Lao động dư thừa trong nông thôn vùng Đồng Bằng Sông Hồng - Thực trạng và giải pháp - Pdf 12

Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
LỜI MỞ ĐẦU
Nông nghiệp nông thôn là khu vực sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống con
người, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người với sản phẩm chủ yếu là lương thực
thực phẩm – vừa là sản phẩm tự nhiên ( do cây trồng, vật nuôi có những quy luật sinh
trưởng, phát triển không phụ thuộc con người ) vừa là sản phẩm của xã hội – sản
phẩm của người lao động nông nghiệp.
Vai trò của sản xuất nông nghiệp là rất lớn và tất nhiên vai trò của lao động
nông nghiệp cũng rất lớn, tuy nhiên , sản xuất nông nghiệp của nước ta còn rất lạc
hậu, manh mún. Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, thu nhập của lao động
nông nghiệp thấp. Xuất hiện lao động dư thừa trong nông nghiệp, nông thôn. Đây là
biểu hiện tiêu cực của nền nông nghiệp nước ta.
Vậy làm sao để giải quyết tình trạng này, làm sao để số lao động dư thừa này
có công ăn việc làm. Đây là vấn đề mà nhà nước và xã hội phải quan tâm để có
những biện pháp khắc phục tạo việc làm cho lao động dư thừa nông nghiệp nông
thôn.
Đồng bằng sông Hồng là khu vực có dân số đông, tốc độ tăng của lực lượng
lao động hàng năm cao, tỉ lệ đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và ngày càng
có xu hướng giảm sút do tác động mạnh của đô thị hóa. Tất cả các lý do trên làm cho
lao động dư thừa trong nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSH ngày càng cao.
Cùng với mối quan tâm chung của xã hội, tôi thực hiện đề tài: "Lao động dư
thừa trong nông thôn vùng Đồng Bằng Sông Hồng - Thực trạng và giải pháp".
Trong quá trình thực hiện, tôi đã được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lê Huy
Đức cùng các bác, anh chị trong viện Khoa học, Lao động và Xã hội. Nhân đây tôi
muốn gửi lời cảm ơn tới thầy cùng các bác, anh chị.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Hệ thống hóa và phân tích các vấn đề lý luận về lao đông, lao động nông
thôn và vị trí, vai trò của nó làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về
dư thừa lao động nông nghiệp nông thôn ở ĐBSH.
Lớp KTPT 47A-QN
1

luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ
tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước, thậm chí
khác nhau ở giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc trình độ phát triển của nền
kinh tế. Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15
tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 64 tuổi…). Trị số tối đa
về tuổi là trùng với tuổi về hưu. Ví dụ, ở Ôxtraylia không quy định tuổi về hưu và
cũng không có giới hạn tuổi tối đa. Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao động
(2002), độ tuổi lao động đối với nam là từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi đến
55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và
chất lượng.
Theo khái niệm trên, nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm:
- Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
- Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất
nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc
và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi
quy định).
Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ
chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động.
1.2. Lực lượng lao động.
Lớp KTPT 47A-QN
3
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO –
International Labour Organization) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Theo
quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: Lực lượng lao động là bộ
phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao
động theo quan niệm trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế (tích cực) và nó
phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động xã hội.

