=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
LỜI MỞ ĐẦU
Với đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo của Đảng cộng sản Việt
Nam, đất nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoách hoá tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Bằng
những cải cách mạnh mẽ về kinh tế, chúng ta đã vượt qua khủng hoảng, ổn
định chính trị, phát triển kinh tế xã hội, đưa đất nước vững bước đi lên chủ
nghĩa xã hội, hội nhập vào sự phát triển của khu vực và thế giới.
Cùng với công cuộc cải cách kinh tế, công cuộc đổi mới tổ chức và
phương thức hoạt động của hệ thống chính trị cũng từng bước được triển khai.
Hệ thống pháp luật ngày càng phát triển và từng bước được hoàn chỉnh để điều
chỉnh ngày một có hiệu quả các quan hệ kinh tế - xã hội. Bộ máy nhà nước
dần dần được chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong điều hành và
quản lý xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, trong quá trình phát triển, nền
hành chính nhà nước cũng đã bộc lộ nhiều khuyết tật, bất cập trước những yêu
cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội, công tác quản lý hành chính nhà
nước của các cấp chính quyền trong cả nước còn bị buông lỏng ở nhiều khâu,
hiệu quả, hiệu lực quản lý của chính quyền chưa cao, tập trung chủ yếu ở cấp
chính quyền cơ sở, trong đó chính quyền xã, phường là cấp có nhiều khó khăn
phức tạp khi thực hiện các nhiệm vụ được giao. Đứng trước tình hình đó, Đảng
cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương cải cách nền hành chính nhà nước và
coi đó là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách hành chính
là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính vừa có phẩm chất đạo dức
tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có kĩ năng quản lý, vận hành bộ
máy hành chính để thực hiện có hiệu quả các chủ trương , đường lối của Đảng,
hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể, chúng
ta dùng khái niệm “cán bộ, công chức”. Theo Luật cán bộ, công chức năm
2008, các bộ và công chức là hai đối tượng khác nhau. Theo đó :
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kì trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, ở huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị
thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lí của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lí của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
Theo Luật cán bộ,công chức năm 2008 thì ở cấp xã phường thị trấn thì :
Cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, là công dân Việt Nam, được bầu
cử giữ chức vụ theo nhiệm kì trong thường trực hội đồng nhân dân, uỷ ban
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
3
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
nhân dân, bí thư, phó bí thư đảng uỷ người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây :
=================================================
b. Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử vào làm việc trong biên chế chính
thức của bộ mày nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
c. Được xếp vào một ngạch trong hệ thống ngạch bậc của công chức do
Nhà nước quy định.
d. Được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
1.2.2 Hoàn thiện tiêu chuẩn cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay:
Công cuộc đổi mới toàn diện nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo
đã trải qua hơn 20 năm kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Sự
nghiệp cải cách nền hành chính nhà nước được đánh dấu bằng Nghị quyết
trung ương 8 khoá VII cũng nằm trong tiến trình của công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước. Một trong ba nội dung quan trọng của cải cách nền hành chính
nhà nước là xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có phẩm chất chính
trị vững vàng, đủ năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngang tầm để đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hoàn thiện tiêu chuẩn công chức đóng
một vai trò quan trọng
Tiêu chuẩn công chức là tổng hợp các yêu cầu - điều kiện “ được quy
định làm chuẩn” để nhận xét, đánh giá, phân loại, tuyển chọn công chức, trên
cơ sở đó mà đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt và bố trí, sử dụng có hiệu quả từng
người và cả đội ngũ công chức. Nội dung tiêu chuẩn công chức không cố định,
nó được quy định và phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của từng giai
đoạn cách mạng và được cụ thể hoá trong từng ngành , từng lĩnh vực công tác
cụ thể. Tiêu chuẩn công chức phản ánh sự thống nhất giữa đòi hỏi khách quan
và điều kiện chủ quan, giữa nhu cầu phát triển và điều kiện, khả năng thực tế.
