Chất lượng lực lượng lao động nông thôn - thực trạng và giải pháp - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong ba yếu tố chính tạo tăng trưởng kinh tế là vốn, lao động và công nghệ
thì có thể coi yếu tố lao động là quan trọng nhất góp phần tạo tăng trưởng kinh tế ở
nước ta. Vốn có thể vay được, công nghệ có thể mua được, còn lao động là chủ thể
sử dụng có hiệu quả hai yếu tố trên. Người lao động không chỉ là yếu tố nội lực mà
còn là yếu tố chủ thể trong các yếu tố điều kiện sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh thế
mạnh là yếu tố chủ đạo tạo tăng trưởng kinh tế thì trong nội lực bản thân yếu tố lao
động còn nhiều hạn chế đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn. Khu vực nông thôn
còn nhiều vướng mắc, hạn chế, nền kinh tế nông thôn phát triển chưa tương xứng với
tiềm năng và thế mạnh của vùng. Đặc biệt lực lượng lao động khu vực còn kém về
chất lượng. Mặc dù số lượng lực lượng lao động thì đông nhưng trình độ học vấn và
trình độ chuyên môn kỹ thuật còn yếu, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao. Vấn
đề đặt ra là nguồn lực con người luôn là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế,
phát triển nguồn lực con người thì các nguồn lực khác cũng phát huy tác dụng. Vì thế
cần có giải pháp nâng cao chất lượng lực lượng lao động nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của khu vực nông thôn. Mục tiêu của nước ta đặt ra là xây dựng một nhà nước
trong đó: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, phấn đấu trở
thành một nước công nghiệp trong thời gian tới. Để đạt được mục tiêu đó thì Đảng và
Nhà nước ta phải không ngừng cố gắng và đổi mới phù hợp với xu hướng hiện nay.
Đảng ta rất quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho đất nước, mong
muốn tất cả các tỉnh, các vùng miền trên đất nước ta đều phát triển một cách đồng bộ
và yêu cầu các tỉnh, các vùng phải cùng nhau đóng góp sức mình vào sự nghiệp
chung của cả nước, muốn như vậy thì mỗi vùng, mỗi tỉnh phải tự tìm cách vươn lên.
Chủ trương nâng cao chất lượng lực lượng lao động, xây dựng đội ngũ lao
động có đủ năng lực đủ trình độ học vấn cũng như chuyên môn kỹ thuật để phục vụ
quá trình phát triển của đất nước. Nhận thấy những đòi hỏi hiện nay về chất lượng
lực lượng lao động của cả nước nói chung và của khu vực nông thôn nói riêng, qua
nghiên cứu thực trạng chất lượng lực lượng lao động khu vực nông thôn thấy được
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp

 Kết cấu: Chuyên đề bao gồm 3 phần chính:
Chương I: Cơ sở lý luận và phương pháp luận đánh giá chất lượng lực lượng
lao động nông thôn.
Chương II: Đánh giá thực trạng về chất lượng lực lượng lao động nông thôn
nước ta.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng lực lượng lao động nông thôn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy PGS.TS Phạm
Ngọc Linh trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp. Đồng thời em cũng
xin chân thành cảm ơn các anh, các chị trong phòng Kế hoạch đối ngoại – Viện khoa
học lao động và xã hội-Bộ lao động thương binh xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho
em hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Trong quá trình nghiên cứu
do thời gian và trình độ có hạn em sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót, vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô chú và
anh chị trong ban để bài viết của em được hoàn thiện tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 5 tháng 5 năm 2010.
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Huệ
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
I.Những vấn đề chung về chất lượng lao động nông thôn
1.Nguồn nhân lực nông thôn
1.1.Khái niệm nguồn nhân lực nông thôn
Nguồn nhân lực nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao
gồm toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (lao động đang làm việc trong
nền kinh tế quốc dân) và lao động tiềm tàng (có khả năng tham gia lao động nhưng
chưa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ
dân số nông thôn).