tuổi lao động và là bộ phận quan trọng nhất.
Hai là, nguồn lao động phụ: đây là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao
động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt là ở các nước kém
phát triển.
Ba là, nguồn lao động bổ sung: là bộ phận nguồn lao động được bổ sung từ
các nguồn khác( số người hết hạn nghĩa vụ quân sự, số người trong độ tuổi lao động
thôi học ra trường,…).
2. Vị trí của lao động nông thôn.
Nước ta, nông thôn là khu vực rộng lớn, trong đó chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp (SXNN). Hoạt động SXNN được tham gia bởi rất nhiều người ở các lứa tuổi
khác nhau thậm chí có cả những người ngoài tuổi lao động. Lao động nông nghiệp
nông thôn (LĐNNNT) là những người trong độ tuổi lao động từ 16 tuổi đến 60 tuổi
đối với nam và từ 16 tuổi đến 55 tuổi dối với nữ.
Hiện nay lao động ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 77,4% lực lượng lao
động cả nước trong đó lao động nông nghiệp chiếm khoảng 69,9% lực lượng lao
động thường xuyên trong các ngành. Do đó, lực lượng lao động nông nghiệp nông
thôn có vị trí quan trọng chiến lược trong phát triển kinh tế đấ nước.
3. Đặc điểm của lao động nông thôn
Lao động nông nghiệp nông thôn chịu ảnh hưởng bởi đặc điển của sản xuất
nông nghiệp, chịu sự chi phối của tự nhiên, của các quy luật tự nhiên nên có những
đặc điểm khác biệt với lao động trong các ngành khác.
3.1. Lao động nông nghiệp nông thôn có tính thời vụ.
Lớp KTPT 47A-QN
5
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Sản xuất nông nghiệp chịu sự chi phối của tự nhien với những quy luật sinh
trưởng, phát triển riêng của từng loại cây trồng vật nuôi. điều này quy định tính thời
vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng như tính thời vụ của lao động nông nghiệp.
Quá trình SXNN là quá trình gieo trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng theo từng giai
đoạn phát triển của cây trồng vật nuôi. Trong quá trình này có những thời gian lao

duy khác nhau trong sản xuất.
SXNN chủ yếu là sản xuất bởi từng hộ gia đình nên lao động nông nghiệp
nông thôn còn bị chi phối bởi quan hệ huyết thống. Các thành viên trong gia đình
thường làm theo sợ chỉ dẫn của người chủ gia đình, lao động nông nghiệp nông thôn
chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên của sản xuất nông nghiệp ( đất đai, thời tiết,
khí hậu....) nên nhận thức của lao động nông nghiệp nông thôn về các quy luật tự
nhiên, quy luật sinh trưởng phát triển ở các vùng khác nhau là khác nhau.
3.3. Trình độ lao động nông nghiệp nông thôn thấp
Hoạt động sản xuất nông nghiệp gồm những người thuộc nhiều lứa tuổi có
trình độ rát chênh lệnh và khả năng tổ chức sản xuất kém, thực tế ngay cả những
người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các
nghành kinh tế khác. do trình độ thấp nên việc tổ chức quản lý sản xuất kém hơn và
năng xuất lao động trong nông nghiệp kém hơn.
Có lẽ trình độ lao động nông nghiệp nông thôn thấp hơn là do ưu đãi của tự
nhiên với những quy luật quy luật sinh học gán cho sản xuất nông nghiệp, người sản
xuất nông nghiệp có thể không cần chăm sóc hoặc ít quan tâm đến cây trồng, vật nuôi
mà vẫn có sản phẩm thu hoạch. Từ đó tạo ra trạng thái trì trệ không chịu vận động,
không sáng tạo của lao động nông nghiệp nông thôn nếu so sánh với lao động trong
công nghiệp thì có sự khác nhau rõ nét về tính chất công việc và trình độ cần có của
lao động. Đối với sản xuất công nghiệp, lao động phải hoạt động một cách liên tục
mới có được sản phẩm cuối cùng hoàn chỉnh mà sản phẩm công nghiệp lại luôn biến
đổi về mẫu mã và chất lượng nên lao động trong công nghiệp phải luôn vận động,
sáng tạo trong công việc để có những sản phẩm mới, chất lượng cao hơn.
Tóm lại, phương thức sản xuất nông nghiệp quyết định trình độ của lao động
nông nghiệp là thấp hơn trrình độ lao động thuộc các khu vực kinh tế khác, trong quá
trình phát triển của xã họi, nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng, trình
Lớp KTPT 47A-QN
7
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
độ lao động nông nghiệp nông thôn ngày càng được nâng cao do nhu cầu của con

Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
- Trình độ người lao động trong nông nghiệp thấp nên khó thu được hiệu
quả cao trong tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
- Một số nơi tập quán sản xuất còn rất lạc hậu nên kìm hãm sự phát triển của
sản xuất nông nghiệp. ậ những nơi này sản xuất nông nghiệp năng xuất lao
động rất thấp.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác ảnh hưởng đến thu nhập của ngời lao
động nôgn nghiệp nông thôn như:
- Tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp: làm cho thu nhập của người lao
động nông nghiệp không ổn định tại những thời điểm khác nhau.
- Tình hình biến động giá cả của sản phẩm nông nghiệp bất lợi cho kinh
doanh nông nghiệp. Giá nông sản của nông dân thường thấp hơn so với giá
thị trường do bị thương nhân ép giá.
- Tình trạng gia tăng dân số ở nông thôn làm giảm đi một cách tương đối về
diện tích đất canh tác và thu nhập bình quân giảm.
- Tình trạng thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp do quá trình đô thị
hoá gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp trong điều kiện trình độ thâm
canh cao.
Trong những năm gần đây, thu nhập của lao động nông nghiệp, nông thôn đã tăng
đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện, năng xuất lao động cao hơn trước. Tiến bộ khoa
hoc công nghệ đuợc áp dụng vào sản xuất nông nghiệp đặc biệt là công nghệ sinh học. Với
các loại giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao. Trình độ thâm canh cao hơn, với nhiều
loại phân hoá học, phân vi sinh đuợc sử dụng phổ biến.
Sản xuất nông nghiệp chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá nên
thu nhập của lao động nông nghiệp cao hơn trước và ổn định hơn, trong đó cần kể
đến thu nhập của lao động nông nghiệp trong các trang trại, các nghề phụ càng ngày
càng được phát huy và là nguồn thu nhập thêm của người lao động nông nghiệp.
Tuy đời sống nông dân đã được cải thiện nhưng thực tế hiện nay thì mức thu
nhập, mức sống của người lao động nông nghiệp còn quá thấp so với mức bình quân
của thế giới cũng như so với lao động trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác. Số

cho người lao động không phải là công việc đơn giản mà phải hội đủ các điều kiện
thực hiện biện pháp đó.
Lớp KTPT 47A-QN
10
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
4. Loại hình và cấp bậc công việc trong nông nghiệp nông thôn
4.1. Loại hình lao động trong nông nghiệp nông thôn
+ Lao động sản xuất cây lương thực thực phẩm: loại lao động này thường tập
trung ở các trang trại, hộ sản xuất ở vùng sản xuất sản phẩm thực phẩm trọng điểm
xung quanh các khu đô thị, các khu công nghiệp, gần thị trường tiêu thụ.
+ Lao động sản xuất cây công nghiệp thường tập trung ở các trang trại hoặc hộ
gia đình ở vùng cây công nghiệp, gắn liền với hệ thống chế biến.
+ Lao động sản xuất cây ăn quả: là những lao động trong các trang trại hoặc
hộ gia đình trồng cây ăn quả. Loại lao động này thường kết hợp với lao động sản xuất
cây lương thực thực phẩm.
+ Lao động chăn nuôi đại gia súc ( trâu, bò…), gia súc (lợn) hoặc gia cầm
+ Lao động nuôi trồng thuỷ sản là lao động của các hộ gia đình hoặc các
doanh nghiệp nuôi thuỷ hải sản ở các vùng trũng, có nhiều ao hồ.
+ Lao động tham gia vào các dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp nông thôn như
dịch vụ thuốc thú y, dịch vụ phân bón,…
+ Lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến
4.2. Cấp bậc công việc trong nông nghiệp nông thôn
Trong lao động nông nghiệp nông thôn có nhiều ngành nghề khác nhau và mỗi
loại đó lại mang vị trí cấp bậc công việc khác nhau:
Sản xuất cây lương thực vẫn được coi là chủ đạo và thu hút nhiều lao động
nông nghiệp nông thôn tham gia.
Sản xuất cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò), gia súc (lợn), gia cầm
được xếp vị trí thứ hai trong những công việc thu hút nhiều lao động tham gia.
Sản xuất cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản đứng vị trí thứ ba.
Số lượng lao động tham gia vào các ngành dịch vụ và công nghiệp còn ít và hạn chế.