Chỉ nhấn mạnh một mặt khách quan cũng đề đạt làm là ảnh hưởng đến tính
khoa học của tiêu chuẩn công chức. Phân tích những nội dung và những đòi
hỏi liên quan đến tiêu chuẩn công chức trong điều kiện cải cách nền hành
chính Nhà nước hiện nay được coi là vấn đề cấp thiết. Tiêu chuẩn công chức
có thể thay đổi và cần phải thay đổi khi những cải cách kinh tế - xã hội, cải
sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại, vừa phải đáp ứng yêu cầu của thời
đại vừa tiêu biểu cho những giá trị truyền thống dân tộc.
Thứ tư, phải xuất phát từ yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới. Ngày nay
hội nhập về kinh tế, khoa học - công nghệ đã trở thành xu thế của thời đại, là
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
6
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
con đường tất yếu để các quốc gia phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc. Xây
dựng đội ngũ công chức đáp ứng nhu cầu hội nhập là yêu cầu tất yếu khách
quan.
Thứ năm, xây dựng tiêu chuẩn công chức phải giải quyết một cách khoa
học gĩưa định tính và địng lượng, giữa trước mắt và lâu dài phù hợp với thực tế
Việt Nam. Yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm đội ngũ các bộ, công chức nước
ta hiện nay là trưởng thành từ nhiều nguồn khác nhau, một bộ phận không nhỏ
là trưởng thành từ chiến tranh cách mạng, họ có rất ít điều kiện học tập cơ bản,
hệ thống, nhưng lại là những người có bề dày kinh nghiệm, có vốn tri thức
được đúc rút từ thực tiễn rất phong phú. Bên cạnh đó là bộ phận trưởng thành
trong hoà bình, được đào tạo cơ bản, có hệ thống nhưng vốn tri thức kinh
nghiệm thực tế còn hạn chế.
Xây dựng tiêu chuẩn công chức trong điều kiện trên dễ xuất hiện hai xu
hướng: Hạ thấp tiêu chuẩn hoặc nóng vội đốt cháy giai đoạn. Khuynh hướng
thứ nhất sẽ không tạo ra động lực phấn đấu vươn lên dễ làm cho đội ngũ cán
bộ, công chức của chúng ta tụt hậu so với khu vực và thế giới. Khuynh hướng
thứ hai sẽ dẫn đến bỏ những công chức vốn có công và thực sự có tài năng. Vì
vậy tiêu chuẩn của công chức Việt nam hiện nay vưa phải có “phần cứng” đáp
ứng nhu cầu phát triển lâu dài của đất nước, từng bước theo kịp trình độ phát
triển của khu vực và thế giới. Đồng thời phải có “phần mềm” phù hợp với điều
kiện thực tế của của đội ngũ cán bộ, công chức Việt nam hiện nay. Để thực
xếp vào ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính, bởi vậy, công chức
đang có một vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của Nhà nước quản
lý toàn xã hội.
- Công chức có nhiều kinh nghiệm sống được tích luỹ tuỳ theo lĩnh vực mà
họ hoạt động. Bởi là công chức, họ phải được đào tạo ở trình độ nhất định,
cùng với vị trí làm việc của mình trong bộ máy công quyền.
II. YÊU CẦU CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC (CB, CC)
Theo V.I.Lênin, phẩm chất cao quý của cán bộ được hiểu là họ có lòng
trung thành cới sự nghiệp và có năng lực. Do đó CB, CC nhà nước phải có
trình độ và tiêu chuẩn nhất định.
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
8
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
2.1. Năng lực của cán bộ, công chức
Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một
tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác
định. Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con
người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu
cụ thể trong một điều kiện xác định. Thông thường người ta chỉ rằng năng lực
gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ .
Năng lực của cán bộ công chức không phải là năng lực bất biến, được sử
dụng trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Ở thời điểm hay môi trường này, năng
lực được thể hiện, phát huy tác dụng, nhưng ở thời điểm khác thì cần phải có
loại năng lực khác. Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh , môi trường khác nhau đặt ra
yêu cầu về năng lực khác nhau. Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến
khác không có nghĩa là có năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ giỏi
trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa thị trường, cũng không có nghĩa là
người đó cung có khả năng trở thành một giáo viên ngay được.
tác đã trải qua).
+ Kỹ năng (thành thạo nghiệp vụ, biết làm các nghiệp vụ chuyên môn).