hòa nhập kinh tế thế giới, với thông lệ, chuẩn mực của pháp luật quốc tế.
Theo quan niệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì nguồn
nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, trước
hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư
có cơ thể phát triển bình thường.
Về nguồn nhân lực nông thôn:
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn là nhân tố quan trọng của phát triển
nguồn nhân lực của một quốc gia, đặc biệt hơn là đối với các nước đang phát triển,
đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Phát triển nguồn
nhân lực nông thôn là thúc đẩy sự biến đổi số lượng và chất lượng của lao động nông
thôn về mặt thể lực, kiến thức, kỹ năng và tinh thần của người lao động cũng như về
cơ cấu nhân lực hợp lý cho sự phát triển của nền kinh tế và xã hội nông thôn để tham
gia vào quá trình phát triển chung của các vùng phụ cận và cả nước.
Hiện nay có nhiều quan niệm của các tổ chức quốc tế và một số nước về phát
triển nguồn nhân lực và phát triển của nguồn nhân lực nông thôn:Theo tổ chức văn
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO): Phát triển nhân lực nông thôn là phát triển toàn
bộ sự lành nghề của dân cư nông thôn trong mối quan hệ với sự phát triển của đất
nước.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) quan niệm rằng, con người có nhu cầu sử
dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn về
nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung, nâng
cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc nhằm đáp ứng những kỳ vọng của con
người. Cũng như vậy, những quan điểm, thái độ phát triển về cá nhân và xã hội là cần
thiết lồng ghép nguyện vọng cá nhân vào khuôn khổ xã hội hay quốc gia một cách
đồng bộ. Phát triển nguồn nhân lực nông thôn là phát triển và sử dụng con người
nông thôn có khả năng lao động, sẵn sàng tham gia vào các quá trình lao động xã hội.
Theo UNIDO, phát triển nguồn nhân lực nông thôn cũng như nguồn nhân lực
nói chung là phát triển con người một cách hệ thống có mục tiêu, là đối tượng của sự

trình độ giáo dục và đào tạo, cơ cấu nghề nghiệp xã hội, tính năng động xã hội.
Nguyên nhân chất lượng dân số thấp ở nông thôn các nước đang phát triển thường do
các yếu tố chính như trình độ phát triển thấp của nền kinh tế nông thôn, tính bất hợp
lý về quy mô dân số nông thôn, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của dân số
nông thôn thấp do ít có khả năng tiếp cận với hệ thống giáo dục đào tạo, hệ thống
chăm sóc sức khỏe cho dân số nông thôn chưa đảm bảo, môi trường sống của dân cư
nông thôn chậm cải thiện...Ngoài ra còn do một vài yếu tố khác…
1.3.Những đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực nông thôn.
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của
các ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao
động ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt sau:
 Lao động nông thôn mang tính thời vụ:
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là đặc điểm đặc thù không thể xóa bỏ được của lao động nông thôn.
Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây
trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và
tái sản xuất kinh tế đan xen nhau.
Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự nhiên
khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau. Tính thời vụ
trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa bỏ được trong quá trình sản xuất chúng ta
chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Từ đó đặt ra vấn
đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử
dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng.
 Nguồn lao động nông thôn tăng về số lượng.
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: quy mô và cơ
cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô cơ cấu của nguồn lao động. Do sự
phát triển của quá trình đô thị hóa và sự thu hẹp dần về tốc độ tăng tự nhiên của dân
số giữa nông thôn và thành thị nên tỷ lệ dân số cũng như lực lượng lao động so với cả
nước ngày càng giảm. Mặc dù vậy, quy mô dân số và nguồn lao động ở nông thôn