6.Vai trò của lao động nông thôn đối với tăng trưởng kinh tế
Lớp KTPT 47A-QN
12
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với việc đảm bảo bốn nhân tố cơ bản là
nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học công nghệ trong đó nguồn
lao động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử sụng, phát triển các nguồn lực còn lại.
Sức lao động là một bộ phận của yếu tố "đầu vào" của quá trình kinh tế. Chi phí lao
động, mức tiền công và số người có việc làm thể hiện sự cấu thành của nguồn lực lao
động trong hàng hóa, dịch vụ, nó trở thành nhân tố phản ánh sự tăng trưởng kinh tế.
Lực lượng lao động ở nông thôn Việt Nam nói chung và ĐBSH nói riêng có
thể nói là chiếm đa số trong tổng lượng lượng lao động. Tuy nhiên lao động nhiều
nhưng lại có biểu hiện dư thừa lao động hay thiếu việc là. Lao động có năng suất
thấp, phần đóng góp của lao động nông thôn trong tổng thu nhập còn hạn chế. Như
vậy, vùng nông thôn là khu vực có số ngừơi lao động có việc làm thấp hơn so với
tiền năng lao động vốn có.Lao động nông thôn có vai trò quan trọng trong việc tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
II. Lao động dư thừa và các tiêu chí đánh giá
1. Khái niệm lao động dư thừa
Quá trình sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất cao, thu hút lao động
không đồng đều, đặc biệt trong ngành trồng trọt việc làm chỉ thạp trung chủ yếu vào
gieo trồng, và thu hoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó là lao động “ nông nhàn”
trong nông thôn hay còn gọi là lao động dư thừa trong nông thôn.
2. Các tiêu chí đánh giá lượng lao động dư thừa
2.1 . Tỷ lệ thất nghiệp
+ Tỷ lệ thất nghiệp : được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người thất
nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp phản ánh tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế. Theo khái
niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thất nghiệp (theo nghĩa chung nhất) là
tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng

đầy đủ so với dân số hoạt động kinh tế
III. Nguyên nhân dẫn đến lao động dư thừa trong nông nghiệp và nông thôn
Lớp KTPT 47A-QN
14
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
1. Đất nông nghiệp có xu hướng giảm do quá trình đô thị hóa, dân số tăng.
Đất nông nghiệp bình quân đầu người ngày càng giảm và manh mún. Trong
những năm qua, mặc dù diện tích đất tự nhiên của vùng có tăng lên do khai hoang,
phục hóa nhưng do quá trình đô thị hóa, đất công nghiệp và dành cho các nhu cầu
khác không ngừng tăng lên, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm. So
với cả nước, ĐBSH là nơi có đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất, 497m2
so với 1.224m2 (chỉ bằng 40,7% mức bình quân chung của cả nước). Đất nông
nghiệp bình quân đầu người thấp và rất manh mún, bình quân một hộ ở ĐBSH có từ
2-4 mảnh, điều này làm cho sản xuất nông nghiệp của ĐBSH giảm kéo theo đó là
lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp tăng.
Đô thị hóa đòi hỏi phải dành một bộ phận đất nông nghiệp cho việc xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng. Đô thị hóa càng mạnh thì đất đai nói chung và đất
nông nghiệp nói riêng ngày càng thu hẹp. Riêng vùng ngoại thành Hà Nội, đất canh
tác bình quân một lao động nông nghiệp là 1,15 ha vào năm 1990 nhưng đến nay chỉ
còn 0,09 ha. Dự báo đến năm 2010 diện tích đất nông nghiệp còn lại 29.965,8 ha. Để
giữ nguyên đất canh tác bình quân đầu người như ở mức năm 1990, với điều kiện các
yếu tố khác không đổi thì việc mất đất canh tác do quá trình đô thị hóa ở ngoại thành
Hà Nội đã làm dư ra hơn 16 vạn lao động nông nghiệp. Theo viện Quy hoạch và thiết
kế nông nghiệp- Bộ NN&PTNT, dự báo đến năm 2010, đất nông nghiệp vùng ĐBSH
sẽ bị mất do phát triển đô thị và các khu công nghiệp, dịch vụ khoảng từ 38.000 -
40.000 ha. Đất nông nghiệp bị mất do chuyển sang các mục đích sử dụng phi nông
nghiệp chủ yếu là đất lúa màu và đất lúa. Điều này đã làm ảnh hưởng đến quá trình
giải quyết việc làm và chất lượng việc làm trong nông nghiệp, nông thôn nói chung,
trong đó có vùng đồng bằng sông Hồng. Vì vậy chưa giải quyết được tình trạng lao
động nông nghiệp thiếu việc làm