2.1.2. Năng lực tổ chức
Năng lực tổ chức bao gồm khả năng động viên và giải quyết các công
việc, đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viên của
đồng nghiệp, khả năng làm việc với con người và đưa tổ chức tới mục tiêu,
biết dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành, phối hợp công việc và
kiểm soát công việc. Năng lực này đặc biệt cần thiết và quan trọng đối với
CB,CC, vì vậy nó hay được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm. Cách nhận biết một
người có năng lực tổ chức có thể dựa vào những tiêu chuẩn mang tính định
tính:
+) Biết mình, nhất là biết nhìn mình qua nhận xét của người khác.
+) Biết người, nghĩa là biết nhìn nhận con người đúng với thực chất của họ
và biết sử dụng họ.
• Có khả năng tiếp cận dễ dàng với những người khác
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
10
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
• Biết tập hợp những người khác nhau vào một tập thể theo nguyên tắc
bổ sung nhau.
• Biết giao việc cho người khác và kiểm tra việc thực hiện của họ.
+) Tháo vát, sáng kiến biết cần phải làm gì và làm như thế nào trong mọi
tình huống, có những giải pháp sáng tạo.
+) Quyết đoán, dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm.
2.2. Phẩm chất đạo đức
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong hầu hết các tình huống thăm
và tiếp xúc, làm việc, không khi nào quên giáo dục về hai đức tính này cho cán
bộ, công chức.
một người đã là cán bộ thì tư cách đạo đức của họ không chỉ ảnh hưởng riêng
đến bản thân họ mà còn ảnh hưởng đến Đảng và nhân dân, nhất là những tính
xấu, tính xấu của một người thường có hại cho người đó, tính xấu của cán bộ
sẽ có hại cho Đảng, cho nhân dân. Người đã xác định “các cơ quan của chính
phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là đều gánh
vác công việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ
dưới quyền của Pháp, Nhật” cán bộ phải biết đặt lợi ích của Đảng, của nhân
dân lên trên lợi ích cá nhân, lấy quyền lợi cuả nhân dân làm mục tiêu quan
trọng nhất trong công việc: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có
hại cho dân phải hết sức tránh”. Điều quan trọng để CB, CC được dân tin yêu,
ủng hộ không đơn thuần vì danh nghĩa mà chính là ở chỗ CB, CC phải có đạo
đức, trung thực, thực sự gương mẫu trước dân, lo trước dân, vui sau dân, hết
lòng chăm lo cho cuộc sống của dân. Tinh thần phục vụ nhân dân của CB,CC
phải được thể hiện trong tác phong làm việc , muốn làm tốt việc lãnh đạo , vận
động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước CB, CC
phải có tác phong gần dân, trọng dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân. Ý thức
phục vụ tận tụy nhân dân và đạo đức trong sáng là phẩm chất quan trọng nhất
để CB, CC xứng đáng là công bộc - người đầy tớ của nhân dân. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng rất quan tâm tới việc đào tạo, bồi dưỡng để hình thành những
tư chất đặc thù cho cán bộ, người lãnh đạo đúng đắn cần phải: “khi thất bại
không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo, khi thi hành các nghị quyết
kiên quyết, gan góc, không sợ khó khăn” . CB phải chí công vô tư , không
được lợi dụng chức quyền để mưu lợi riêng, hoặc chia bè kéo cánh, làm việc vì
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
12
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
ân oán cá nhân “mình là người làm việc công phải có công tâm, công đức, chớ
đem của công dùng vào việc tư, chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng
=================================================
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta
xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá vì thế đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã lại càng có vai trò quan trọng. Bởi lẽ đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy
tổ chức xã. Vì vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị các xã có
tầm quan trọng đặc biệt về nhiều mặt và là một trong những nhân tố có ý nghĩa
chiến lược, quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng và phát triển nông
thôn mới.
Đội ngũ cán bộ công chức nhà nước bao gồm nhiều cấp; tuy nhiên, cán
bộ cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã) có tầm quan
trọng bậc nhất. Lý do là mặc dù cấp xã là cấp đơn vị hành chính nhỏ nhất
nhưng lại là nơi gần dân nhất, nơi mà mọi đường lối chủ trương chính sách của
Đảng, Nhà nước trực tiếp đi vào cuộc sống, đồng thời là nơi tiếp thu những ý
kiến của dân để phản ánh lại cho đảng và Nhà nước kịp thời sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp. Trên thực tế, cán bộ cấp xã hàng ngày phải giải quyết một khối
lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến tất cả mọi mặt của
đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; vì vậy, nếu
đội ngũ này thiếu phẩm chất và năng lực sẽ gây những hậu quả tức thời và
nghiêm trọng về nhiều mặt cho các địa phương nói riêng và cho cả nước nói
chung.