ngành nghề như dịch vụ điện năng, thông tin, thương mại, chế biến nông - lâm – thủy
sản, tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp khác.
Xu hướng lao động phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn ngày càng tăng
tuy nhiên thì tốc độ tăng còn chậm. Điều đó do một số nguyên nhân sau :
 Tỷ lệ lao động nông thôn hàng năm bước vào tuổi lao động cao, do trong giai
đoạn trước tỷ lệ tăng dân số nông thôn cao.
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
 Các vùng nông thôn trung du, miền núi chuyển chậm sang sản xuất hàng hóa, các
loại thị trường ít phát triển, tăng trưởng kinh tế thấp, ảnh hưởng đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn
 Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo thấp hạn chế khả năng phát triển các loại
hình doanh nghiệp ở nông thôn.
 Thu hút được ít đầu tư của Chính phủ, tư nhân và các công ty nước ngoài cho
phát triển kinh tế tại các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng có khó khăn về hạ
tầng cơ sở và điều kiện tự nhiên, đầu tư ít có khả năng sinh lãi cao.
Thứ hai, quá trình ĐTH và HNH toàn cầu kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát
triển của nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ. Sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới đòi
hỏi nguồn nhân lực nông thôn phải có sự đổi mới, nâng cao chất lượng đột biến để
thích ứng, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Thực tế các năm chuyển đổi nền
kinh tế và đô thị hóa cho thấy, lao động nông thôn nước ta còn có nhiều bất cập để
đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các loại hình đào tạo công phu như công
nghệ thông tin, viễn thông, chế tạo cơ khí, điện tử, ngân hàng, tài chính… và các
ngành sử dụng nhiều lao động, sản xuất hướng vào xuất khẩu như dệt may, da giày,
chế biến thực phẩm…
Thực tế thì lao động nông thôn ít được đào tạo nghề nghiệp. Tỷ lệ lao động
nông thôn qua đào tạo thấp là trở ngại lớn cho thúc đẩy phát triển các ngành nghề
công nghiệp, dịch vụ có năng suất cao và các nghề truyền thống để tạo việc làm phi
nông nghiệp cho lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa.
Thứ ba, ĐTH và di chuyển lao động nông thôn ra thành thị trở thành xu thế

những giải pháp quan trọng để cải thiện tình hình thất nghiệp của người lao động
nông thôn khi bị thu hồi đất, mất việc làm nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa.
Đồng thời giảm được tình trạng di chuyển ồ ạt lao động nông thôn ra các thành phố
tìm việc làm, điều chỉnh được sự hoạt động tích cực của thị trường lao động.
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài ra, phát triển làng nghề có tác động thúc đẩy phát triển hệ thống hạ tầng
cơ sở, phát triển nhân lực nông thôn trong các ngành phi nông nghiệp khác như: giao
thông, điện, nước, dịch vụ tín dụng, giáo dục, y tế, thông tin liên lạc, thương mại…,
xóa dần sự cách biệt giữa nông thôn – thành thị, tạo cơ sở cho cơ cấu lại kinh tế lao
động nông thôn, tăng tích lũy cho phát triển nguồn nhân lực nông thôn.
Thứ năm, đa số lao động nông thôn nước ta còn có mức thu nhập thấp, trong
khi quá trình đô thị hóa đòi hỏi các hộ gia đình nông thôn phải đầu tư lớn hơn cho
đào tạo phát triển nhân lực để chuyển hướng sang hoạt động phi nông nghiệp. Các
chính sách hỗ trợ hoặc phát triển hệ thống tín dụng ưu đãi cho đào tạo nhân lực nông
thôn từ nhà nước còn hạn chế, chưa có tác động lớn nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực nông thôn. Đây thực sự là thách thức lớn đối với phát triển nhân lực nông thôn
trong quá trình đô thị hóa.
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực nông thôn
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực nông thôn chịu sự
ảnh hưởng của nhiều nhân tố, sự biến đổi của các nhân tố này sẽ kéo theo sự biến
động của nguồn nhân lực nông thôn. Hệ thống các nhân tố chủ yếu bao gồm:
1.4.1.Giáo dục và đào tạo:
Giáo dục là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao kiến thức và
kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời.
Giáo dục phổ thông (giáo dục cơ bản) nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản
để phát triển năng lực cá nhân. Giáo dục nghề và giáo dục đào tạo vừa giúp người
học có kiến thức đồng thời còn giúp cung cấp tay nghề, kỹ năng và chuyên môn. Với
mỗi trình độ đào tạo nhất định, người được đào tạo biết được họ phải đảm nhận
những công việc gì. Yêu cầu kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải như