cho dân số hoạt động kinh tê hay lực lượng lao động tăng lên hàng năm đặc biệt là
khu vực nông thôn của ĐBSH. Khu vực nông thôn ĐBSH năm 2000 có 7,517 triệu
người, đến năm 2007 tăng là 8,763 triệu người nhưng khả năng tạo việc làm lại hạn
chế do công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển. Dẫn tới việc dư thừa phần lớn lao
động nông thôn đặc biệt là nữ giới.
4. Hậu quả của quá trình thu hồi đất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu của
quá trình công nghiệp hoá
Lớp KTPT 47A-QN
16
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp, xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn diễn ra khá nhanh ở nhiều tỉnh của cả nước. Một mặt,
nó đang tạo ra diện mạo mới của khu công nghiệp và đô thị, góp phần khắc phục dần
sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, song, mặt khác, nhiều vấn đề xã hội nảy
sinh, trong đó có vấn đề việc làm của nông dân: tỷ lệ lao động nông nghiệp thất
nghiệp gia tăng và nhu cầu về việc làm của nông dân ngày càng lớn. Tổng diện tích
đất nông nghiệp bị thu hồi giai đoạn 2001 – 2005 khoảng 18.563 ha; dự kiến giai
đoạn 2006 – 2010 là 26.946 ha. Việc thu hồi đất với tốc độ nhanh đã làm cho khoảng
25 vạn nông dân trong độ tuổi lao động bị mất việc làm (giai đoạn 2001 – 2005); dự
kiến giai đoạn 2006 – 2010, số nông dân trong vùng bị mất việc làm cũng sẽ khoảng
24 vạn người, bình quân mỗi năm gần 5 vạn người. Phần lớn nông dân bị mất việc
làm vì nguyên nhân này đều đã ở độ tuổi trung niên (khoảng 35 – 50 tuổi), vì vậy,
giải quyết việc làm cho đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn, một mặt do sức khỏe
và khả năng thích ứng với nghề mới, nhất là những nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao
của họ hạn chế, mặt khác, nhiều doanh nghiệp từ chối tiếp nhận đối tượng này vào
làm việc. Số còn lại là con em họ lại chưa được đào tạo nghề nên cũng gặp khó khăn
trong việc tìm kiếm việc làm. Nếu không có biện pháp giải quyết cơ bản vấn đề này
thì tình trạng nghèo khó, bần cùng hoá trong một bộ phận nông dân sẽ diễn ra phổ
biến trong vòng vài năm tới khi số tiền đền bù của các hộ này đã dần cạn kiệt do tiêu
xài chủ yếu vào tiêu dùng, mua sắm những tiện nghi đắt tiền trong khi lẽ ra phải được

Chương II: Thực trạng lao động dư thừa trong nông nghiệp
ở ĐBSH
Lớp KTPT 47A-QN
18
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
I. Đặc điểm của ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
Diện tích 14.862,5 km
2
(2007)
Dân số 18.400.600 người (2007)
Mật độ 1.238 người/km
2
Đồng bằng sông Hồng là tên gọi chung cho vùng đất do phù sa sông Hồng và
sông Thái Bình bồi đắp. Đây là một trong hai vùng kinh tế của miền Bắc Việt Nam:
Vùng núi và trung du phía Bắc (gồm Đông Bắc và Tây Bắc) và Đồng bằng sông
Hồng. Từ xưa, người Việt đã cư trú tại đây, đặc điểm canh tác chủ yếu là trồng lúa
nước, đơn vị cư trú là làng.
Đồng bằng sông Hồng rộng hơn 1,4 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc
với một vùng biển bao la ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của vùng là 18.400.600
người (2007), chiếm 21,6% số dân cả nước. Hiện tại cũng như trong tương lai, Đồng
bằng sông Hồng là một trong những vùng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Vùng là cái nôi của văn minh sông Hồng, nền văn minh đồ đồng phát triển
rực rỡ với trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, với nông nghiệp trồng lúa nước.
Hiện tại, Đồng bằng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh thành: Bắc Ninh , Hà Nam , Hà
Nội , Hải Dương , Hải Phòng , Hưng Yên , Nam Định , Thái Bình , Ninh Bình , Vĩnh
Phúc .
Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế có tầm quan trọng đặc
biệt trong phân công lao động của cả nước. Đây là vùng có vị trí địa lí và điều kiện tự

