Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Vùng ĐBSH là vùng có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã
hội như: Thủ đô Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng đã hình thành trung tâm
đầu não chính trị của nhà nước, cơ quan điều hành của các Tổ chức kinh
tế lớn và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và triển khai của quốc gia. Có thể
nói vùng ĐBSH có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã
hội nhất cả nước. Tuy nhiên thực tế cho thấy tình hình kinh tế - xã hội
của vùng lại thua xa vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên do năng lực cũng
như trình độ lý luận của bản thân còn thấp nên em chỉ nghiên cứu và
phân tích tình hình kinh tế của vùng ĐBSH nhằm đưa ra giải pháp để
phát triển kinh tế của vùng.
Xuất phát từ thực tế nêu trên nên khi đi thực tập tốt nghiệp em đã
chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh
tế vùng Đồng Bằng Sông Hồng”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI
- Đánh giá thực trạng kinh tế vùng ĐBSH
- Đưa ra được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế vùng
Đồng bằng sông Hồng
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
∗
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này nghiên cứu các vấn đề tiềm năng, hạn chế, đánh giá thực
trạng kinh tế của vùng Đồng bằng sông Hồng
∗
phân tích tốc độ tăng trưởng.
4.4. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh (so sánh theo thời gian, giữa các ngành kinh tế…)
để xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực
hiện nghiên cứu giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
2
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
đúng đắn cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách
quan, phản ánh đúng nội dung cần nghiên cứu.
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
3
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
4. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, đề tài nghiên cứu được chia
thành 3 chương:
-Chương I: Lý luận chung về phát triển kinh tế
-Chương II: Thực trạng kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng
-Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế vùng
Đồng bằng sông Hồng
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
4
- Trình độ phát triển kinh tế xã hội và sự sinh lợi của lãnh thổ ảnh
hưởng lớn tới kích thước của vùng.
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
5
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
Tóm lại: Vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ giữa các bộ
phận hợp thành với các dạng liên hệ địa lý, kinh tế, xã hội,…bên trong cũng
như bên ngoài hệ thống.
1.2. Vùng kinh tế
Vùng kinh tế là một thực thể tồn tại khách quan, sự phát triển lực lượng
sản xuất quyết định nội dung, trình độ và mức độ phát triển vùng. Các vùng
kinh tế hình thành do kết quả của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, tồn
tại và phát triển một cách khách quan.
Xét về góc độ bản chất của vung kinh tế thì “Vùng kinh tế là một bộ
phận lãnh thổ nguyên vẹn của nền kinh tế quốc dân, có những dấu hiệu sau:
chuyên môn hóa những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản,tính tổng hợp: được
hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành
quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của vùng, coi vùng như
là hệ thống toàn vẹn, một đơn vị có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ nền
kinh tế quốc dân”
Cơ sở hình thành và phát triển vùng là các yếu tố tạo vùng, trong đó yếu
tố tiền đề là phân công lao động lãnh thổ. Sự phân công lao động theo ngành đã
kéo theo quá trình phân công lao đông theo lãnh thổ. Từ chỗ mỗi vùng đều sản
xuất nhiều loại sản phẩm để tự túc, tự cấp đến chỗ mỗi vùng chỉ sản xuất một
hay một số loại sản phẩm nhất định để trao đổi với vùng khác. Yếu tố phân
công lao động xã hội theo lãnh thổ là yếu tố lý giải quá trình tạo vùng dưới góc
số lượng của tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở qui mô, tốc độ của tăng trưởng.
Còn mặt chất lượng của tăng trưởng kinh tế là tính qui định vốn có của nó, là sự
thống nhất hữu cơ làm cho hiện tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện
tượng khác. Chất lượng tăng trưởng được qui định bởi các yếu tố cấu thành và
phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên tăng trưởng kinh tế.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới, Chương trình phát triển của Liên hợp
quốc và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây như
G.Becker, R.Lucas, Amrtya Sen, J.Stiglitz, thì cùng với quá trình tăng trưởng,
chất lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau đây:
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
7
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
- Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn và tránh
được những biến động từ bên ngoài.
- Thứ hai, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, được thể hiện ở sự đóng
góp của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng.
- Thứ ba, tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
- Thứ tư, tăng trưởng đi kèm theo với phát triển môi trường bền vững.
- Thứ năm, tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến
lượt nó thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn.
- Thứ sáu, tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội
và giảm được đói nghèo.
Như vậy, khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng, cần phải xem xét một
cách đầy đủ hai mặt của hiện tượng tăng trưởng kinh tế là số lượng và chất
có ích và hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội. Số công nhân “hữu ích
và hiệu quả” cũng như năng suất của họ phụ thuộc vào lượng tư bản tích luỹ.