cao, cân nặng). Điều này lại phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe.
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với người đang làm việc, thể lực và tuổi thọ của họ một mặt phụ thuộc
vào yếu tố dinh dưỡng song mặt khác còn phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe
thường xuyên (đặc biệt đối với những ngành nghề độc hại) và chính sách bảo hiểm y
tế đối với người lao động.
Trên thực tế các nước còn quan tâm đến chất lượng nguồn lực lao động trong
tương lai. Thể hiện ở việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ em. Đây là
cách thức để giúp cho thế hệ trẻ phát triển tốt thể lực, lành mạnh về tinh thần và do
đó cũng giúp trẻ có đủ năng lực để nhanh chóng tiếp thu kiến thức, kỹ năng qua giáo
dục ở nhà trường.
Như vậy có thể nói hoạt động giáo dục và hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe
có tác động hỗ trợ cho nhau, bổ sung nhau trong cải thiện chất lượng nguồn lao động.
Ở nông thôn mức độ tham gia của người lao động nông thôn vào các cấp trình
độ giáo dục, đào tạo, dạy nghề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển chất lượng
của nguồn nhân lực nông thôn. Đây là chỉ tiêu đã được Chương trình phát triển Liên
Hợp Quốc rất quan tâm, thể hiện bằng số năm đi học văn hóa và đào tạo nghề nghiệp
của dân số trưởng thành (15 tuổi trở lên ở nông thôn).
1.4.3.Tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh có khả năng nâng cao
thu nhập GDP bình quân đầu người cho dân số và nguồn nhân lực nông thôn. Đây
cũng là nhân tố quan trọng liên quan đến khả năng tiếp cận, khả năng chi trả và sự
lựa chọn của nguồn nhân lực nông thôn trong hệ thống giáo dục, đào tạo, tìm kiếm và
tự tạo việc làm phi nông nghiệp. Đến lượt mình, chính các yếu tố này tác động trở lại
đến nâng cao tiền lương, tiền công, thu nhập và mức sống của các hộ gia đình và
nguồn nhân lực nông thôn. Ngoài ra, phát triển kinh tế thị trường ảnh hưởng đến
nguồn nhân lực nông thôn ở các mặt như việc lao động nông thôn phải nâng cao tính
năng động, khả năng thích ứng , khả năng hòa nhập của nguồn nhân lực vào thị
trường lao động trong nước và thị trường lao động khu vực cũng như toàn cầu. Kinh

Chuyên đề tốt nghiệp
nông thôn. Chính sách các loại thuế, chuyển giao khoa học và công nghệ về nông
thôn. Chính sách mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đối với
khu vực nông thôn thông qua phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo ở nông thôn.
Chính sách phục hồi, mở rộng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống có
giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế. Chính sách phân phối và phúc lợi xã hội
đối với khu vực nông thôn. Chính sách đảm bảo phát triển bình đẳng, công bằng về
kinh tế - xã hội đối với nông thôn. Chính sách kiểm soát môi trường sinh thái và môi
trường lao động ở nông thôn trong quá trình ĐTH, CNH đất nước…
II.Các tiêu chí đánh giá chất lượng lực lượng lao động
1.Trình độ học vấn
Trình độ học vấn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triển của một
quốc gia. Bởi vì thực tế cho thấy phần lớn các quốc gia có trình độ học vấn cao thì
nền kinh tế xã hội phát triển nhanh hơn các quốc gia có trình độ học vấn thấp hơn.
Trình độ học vấn có được là nhờ một hệ thống giáo dục phổ thông. Giáo dục
Phổ thông là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động . Vai trò
của giáo dục phổ thông là rất quan trọng, giáo dục phổ thông trang bị cho con người
những hiểu biết cơ bản về tự nhiên, khoa học, xã hội, đồng thời giáo dục phổ thông
chuẩn bị những kiến thức cơ sở để con người có thể học lên trình độ mức cao hơn.
Giáo dục phổ thông có thể giúp con người khám phá ra tiềm năng, thế mạnh của
mình và trên cơ sở có tri thức, có trí tuệ người lao động có thể tác động vào cuộc
sống, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Giáo dục phổ thông cung cấp cho con
người những kiến thức cơ bản về kỹ năng đọc, viết và tính toán với một trình độ nhất
định, điều đó rất cần thiết trong công việc và trong cuộc sống.
Trình độ học vấn của lực lượng lao động được đánh giá qua các chỉ tiêu:
 Tỷ lệ lao động đã tốt nghiệp tiểu học so với tổng lực lượng lao động.
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
Bậc tiểu học là bậc thấp nhất giúp con người có thể hiểu biết được những kiến
thức cơ bản nhất, giúp con người biết đọc, biết viết, biết tư duy, tính toán và học lên