khác và các nước trong khu vực. Tuy nhiên, do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa nên thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán.
Tài nguyên thiên nhiên của vùng khá đa dạng, đặc biệt là đất phù sa sông
Hồng. Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất lương thực, thực
phẩm. Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau Ðồng bằng sông Cửu
Long. Số đất đai sử dụng cho nông nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện
tích tự nhiên của vùng, trong đó 70% đất có độ phì từ trung bình trở lên. Ngoài số đất
đai phục vụ nông nghiệp và các mục đích khác, số diện tích đất chưa được sử dụng
vẫn còn hơn 2 vạn ha.
Nhìn chung, đất đai của Ðồng bằng sông Hồng khá màu mỡ do được phù sa
của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp. Tuy vậy, độ phì nhiêu của các
loại đất không giống nhau ở khắp mọi nơi. Đất không được bồi đắp hàng năm
vẫn màu mỡ hơn đất được bồi đắp. Đất thuộc vùng châu thổ sông Hồng phì nhiêu
hơn đất thuộc vùng châu thổ sông Thái Bình. Có giá trị nhất đối với việc phát triển
cây lương thực ở Ðồng bằng sông Hồng là diện tích đất không được phù sa bồi đắp
Lớp KTPT 47A-QN
20
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
hàng năm (đất trong đê). Loại đất này chiếm phần lớn diện tích châu thổ, đã bị biến
đổi nhiều do trồng lúa.
Vùng có hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái
Bình nên nguồn nước rất phong phú. Cả nguồn nước trên mặt lẫn nguồn nước ngầm
đều có chất lượng rất tốt. Tuy nhiên, vùng cũng có xảy ra tình trạng quá thừa nước
trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô. Vùng còn có bờ biển dài, có ngư trường
Hải Phòng - Quảng Ninh, cảng Hải Phòng, khu du lịch Đồ Sơn.
Điều kiện khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ trong sản
xuất nông nghiệp. Thời tiết mùa đông rất phù hợp với một số cây trồng ưa lạnh.
Tài nguyên có giá trị đáng kể là các mỏ đá (Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình),
sét cao lanh (Hải Dương), than nâu (Hưng Yên), khí tự nhiên (Thái Bình). Về khoáng
sản thì vùng có trữ lượng lớn về than nâu, đá vôi, sét, cao lanh. Đặc biệt, mỏ khí đốt

Nam Định 1991,2 1.650,8 1.206
Ninh Bình 928,5 1.392,4 667
Nguồn : Tổng cục Thống kê 2007 (riêng số liệu về Hà Nội cập nhật đến tháng
8/2008, sau khi sáp nhập với Hà Tây)
Đồng bằng sông Hồng là vùng dân cư đông đúc nhất cả nước. Mật độ dân số
trung bình là 1238 người/km
2
(năm 2007). Mặc dù tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số
trong vùng giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao, gấp 5 lần so với mật độ trung
bình của cả nước, gấp gần 3 lần so với Đồng bằng sông Cửu Long, gấp 10 lần so với
Miền núi và trung du Bắc Bộ và gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên. Đây là một thuận
lợi vì vùng có nguồn lao động dồi dào với truyền thống kinh nghiệm sản xuất phong
phú, chất lượng lao động dẫn đầu cả nước. Thế nhưng, dân số đông cũng đem đến
những khó khăn nhất định, gây sức ép nặng nề lên sự phát triển kinh tế - xã hội của
vùng.
Những nơi dân cư đông nhất của vùng là Hà Nội (1805 người/km
2
), Thái
Bình (1.028 nngười/km
2
), Hải Phòng (1.202 người/km
2
), Hưng Yên (1.252
người/km
2
). Ở các nơi khác, chủ yếu thuộc khu vực rìa phía Bắc và Đông Bắc của
châu thổ, dân cư thưa hơn. Sự phân bố dân cư quá đông ở Đồng bằng sông Hồng liên
quan tới nhiều nhân tố như nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước
là chủ yếu đòi hỏi phải có nhiều lao động. Trong vùng còn có nhiều trung tâm công
nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô thị khá dày đặc. Ngoài ra, Đồng bằng