3.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức xã Tiến Thịnh
Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn hiện nay nhìn chung còn
yếu, tỷ lệ được chuẩn hóa còn chưa cao và chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu,
nhiệm vụ mà Nghị quyết số 17/NQ-TW đề ra.
Tính đến nay, dân số xã Tiến Thịnh có gần mười hai nghìn người, theo
Nghị định số 92/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối
với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã thì xã Tiến Thịnh được định biên 19 cán bộ, công chức.
Trong đó :
Qua số liệu thống kê thì ta có thế thấy ở xã Tiến Thịnh, đang nổi lên một
số khó khăn, vướng mắc, bất cập về công tác cán bộ và chế độ, chính sách là:
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
15
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
- Nhiều cán bộ, công chức cơ sở chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống;
tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn còn cao;. Một số cán bộ chủ chốt ở xã, tuổi cao,
năng lực hạn chế nhưng chưa đủ điều kiện về tuổi và năm công tác để nghỉ chế
độ nên không bố trí được cán bộ trẻ thay thế. Một số cán bộ cơ sở tuy đã nghỉ
việc nhưng chưa giải quyết được về chế độ, chính sách, ảnh hưởng đến tư
tưởng của số cán bộ trẻ đang công tác.
- Từ việc đào cán bộ, công chức chưa được bài bản dẫn tới hệ quả như :
+) Năng lực quản lý điều hành chưa ngang tầm với nhiệm vụ, nhất là
nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Nhận thức trong đội ngũ cán bộ, công chức
không đồng đều, thiếu chủ động sáng tạo; việc vận dụng các chủ trương, chính
sách của cấp trên vào điều kiện cụ thể của địa phương chưa được linh hoạt,
nhiều khâu còn sao chép một cách máy móc. Không ít cán bộ, công chức cơ sở
chưa nắm vững chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, không nắm vững
các quy định của pháp luật, vì vậy quá trình chỉ đạo điều hành, giải quyết công
việc còn mang tính chủ quan, tuỳ tiện theo cảm tính cá nhân, không căn cứ vào
quy định của pháp luật dẫn đến vi phạm.
+) Về năng lực thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn còn thấp, chưa có
tính chuyên nghiệp, phần lớn thiếu khả năng độc lập, quyết đoán trong giải
quyết công việc, thụ động trong thực thi các nhiệm vụ; thiếu khả năng bao quát
tình hình, đồng thời chậm thích ứng với nhiệm vụ mới. Đa số cán bộ, công
chức cơ sở chưa có khả năng tư duy, dự báo, xây dựng chương trình kế hoạch,
thiếu khả năng nghiên cứu, tổng hợp tình hình, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn;
tinh thần hợp tác, phối hợp công việc còn nhiều hạn chế, nên hiệu quả công tác
thoả đáng, chưa tạo động lực, thu hút được đội ngũ cán bộ về công tác cơ sở.
Việc xử lý những sai phạm, tiêu cực ở cơ sở chưa kịp thời và nghiêm minh,
dẫn đến có vụ việc kéo dài làm cho tình hình phức tạp thêm.
Do chậm phát triển của ngành giáo dục - đào tạo, trình độ văn hoá thấp,
nên đa số cán bộ không đủ tiêu chuẩn đầu vào để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu phát triển của cán bộ.
Mặt khác số sinh viên là người các địa phương trong vùng sau khi tốt nghiệp
ra trường xin làm việc ở các thành phố, thị xã để có điều kiện làm việc, thăng
tiến và thu nhập cao hơn nên không chịu về cơ sở công tác, chính quyền xã
cũng chưa có biện pháp tích cực về vấn đề này.
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
17
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
- Việc quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã chưa phù hợp với các
xã có dân số đông như xã Tiến Thịnh , nhất là khi chính quyền cấp xã được bổ
sung nhiệm vụ (chứng thực một số loại văn bản theo quy định của Nhà nước).