 Tỷ lệ lực lượng lao động đã tốt nghiệp THPT so với tổng số lực lượng
lao động.
Tỷ lệ lực lượng lao động đã
tốt nghiệp THPT so với
tổng số lực lượng lao động
Số lao động đã tốt nghiệp THPT
Tổng số lực lượng lao động
Người lao động đã tốt nghiệp THPT có thể đi học nghề ở các trường dạy
nghề, có thể học ở các trường THCN, các trường CĐ, ĐH để nâng cao trình độ
chuyên môn kỹ thuật, phát huy khả năng của mình. Xu hướng là phải có giải pháp để
nâng cao hơn nữa số lao động có trình độ THPT, nhằm đưa lao động đạt đến trình độ
cao về học vấn để người lao động có thể có cơ hội học nghề, học lên cao hơn và thực
hiện tốt chuyên môn của mình.
2. Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trình độ chuyên môn kỹ thuật có được thông qua hệ thống đào tạo. Đào tạo
làm tăng lực lượng lao động có trình độ cao, tạo ra khả năng thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Đào tạo nâng cao giá trị vốn, nhân lực cụ thể là nâng cao trình độ chuyên
môn kỹ thuật, trình độ lành nghề, khả năng làm việc sức sáng tạo của con người.
Giáo dục trang bị cho con người những kiến thức về xã hội còn đào tạo giúp con
người có được kỹ năng nhất định về một lĩnh vực, về một nghề nghiệp nào đó.
Mục đích đào tạo có thể là đào tạo mới, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng nâng cao
trình độ tay nghề. Hình thức đào tạo có thể là đào tạo chính quy ở các trường ĐH,
CĐ, THCN, các trung tâm dạy nghề, các cơ sở của nhà nước, đào tạo không chính
quy như đào tạo tại nơi làm việc, đào tạo tại các lớp cạnh doanh nghiệp.
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1.Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo
Lao động qua đào tạo có thể được đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn, chính quy
hoặc không chính quy. Tuy nhiên số lao động này phải được học theo các chương
trình do nhà nước quy định, được cấp bằng hoặc chứng chỉ chính thức theo các quy

khu công nghiệp phát triển, các doanh nghiệp nhà máy ngày càng xuất hiện nhiều và
quy mô mở rộng thì cần rất nhiều kỹ thuật. Trong tương lai cần phải tăng tỷ lệ này
lên cao hơn và phải phù hợp với cơ cấu lao động đã qua đào tạo.
• Tỷ lệ lao động có bằng trung cấp chuyên nghiệp so với tổng số lực lượng lao
động đã qua đào tạo.
Tỷ lệ số lao động có bằng
trung cấp chuyên nghiệp so
với tổng số lực lượng lao động
=
Số lao động có bằng trung cấp
chuyên nghiệp
*100%
Tổng số lực lượng lao động qua
đào tạo
Lao động có bằng trung cấp chuyên nghiệp có thể làm việc trong các nhà máy,
xưởng sản xuất. Họ có thể điều khiển những máy móc có công nghệ kỹ thuật tiên
tiến, họ có khả năng sáng tạo trong quá trình làm việc để có được kết quả làm việc
cao. Xu hướng là cần có giải pháp để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho
người lao động, nâng cao tỷ lệ lao động có bằng trung cấp đồng thời phải xét tương
quan giữa các bậc lao động đã qua đào tạo cho phù hợp
• Tỷ lệ lao động có trình độ CĐ, ĐH , trên ĐH so với tổng số lực lượng lao
động qua đào tạo
Tỷ lệ số lao động có trình độ
CĐ, ĐH, trên ĐH so với tổng
Số lao động có trình độ CĐ,
ĐH, trên ĐH
Tổng số lực lượng lao động
qua đào tạo
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp

