sở hạ tầng, vốn đầu tư,
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng các chính
sách kinh tế và các công cụ khác để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô.
Chính sách kinh tế là hệ thống các biện pháp kinh tế được thể hiện bằng
các văn bản quy định tác động cùng chiều vào nền kinh tế nhằm thực hiện
các mục tiêu đã định. Các cính sách viư mô thể hiện sự can thiệp của Nhà
nước vào nền kinh tế thị trường để các quy luật của thị trường phát huy
những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, nhằm mục
đích tạo điều kiện, cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với vận tốc
cao và ổn định. Ngoài ra các nguồn vốn đầu tư, trình độ của con người lao
động, quản lý cũng ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2.1.4.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong quá trình mở rộng qui
mô của nền kinh tế, do tốc độ tăng trưởng của các bộ phận cấu thành nền
kinh tế không giống nhau, dẫn đến mối quan hệ về số lượng và chất lượng
giữa chúng thay đổi, tức là cơ cấu kinh tế thay đổi. Sự biến đổi của cơ cấu
kinh tế là một quá trình thường xuyên liên tục và thường diễn ra với tốc độ
tương đối chậm chạp theo thời gian. Đó là quá trình chuyển biến từ trạng
thái mới dưới tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan trọng
những điều kiện lịch sử nhất định. Các nhà kinh tế gọi đó là quá trình
- 13 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nhấn mạnh rằng quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế gắn liền với công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá -
hiện đại hoá bỏ dần tính thuần nông, phát triển công nghiệp và dịch vụ đặc
biệt là công nghiệp chế biến nông – lâm – ngư nghiệp phục vụ xuất khẩu.
Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như; giao thông, điện, thông tiên
liên lạc, các công trình văn hoá, giáo dục làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
Thúc đẩy việc xây dựng doanh nghiệp nhỏ ở các vùng nông thôn tạo việc
làm cho người lao động nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá -
hiện đại hoá cần phải đẩy nhanh việc thực hiện thủy lợi hoá, điện khí hoá,
cơ giới hoá, sinh học hoá, phát triển công nghiệp chế biến, phát triển các
ngành nghề truyền thống, các loại dịch vụ sản xuất và đời sống, từng bước
hình thành nông thôn mới văn minh hiện đại.
Tóm lại, mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá là: Giải quyết việc làm cho người lao
động dư thừa ở nông thôn, nâng cao thu nhập và mức sống cho dân cư nông
thôn. Đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn, đa dạng hoá ngành nghề lao động
máy móc cho nông nghiệp, cung cấp hàng tiêu dùng…
Thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp ở Nhật Bản
gồm nhiều mặt. ứng dụng các thành tựu khoa học tiến bộ về vật tư nông
nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi tốt, phân bón hoá học, thuốc trừ sâu
bệnh. Công nghệ sản xuất nông nghiệp tiến bộ như: thủy lợi hoá, hoá học
hoá, đặc biệt là công nghệ cơ giới hoá nông nghiệp. Nhờ vậy mà số lượng
máy nông nghiệp ở Nhật Bản tăng nhanh.
Cho đến đầu những năm 90 Nhật Bản thực hiện cơ giới hoá làm đất
đạt 98-100%, tưới tiêu nước 100%, phu thuốc trừ sâu 100%, cấy lúa 90%,
gặt đập lúa 99%, sấy thóc 98%. Tạo điều kiện để chi phí lao động làm 1 ha
lúa của Nhật Bản giảm từ 2.050 giờ công (năm 1950) xuống còn 396 giờ
công (năm 1994). Chi phí sản xuất một tạ thóc giảm từ 60 giờ công xuống
còn 8 giờ công. So với năm 1950, tỷ trọng lao động nông nghiệp năm 1990
tăng 30 lần so với năm 1960, trong khi chi phí lao động giảm nhiều lần.
2.2.1.2. Đài Loan.
- 15 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
Cũng như Nhật Bản, Đài Loan tiến hành công nghiệp hoá rất sớm, từ
những năm 50, trong điều kiện đất chật người đông, kinh tế bị chiến tranh
tàn phá, họ chỉ có lợi thế về lao động và đất đai. Nhưng Đài Loan đã lựa
chọn mô hình công nghiệp hoá không tập trung ở đô thị phân tán cả ở đô
thị và nông thôn. Bắt đầu từ nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ giữa nông
nghiệp và công nghiệp trong từng thời kỳ, đồng thời phát triển cả công
nghiệp đô thị và công nghiệp nông thôn.
Đài Loan chú trọng phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ phân tác ở
nông thôn. Nhờ công nghiệp phân tác ở nông thôn đã thu hút được lao động
dư thừa, nhiều hộ nông dân từ thuần nông chuyển thành vừa làm nông
nghiệp vừa làm dịch vụ, công nghiệp.