Một số cán bộ chủ chốt cơ sở tuy tuổi còn trẻ, đã được đào tạo cơ bản, có
khả năng phát triển nhưng không bố trí công tác ở cấp huyện được. Do không
quy định chức danh cán bộ văn phòng đảng ủy là cán bộ chuyên trách nên
nhiều đồng chí phó bí thư phải kiêm nhiệm thêm công tác đảng vụ, ảnh hưởng
đến chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng Đảng, nhất là đối với những
đảng bộ cơ sở có đông đảng viên.
- Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở còn bấp hợp lý,
nhất là chế độ tiền lương giữa cán bộ chuyên trách do bầu cử với công chức
chuyên môn. Với cùng trình độ đào tạo, nhưng cán bộ chủ chốt chỉ có hai bậc
lương, còn công chức chuyên môn được nâng lương thường xuyên theo niên
hạn, nên sau một số năm, công chức chuyên môn sẽ có mức lương cao hơn
mức lương của cán bộ chủ chốt; hoặc khi đã là cán bộ chuyên trách, nhưng
chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn”. Sau khi Nghị quyết ra đời, Chính phủ đã
ban hành các Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, ngày 10-10-2003, số
121/2003/NĐ-CP, ngày 21-10-2003, về cán bộ và chế độ, chính sách đối với
cán bộ xã, phường, thị trấn; tiếp đó, Ban Bí thư (khóa IX) đã ban hành các Quy
định số 94, 95-QĐ/TW, ngày 3-3-2004, về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ,
chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn.
Với sự quan tâm của đảng và nhà nước, nhiều biện pháp được thực hiện
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường nước ta như:
Đổi mới quy trình, chế độ tuyển dụng công chức; Thi nâng ngạch công chức
trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức; Tăng cường cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt cho cán
bộ, công chức trong khi làm việc…
Đổi mới quy trình, chế độ tuyển dụng công chức
Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có
tính chất quyết định đến chất lượng công chức sau này.
Tổ chức thi tuyển chung công chức ở các ngạch cho các cơ quan nhà
nước ở trung ương, địa phương không nên giao cho từng cơ quan nhà nước tự
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
19
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
tuyển công chức như hiện nay. Vì, sẽ phá vỡ kế hoạch chung của nền công vụ,
mà còn gây ra những tiêu cực khó lường. Từ đó, chúng ta không dự liệu một
cách đầy đủ nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực cho bộ máy nhà nước.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã thuê các công ty tư nhân để tổ chức thi
tuyển công chức theo yêu cầu, theo đơn đặt hàng của ủy ban công vụ, trên cơ
sở ký kết hợp đồng hành chính về tuyển dụng công chức. Trên thực tế, ở Việt
Nam, một số địa phương đã tiến hành tuyển viên chức tập trung cho toàn
ngành.
Khi xem xét đào tạo và bồi dưỡng trong tổng thể quản lý và phát triển
nguồn nhân lực trong công vụ, điều quan trọng là cần xây dựng một chiến lược
đào tạo để nhìn nhận và dự báo yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cán bộ, công
chức cần thiết trong hiện tại và tương lai một cách chủ động, từ đó điều chỉnh
các hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu mới. Các bộ phận liên quan tới
bộ phận quan trọng này trong cải cách hành chính bao gồm:
1 - Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo;
2 - Cải tiến giáo trình và tài liệu giảng dạy;
3 - Vận dụng phương pháp đào tạo mới, lấy người học làm trung tâm;
4 - Tăng cường cơ sở vật chất hỗ trợ đào tạo;
Xét cho cùng, trước mắt cần tăng cường năng lực cho chính đội ngũ
giảng viên để đảm đương được nhiệm vụ này.
Để nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức ở xã Tiến
Thịnh hiện nay, ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kiến
thức hành chính, cấp ủy chính quyền địa phương cũng như cấp trên cần chú
trọng đào tạo về kỹ năng hành chính. Do đó, nội dung chương trình phải trả lời
được câu hỏi: các chức danh đó là gì và thực thi nhiệm vụ như thế nào?
Chuyển đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sang đào tạo, bồi dưỡng
nhằm nâng cao năng lực giải quyết các công việc theo tình huống (tri thức +
kỹ năng + hành vi ứng xử).