Adam Smith coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế.
Nếu Adam Smith được coi là người sáng lập ra Kinh tế học thì David
Ricardo (1772-1823) được coi là tác giả cổ điển xuất sắc nhất. Ông kế thừa các
tư tưởng của Adam Smith, và chịu ảnh hưởng tư tưởng về dân số học của T.R
Malthus (1776-1834). Những quan điểm cơ bản của David Ricardo về tăng
trưởng kinh tế được thể hiện như sau: Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng
nhất, các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn,
trong từng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định, các yếu tố
này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ cố định, không thay đổi.
David Ricardo cho rằng trong nông nghiệp, năng suất cận biên của đất
đai, tư bản, lao động đều giảm dần. Theo Ricardo, bất cứ biện pháp nào có thể
thúc đẩy việc nâng cao năng suất cận biên như: cải tạo nông nghiệp, áp dụng
máy móc, nhập ngũ cốc giá rẻ, giảm thuế và chi tiêu công cộng, đều làm tăng
lợi nhuận, từ đó tăng tỷ lệ hình thành tư bản, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy
xuất phát từ góc độ phân phối thu nhập để nghiên cứu tăng trưởng kinh tế,
nhưng ông vẫn đặc biệt nhấn mạnh tích luỹ tư bản là nhân tố chủ yếu quyết
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
9
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
định sự tăng trưởng kinh tế còn các chính sách của Chính phủ không có tác
động quan trọng tới hoạt động của nền kinh tế.
Quan điểm của K.Marx về tăng trưởng kinh tế:
K.Marx (1818-1883) không những là một nhà xã hội, chính trị học, lịch
sử và triết học xuất chúng mà còn là một nhà kinh tế học xuất sắc. Theo Marx
điển, đứng đầu là Alfred Marshall (1842-1924), tác phẩm chính của ông là
“Các nguyên lý của kinh tế học”, xuất bản năm 1890, do đó thời điểm này
được coi như mốc đánh dấu sự ra đời của trường phái tân cổ điển.
Các nhà kinh tế tân cổ điển bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuất
trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và
vốn, họ cho rằng vốn và lao động có thể thay thế cho nhau, và trong quá trình
sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố đầu vào. Đồng thời họ
cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển
kinh tế. Do chú trọng đến các nhân tố đầu vào của sản xuất, lý thuyết tân cổ
điển còn được gọi là lý thuyết trọng cung.
Điểm giống với các nhà kinh tế cổ điển, các nhà kinh tế tân cổ điển cho
rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự
linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí
sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động. Họ cũng cho rằng
Chính phủ không có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế.
Quan điểm của Keynes về tăng trưởng kinh tế:
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp
đã diễn ra thường xuyên, nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
1929-1933 đã chứng tỏ rằng học thuyết “Tự điều tiết” nền kinh tế của các
trường phái cổ điển và tân cổ điển là thiếu xác thực, lý thuyết về “Bàn tay vô
hình” của A.Smith tỏ ra kém hiệu quả. Điều này đòi hỏi các nhà kinh tế phải
đưa ra các học thuyết mới phù hợp hơn. Năm 1936, sự ra đời của tác phẩm “Lý
thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của John Maynard Keynes (1883-
1946) đánh dấu sự ra đời của học thuyết kinh tế mới.
Keynes cho rằng có hai đường tổng cung: đường tổng cung dài hạn AS-
LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng, và đường tổng cung ngắn hạn AS-SR
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
11
Báo cáo thực tập
12
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
tưởng cơ bản của học thuyết này được trình bày trong tác phẩm “Kinh tế học”
của P.Samuelson xuất bản năm 1948.
Kinh tế học hiện đại quan niệm về sự cân bằng kinh tế theo mô hình của
Keynes, nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế thường dưới mức tiềm năng,
trong điều kiện hoạt động bình thường của nền kinh tế vẫn có lạm phát và thất
nghiệp. Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có
thể chấp nhận được. Sự cân bằng này của nền kinh tế được xác định tại giao
điểm của tổng cung và tổng cầu.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với cách xác định của
mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất. Họ cho rằng
tổng mức cung (Y) của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của
sản xuất: lao động (L), vốn sản xuất (K), tài nguyên thiên nhiên được sử dụng
(R), khoa học công nghệ (A). Nói cách khác hàm sản xuất có dạng:
Y= F (L,K,R,A ) (1.1)
Lý thuyết trên chọn hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas để thể hiện tác động của
các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế:
(1.2)
(1.3)
Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng GDP
k, l, r là tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào.
a là phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ.