Thu nhập của các hộ nông dân ngày càng tăng chủ yếu do nguồn thu
nhập ngoài nông nghiệp (năm 1952 thu nhập ngoài nông nghiệp là 13%,
trình kế hoạch dài hạn và ngắn hạn để phát triển nông nghiệp theo hai
hướng: Xây dựng các xí nghiệp công nghiệp quy mô nhỏ phân tán ở nông
thôn và di chuyển một số xí nghiệp công nghiệp từ thành phố lớn như Seul
và Pusan về các vùng nông thôn.
Thông qua các chương trình phát triển ngành nghề ngoài nông nghiệp
của các hộ nông dân, chương trình phát triển các ngành nghề thủ công
truyền thống, chương trình phát triển các xí nghiệp, phong trào cộng đồng
mới ở nông thôn đã tạo thêm nhiều việc làm cho nông dân sử dụng lao
động thủ công, công nghệ đơn giản, sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở
địa phương sản xuất quy mô nhỏ bé.
Công nghiệp hoá sản xuất nông nghiệp được triển khai như ứng
dụng thành tựu công nghiệp vào nông nghiệp và phát triển công nghiệp để
chế tạo máy móc công nghiệp ở trong nước. Chính phủ có chính sách hỗ
trợ nông dân cơ giới hoá nông nghiệp, cho vay 60% và trợ cấp 40% tiền
mua máy. Tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp phát triển nhanh chóng, nhờ vậy
tính đến năm 1994 Hàn Quốc đã cơ giới hoá hầu hết các khâu sản xuất lúa
như: tưới nước 100%, làm đất 96%, cấy lúa 93%, phun thuốc trừ sâu 94%,
thu hoạch 91%, sấy hạt 26%.
- 17 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
Sản xuất nông nghiệp Hàn Quốc từ năm 90 có xu hướng chuyển sang
công nghệ nông nghiệp kỹ thuật cao, sản xuất trong nhà kính với thiết bị
điện tử tự động hoá.
Trong quá trình công nghiệp hoá, cơ sở hạ tầng nông thôn được chú
trọng phát triển theo hướng đô thị hoá. Ngay từ những năm 80 đã có 90%
số hộ dân có điện dùng so với thành phố lúc đó là 95%. Trong 1.000 hộ đã
có 972 ti vi, 600 ôtô con, 337 điện thoại. Chi phí lao động cho 1 ha lúa
giảm từ 1.240 giờ công năm 1965 xuống gần 600 giờ công năm 1994. Tỷ
trọng lao động nông nghiệp trong xã hội giảm từ 55% năm 1965 xuống
11,6% năm 1994. Thu nhập hộ nông dân tăng từ 1.122.600Won/hộ năm
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam.
2.2.2.1. Sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Nông thôn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội của cả nước. Theo kết quả điều tra năm 2003, dân số trung bình ở
nông thôn chiếm 78,6% dân số cả nước, lao động nông nghiệp chiếm hơn
70% lao động xã hội mà chủ yếu ở nông thôn. Nông thôn là thị trường rộng
lớn và rất quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Phát triển kinh tế – xã hội nông thôn từ nay đến năm 2010 là nhằm
giải phóng sức sản xuất của nông dân, phát triển nông nghiệp và xây dựng
nông thôn xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm của các nước đạt được tốc độ
tăng trưởng nhanh trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đều rất
coi trọng phát triển nông thôn toàn diện, thực chất là công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông thôn. Trong nông thôn nước ta hiện nay chỉ có sản xuất
nông nghiệp và đang vận động theo xu thế phi thuần nông bằng nhiều cách:
Khôi phục nghề truyền thống, mở mang nghề mới tạo các điều kiện mới để nông
dân “lý nông mà không ly hương” từng bước đô thị hoá nông thôn. Vì vậy vấn
đề đặt ra là sớm xác định hướng đi cho công nghiệp hoá nông thôn. Vì vậy
vấn đề đặt ra là sớm cung cấp thông tin, bảo vệ môi trường ở nông thôn.
2.2.2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam.
- 19 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
Trong những năm qua, mặc dù cơ cấu giữa nông nghiệp và phi nông
nghiệp có bước chuyển biến theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỉ
trọng ngành nghề, dịch vụ phi nông nghiệp nhưng nhìn chung còn chậm và
không đều. Nguyên nhân của tình trạng này thì có nhiều, song căn bản hơn
cả là thiếu thị trường và chưa có đủ các điều kiện vật chất cần thiết thúc
đẩy quá trình chuyển dịch. Tình trạng thiếu vốn, lạc hậu về kỹ thuật và
công nghệ là phổ biến. Công nghiệp nông thôn nước ta nói chung còn ở
kinh tế – xã hội nông thôn, Nghị quyết 7/TW (khoá VII), Nghị quyết Đại hội
Đảng giữa nhiệm kỳ khoá VII và Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định phát
triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
và đại hội IX của Đảng đề ra mục tiêu chiến lược và quan điểm phát triển, đặc
biệt coi trọng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn với một cơ
cấu kinh tế tối ưu theo yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Việc quán triệt các quan điểm của Đảng trong phát triển và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và việc nắm
vững các nội dung cơ bản trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả. Tăng nhanh năng suất
sản lượng cây trồng, vật nuôi, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ
mới vào quá trình sản xuất để tạo ra một giá trị sản lượng lớn và hiệu quả
kinh tế cao. Quá trình đô thị hoá và phát triển các thành phố đòi hỏi các
huyện ngoại thành phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thật vậy, quá trình đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp trên
địa bàn làm giảm các điều kiện sản xuất nông nghiệp, tăng khả năng và
điều kiện phát triển các khu công nghiệp và dịch vụ. Điều đó đòi hỏi cơ cấu
kinh tế nông thôn phải thay đổi để thích ứng với điều kiện mới.