Biểu 2:Một số chỉ tiêu phát triển dân cư, xã hội ở Đồng bằng sông Hồng năm 1999
Tiêu chí Đơn vị
tính
ĐBSH Cả nước
Tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số % 1,1 1,4
Tỉ lệ thất nghiệp ở đô thị
% 9,3 7,4
Tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn % 26 26,5
Thu nhập bình quân đầu người Nghìn đồng 280,3 295
Tỉ lệ người lớn biết chữ % 94,5 90,3
Tuổi thọ trung bình Năm 73,7 70,9
Lớp KTPT 47A-QN
23
Nguyễn Thị Kim Ánh GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Tỉ lệ dân thành thị
% 19,9 23,6
Nguồn : Địa lí kinh tế Việt Nam - NXB Giáo dục - 2006
Đồng bằng sông Hồng là vùng có kết cấu hạ tầng nông thôn hoàn thiện nhất
trong cả nước. Với chiều dài tổng cộng hơn 3000km, hệ thống đê điều được xây
dựng và bảo vệ từ đời này qua đời khác, không chỉ là bộ phận quan trọng trong kết
cấu hạ tầng mà còn là nét độc đáo của nền văn hoá sông Hồng, văn hoá Việt Nam.
Cơ sở vật chất của vùng cũng ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là mạng lưới đường
giao thông.
Do được khai thác từ lâu đời, vùng tập trung nhiều lễ hội, làng nghề, di tích
văn hoá lịch sử, có mạng lưới đô thị phát triển. Đồng bằng sông Hồng có một số đô
thị hình thành từ lâu đời. Kinh thành Thăng Long, nay là thủ đô Hà Nội được thành
lập từ năm 1010. Thành phố cảng Hải Phòng là cửa ngõ quan trọng hướng ra vịnh
Bắc Bộ.
Tuy nhiên, đời sống người dân ở Đồng bằng sông Hồng cũng còn nhiều khó
khăn do kinh tế dịch chuyển chậm, dân số quá đông.

động cơ điện, phương tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng dệt kim, giấy viết,
thuốc ...
Việc chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp cũng được thực hiện qua
việc hình thành các ngành trọng điểm dựa trên thế mạnh của vùng về tự nhiên và dân
cư như dệt may, giày da, cơ khí điện tử, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực thực
phẩm.
3.2.Nông nghiệp
Về diện tích và tổng sản lượng lương thực, Đồng bằng sông Hồng chỉ đứng
sau Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng là vùng có trình độ thâm canh cao nên năng
xuất lúa rất cao. Hầu hết các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng đều phát triển một số cây
ưa lạnh đem lại hiệu quả kinh tế lớn như các cây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp cải,
cà chua và trồng hoa xen canh. Hiện nay, vụ đông đang trở thành vụ chính của một
số địa phương trong vùng.
Từ bao đời nay, người dân đồng bằng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa,
đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm. Đó là vốn rất quý để đẩy mạnh sản xuất. Ngoài
ra, sự phát triển của nền kinh tế cùng với hàng loạt các chính sách mới cũng góp phần
Lớp KTPT 47A-QN
25

Trích đoạn Các giải pháp chung Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phát triển mạnh kinh tế hộ và kinh tế trang trại ở nông thôn Khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống và nghề mới ở nông thôn. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status