Để tăng trưởng sản xuất, các nhà sản xuất có thể lựa chọn công nghệ sử
dụng nhiều vốn, hoặc công nghệ sử dụng nhiều lao động. Samuelson cho rằng
một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là “kỹ thuật công
Mặt khác vai trò của Chính phủ ngày càng được coi trọng. Việc mở rộng
kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, không chỉ vì thị
trường có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà thị trường dù
có hoạt động tốt cũng không thể đáp ứng được. Theo Samuelson, trong nền
kinh tế hiện đại, Chính phủ có bốn chức năng cơ bản: thiết lập khuôn khổ pháp
luật; xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; tác động vào việc phân bổ tài
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
14
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế; thiết lập các chương trình tác động tới
việc phân phối thu nhập.
Quan điểm về nền kinh tế tri thức và tăng trưởng kinh tế:
Định nghĩa và đặc trưng của nền kinh tế tri thức cho đến thời điểm này
vẫn chưa có ý kiến thống nhất. Theo OECD và APEC (2000), nền kinh tế tri
thức được định nghĩa như sau : Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản
sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng
trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.
Theo giáo sư Đặng Hữu (2004), nền kinh tế tri thức có 10 đặc trưng chủ
yếu sau:
- Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Theo ông trong 15 năm qua các ngành
kinh tế dựa vào tri thức đang phát triển nhanh; các ý tưởng đổi mới và công
nghệ là chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc
sống.
- Sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên
tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tương lai. Các ngành kinh tế tri thức
đều phải dựa vào công nghệ mới để phát triển.
kết chặt chẽ các cơ quan nghiên cứu, trường đại học, các doanh nghiệp và các
tổ chức xã hội nhằm tăng cường khả năng nghiên cứu, áp dụng nhanh tri thức
tạo ra các công nghệ mới.
1.3.2. Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với
khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự
gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP,
GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc
bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu
sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước
hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại
hóa và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ
phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế,
tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
16
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển
kinh tế – xã hội.
Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã
đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên
vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng
mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh
thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và
toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải
nước công nghiệp hiện đại có thể có những bài học quan trọng cho các nước
đang phát triển, dẫn đến việc hình thành các lý thuyết giai đoạn của Rostow.
Theo Rostow, việc chuyển đổi từ kém phát triển đến phát triển có thể được
nhận thấy trong hàng loạt các bước hay giai đoạn thông qua đó tất cả các nước
phải đi đến. Ông miêu tả ba giai đoạn này là:
- Xã hội truyền thống: Giai đoạn này là giai đoạn đầu tiên của sự phát
triển, như các xã hội săn bắn và hái lượm của Adam Smith hay các xã hội
phong kiến của Marx.
- Giai đoạn chuẩn bị cho sự cất cánh: Đây là giai đoạn bắt đầu có sự tiết
kiệm. Một hay hai lĩnh vực sản xuất hàng hoá quan trọng với tiềm năng phát
triển lớn được chú ý đến và đầu tư trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng
được thực hiện.
- Giai đoạn cất cánh: Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng nhất trong 5
giai đoạn của mô hình Rostow. Lĩnh vực này có thể được nhận biết nhờ 3 đặc
điểm chính, đó là:
Một sự gia tăng trong tỷ lệ đầu tư sản xuất từ 5% hay thấp hơn, trở
thành 10% hay nhiều hơn thu nhập quốc dân.
Sự phát triển của một hay hai lĩnh vực sản xuất quan trọng hơn với một
tỷ lệ tăng trưởng cao.
Sự tồn tại hay xuất hiện nhanh chóng của các khuôn khổ về thể chế, xã
hội và chính trị làm nẩy sinh các động lực cho sự mở rộng khu vực hiện đại.