Chuyên đề tốt nghiệp
qua đào tạo
Tỷ lệ lao động đã qua đào
=
Số lao động đã qua đào tạo
trong ngành DV
Tổng số lực lượng lao động
đã qua đào tạo
Tỷ lệ này cho biết lực lượng lao động đã qua đào tạo trong ngành nông-lâm-
ngư nghiệp , ngành công nghiệp- xây dựng và ngành dịch vụ . Xu hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế hiện nay đòi hỏi phải giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông-lâm-
ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.
2.3. Phân bố lao động đã qua đào tạo theo không gian
Được đánh giá qua chỉ tiêu tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở khu vực thành thị
và khu vực nông thôn
Tỷ lệ lao động đã qua Số lao động đã qua đào tạo ở thành thị
Tổng số lực lượng lao động qua đào tạo
Tỷ lệ lao động đã qua Số lao động qua đào tạo ở nông thôn
Tổng số lực lượng lao động qua đào
tạo
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở khu vực nông thôn và tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo ở khu vực thành thị cho ta biết tương quan giữa hai khu vực và có thể so sánh
giữa hai khu vực với nhau, giữa hai khu vực với cả nước để thấy thực tế hiện nay như
thế nào và xu hướng cần phải điều chỉnh sao cho hợp lý. Ở các nước đang phát triển
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
thường thì số lao động trong nông thôn sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn song trình độ lao
động đã qua đào tạo lại thấp nếu so sánh với khu vực thành thị. Xu hướng giảm tỷ
trọng lực lượng lao động đồng thời nâng cao trình độ lao động đã qua đào tạo trong

chất lượng tăng trưởng gắn liền với xu hướng chuyển từ tăng trưởng dựa vào quy mô
lao động sang tăng trưởng dựa vào chất lượng lao động (năng suất lao động) , tức là
tăng trưởng theo chiều sâu dựa vào vốn nhân lực là chính, dựa vào trình độ sức sáng
tạo và kỹ năng làm việc là chính đặt ra yêu cầu là phải nâng cao chất lượng lực lượng
lao động, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ kỹ thuật, trình độ học vấn cho
người lao động. Vai trò của người lao động ở đây không những được đánh giá về sức
lực mà quan trọng hơn là được đánh giá về mặt trí lực, trí tuệ của người lao động.
Vấn đề nâng cao chất lượng lao động là trực tiếp góp phần làm cho tăng trưởng phát
triển theo chiều sâu.
Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững là mục tiêu của đất nước ta. Nên để có
một nền kinh tế có sự tăng trưởng bền vững thì phải có người lao động tốt, chất
lượng cao. Người lao động tốt, chất lượng lao động cao là tiền đề vững chắc, là nhân
tố quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội, tăng năng suất lao động. Người
lao động tốt, nhất là chất lượng lực lượng lao động cao đảm bảo chắc chắn trong việc
đưa ra ý kiến sáng suốt, những ý tưởng hay giúp công việc đạt hiệu quả cao hơn.
Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có khả năng, có tay nghề luôn luôn
tự tin với những việc mình làm và họ đánh giá được những gì mình làm ra. Nâng cao
trình độ chuyên môn nhằm hoàn thiện mình là nhu cầu của người lao động, đó cũng
là mục đích để có được thu nhập cao hơn.
Tài nguyên thiên nhiên nước ta phong phú, tuy nhiên có những tài nguyên có
thể tái tạo được, cũng có những tài nguyên không thể tái tạo được và trở nên khan
hiếm. Để có thể sử dụng đúng đắn hiệu quả nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm
thì chỉ có những con người có khả năng, có khối óc, có trình độ kỹ thuật và tay nghề.
Nếu không, không chỉ tài nguyên mà cả nguồn vốn, khoa học công nghệ đều không
thể phát huy hết sức mạnh của mình. Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên chỉ có thể
Bùi Thị Huệ Lớp: KTPT 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
phát huy hết sức mạnh kinh tế của mình khi con người biết khai thác và sử dụng một
cách có hiệu quả. Nhu cầu của con người là vô tận, xã hội đang có một sản phẩm tốt
nhưng người ta vẫn muốn có được sản phẩm tốt hơn nữa, chất lượng sản phẩm ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status