2.2.2.2.1. Cơ cấu kinh tế chung.
Khi xét cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp trước hết phải xét đến
cơ cấu kinh tế nông thôn về mặt tổng thể trong mối quan hệ giữa nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Vì cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp là một
nội dung quan trọng của cơ cấu kinh tế nông thôn và nó chỉ có thể biến đổi
trong mối quan hệ tất yếu của công nghiệp và dịch vụ nông thôn.
Cơ cấu giá trị sản lượng.
- 21 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê bình quân từ năm
2003-2005 tỷ trọng nông nghiệp (gồm nông, lâm, ngư nghiệp) giảm dần từ
24,53% - 23,24% - 22,99%. Tỷ trọng công nghiệp tăng nhanh từ 38,73% -
dài ngày tăng 19,5% năm 2001 lên 23,8% năm 2003.
Về cơ cấu giá trị sản lượng các cây trồng cho thấy cây lương thực
luôn chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng giảm từ 58% năm 2003 xuống
52,2% năm 2005. Một số cây trồng có giá trị kinh tế cao như cây công
nghiệp, cây ăn quả có xu hướng tăng dần (đậu tăng 9%, đỗ tương tăng
9,2%, bông tăng 18,8%, cói tăng 12%, hồ tiêu tăng 56%, điều tăng 28,7%
…).
* Cơ cấu chăn nuôi.
Chăn nuôi đã có bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, tốc
độ tăng trưởng ngành chăn nuôi năm 2005 đạt 8,3% so với 3,2% của ngành
trồng trọt.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ
trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt.
Tóm lại, trong thời gian qua về cơ bản cơ cấu kinh tế nông thôn có
xu hướng chuyển dịch theo hướng tích cực, ngành nông nghiệp có tỷ trọng
giảm dần, công nghiệp và dịch vụ có tỷ trọng tăng. Tuy nhiên đây chỉ là
những thành quả bước đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước đòi hỏi cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, coi đó là nhiệm vụ chiến lược
hàng đầu.
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- 23 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
3.1. ĐẶC ĐIỂM
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.
3.1.1.1. Vị trí địa lý.
Huyện Thanh Trì được thành lập ngày 31 thán 05 năm 1961, qua
nhiều lần thay đổi địa giới hành chính Thanh Trì ngày nay là một huyện
C, ngày nóng nhất là 42,8
0
C. Độ ẩm
trung bình hàng năm 85%. Lượng mưa hàng năm thường 1700 đến
2000mm, trung bình có 143 ngày mưa, trong năm tập trung từ tháng 3 đến
tháng 9 với 1420 ly bằng 79% lượng mưa cả năm. Năm mưa nhiều, mưa
dồi dập vào tháng 7,8,9 theo quy luật gây ngập úng cho đầu vụ lúa mùa.
- 24 -
Luận văn tốt nghiệp Đại học Trương Hữu Bản
3.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội.
3.1.2.1. Đất đai.
Đất đai chủ yếu được kiến tạo trên đất phù sa sản xuất, có 80% là đất
thịt, còn lại là cát phù sa sông Hồng bồi đắp hàng năm.
Về độ dày của đất trên 1m, độ dốc dưới 15
0
6’ và không bị nhiễm mặn
đều đạt 100% diện tích đất canh tác. Có 486 ha chiếm 11% đất canh tác
thuộc đất có độ phì nhiêu trung bình số còn lại thuộc loại đất tốt. Chân đất
thịt nặng hay sét có 2021 ha chiếm 46,2%.
Qua biểu 1 cho thấy toàn huyện Thanh Trì có tổng diện tích đất tự
nhiên là 9.828ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm đa số với 6.074
ha chiếm 61,8% năm 2005. Tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp có xu
hướng giảm dần qua các năm từ 6.650 ha chiếm 67,7% năm 2003 xuống
còn 6.074 ha chiếm 61,8% năm 2005. Trong diện tích đất nông nghiệp thì
diện tích đất canh tác là chủ yếu với 4.939 ha chiếm 81,36% năm 2005.
Đối với diện tích trồng màu và cây công nghiệp, đất chuyên rau và
một số cây hàng năm giảm dần theo từng năm từ năm 2003 đến năm 2005.
Trong khi đó diện tích trồng hoa, cây cảnh tăng từ 28 ha năm 2004 lên 32
ha năm 2005. Mặt khác đất nuôi trồng thuỷ sản cũng có xu hướng tăng từ
1.070 ha chiếm 10,9% năm 2003 lên 1.109 ha chiếm 11,3%.