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
18
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
- Hướng tới giai đoạn trưởng thành: Đây là giai đoạn khi mà tất cả các
cản trở đối với giai đoạn cất cánh không còn và xã hội đã tự đi vào con đường
đến nhu cầu của một sự thay đổi về cơ cấu trong xã hội. Các mô hình này
không mâu thuẫn với ý tưởng của mô hình các giai đoạn nhưng chúng triển
khai các mô hình chức năng phức tạp để chỉ ra các thay đổi về cơ cấu trong xã
hội có thể đưa nền kinh tế hướng tới con đường phát triển bền vững như thế
nào. Với tiêu đề này chúng ta sẽ chỉ tìm hiểu mô hình của Arthur Lewis. Mô
hình này có tên: "Phát triển kinh tế với các nguồn cung lao động vô hạn"
Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế: Khi lý thuyết phát triển hiện thời
không mang lại bất cứ thay đổi nào trong cuộc sống của người dân ở các nước
đang phát triển, thì sự bất bình gia tăng giữa các nhà kinh tế ở các nước đang
phát triển đã dẫn đến sự xuất hiện của các lý thuyết phát triển khác. Các lý
thuyết này trở nên phổ biến đối với các nhà kinh tế ở các nước đang phát triển
trong những năm 1970, dần được biết đến như “Cuộc cách mạng Phụ thuộc-
Quốc tế”. Ý tưởng cơ bản đằng sau Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế là các
nước thế giới thứ ba bị dàn xếp trong một mối quan hệ phụ thuộc và thống trị
với các nước giàu, và các nước giàu vô tình hay cố ý góp phần vào việc duy trì
quan hệ này và hiện trạng đó được duy trì. Các ý tưởng đã triển khai dưới tiêu
đề mở rộng của Cuộc cách mạng Phụ thuộc-Quốc tế (được biết đến rộng rãi
hơn là các lý thuyết phụ thuộc), có thể được phân thành 3 nhóm nhỏ sau đây:
Mô hình phát triển tân thực dân (Neocolonial Dependence Model):
Đây là một ảnh hưởng gián tiếp của tư duy chủ nghĩa Mác. Những người
tin vào lý thuyết này cấp tiến nhiều hơn là những người theo hai nhóm nhỏ kia.
Theo lý thuyết này, sự kém phát triển của các nước thế giới thứ ba được coi là
kết quả của hệ thống chủ nghĩa tư bản quốc tế bất công cao hay các mối quan
hệ giữa nước giàu-nước nghèo. Các nước giàu thông qua các chính sách vô tình
hay cố ý bóc lột đã làm tổn thương đến các nước đang phát triển. Các nước
giàu và một giai cấp thống trị chóp bu ở các nước đang phát triển, những người
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
20
Báo cáo thực tập
thuyết "an phận". Nghĩa là trong đời sống, có người giàu thì có người nghèo, có
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
21
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
người tốt thì có người xấu, cho nên có nước giàu thì phải có nước nghèo.
Nhưng lý thuyết "an phận" này vi phạm ngụy biện "trắng đen". Thế giới này
đâu chỉ đơn giản giữa giàu nghèo, tốt xấu, siêu cường và tiểu cường.)
1.3.3. Phát triển bền vững
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo
cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và
Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa
“là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây
trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển
bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định
“phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và
hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là tăng
trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (mục
tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường;
phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng
trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp
lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất
Về phía Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã luôn nhận
thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững không chỉ riêng với
Việt Nam mà còn có liên đới trách nhiệm với sự phát triển bền vững chung của
toàn cầu. Chính phủ ta đã cử nhiều đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói trên
và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực hiện
“Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-
2000″ (Quyết định số 187-CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá
trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã được
khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ
Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
23
Báo cáo thực tập
Khoa: Kinh tế
dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm
phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa”. Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện
của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam
và trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 là: “Phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ
và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi
trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Gần đây, Đại hội X (2006) của
Đảng cũng đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn phát triển hơn 20
năm đổi mới vừa qua và đó cũng là tư tưởng chỉ đạo về phát triển kinh tế – xã
gắn với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, với thủ đô Hà
Nội và các tỉnh thành phố quan trọng như Hải Phòng, Quảng Ninh đã hình
thành trung tâm đầu não chính trị của nhà nước, cơ quan điều hành của các Tổ
chức kinh tế lớn và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và triển khai của quốc gia.
Vì thế, có thể khẳng định rằng: Vùng ĐBSH đã, đang và sẽ giữ vị trí, vai trò
đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của Tổ quốc.
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
cùng với sự phát triển của đất nước, các tỉnh vùng ĐBSH, trong đó có Thủ đô
Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã có bước phát triển nhanh, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện, đời sống nhân dân được nâng lên,
quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Để đẩy mạnh
hơn nữa phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH tạo động lực cho phát triển
kinh tế - xã hội của cả nước, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần
của nhân dân, ngày 14 tháng 9 năm 2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 54-
NQ/TW Về phát triển kinh tế- xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng
ĐBSH đến năm 2020. phần tổ chức thực hiện của nghị quyết có nhấn mạnh
đến việc tập trung chỉ đạo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương
trình, dự án, các chính sách cụ thể nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà
nghị quyết đề ra.
SVTH : Vũ Thị Hoài Trang Lớp: K3KTĐT
25