Thường xuyên thi sát hạch công chức để đánh giá năng lực công chức (5
năm một lần). Ấn định số lượng công chức theo ngạch trong các cơ quan nhà
nước (xác định cơ cấu công chức trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến
địa phương). Quy định các loại văn bằng, chứng chỉ tương ứng với các chức
vụ chuyên môn và chức vụ quản lý.
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
21
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
22
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
với một bên là những cán bộ trẻ đã được đào tạo, trang bị kiến thức chuyên
ngành và đạt chuẩn về trình độ nhưng lại thiếu trải nghiệm thực tế. Phần lớn
các cán bộ công chức vẫn chưa xác định rõ ràng nhiệm vụ cụ thể đối với từng
vị trí công việc nên khó đưa ra được các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng tương
ứng với các nhiệm vụ phải thực hiện đối với cán bộ, công chức. Trong khi đó
đây chính là căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng sát với nhu cầu công việc. Mặt
khác, một số cơ quan, đơn vị tuyển dụng, điều động, tiếp nhận cán bộ, công
chức có trình độ, chuyên ngành đào tạo không phù hợp với nhiệm vụ chuyên
môn của từng vị trí công tác cụ thể nên không tránh khỏi phải đào tạo lại, gây
lãng phí.
Để công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thực sự đạt hiệu quả,
góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ trong tình hình mới, thiết nghĩ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức ở địa phương trong thời gian tới cần phải được sự quan tâm của các
cấp, các ngành và cá nhân liên quan.
Thứ nhất, đối với bản thân cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi
dưỡng phải xác định nhiệm vụ học tập là để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, bổ sung, cập nhật kịp thời những kiến thức mới nhằm hoàn thành
một cách tốt nhất nhiệm vụ trong thời gian đến.
Thứ hai, các cơ quan cử cán bộ, công chức đi học cần phải xây dựng kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cụ thể trên cơ sở dự nguồn, kế cận và nhu cầu thực
tiễn; đặc biệt cần lưu ý giải quyết một cách hợp lý mâu thuẫn nguồn nhân lực
nội bộ như đã nêu trên nhằm huy động, sử dụng một cách tốt nhất nguồn nhân
lực hiện có. Đồng thời, phải xác định nhiệm vụ rõ ràng cho từng vị trí công
việc, trên cơ sở đó cử cán bộ, công chức tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng
hoặc tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ, công chức phù hợp với vị trí công tác đó.
kinh tế chung của cả nước. Các giải pháp cụ thể như sau:
Một là, trên cơ sở phân loại xã, phường, thị trấn theo Nghị định số
159/2005/NĐ-CP của Chính phủ, xác định biên chế và mức phụ cấp trách
nhiệm cho phù hợp với quy mô và chức danh cán bộ của mỗi xã, phường, thị
trấn. Trong số cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn hiện nay, cần khẩn
trương nghiên cứu để phân loại và có chính sách phù hợp theo hướng:
HOÀNG VĂN VÂN – K19B09
24
=================================================
TIỂU LUẬN TÔT NGHIỆP – LỚP TRUNG HỌC CHÍNH TRỊ K19B09
=================================================
+ Một số chức danh cán bộ chuyên trách cần thiết và có đủ điều kiện, tiêu
chuẩn của công chức nhà nước thì chuyển sang chế độ công chức nhà nước để
tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ ở các cấp. Số cán bộ này được hưởng
lương chuyên môn, nâng lương theo niên hạn và phụ cấp trách nhiệm theo
chức danh trên cơ sở phân loại xã, phường, thị trấn.
+ Các chức danh cán bộ chuyên trách khác không đủ điều kiện, tiêu chuẩn
để chuyển thành công chức nhà nước thì giữ nguyên. Khi được bầu cử giữ
chức vụ nào thì hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo chức vụ đó và thực
hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc, khi thôi đảm nhiệm chức vụ bầu cử thì thôi
hưởng phụ cấp và đóng bảo hiểm tự nguyện.
+ Đối với cán bộ không chuyên trách (cả cấp xã và cấp thôn) cần thực hiện
theo hướng tự quản, khoán kinh phí hoạt động và đóng bảo hiểm tự nguyện.
Chính phủ cần có hướng dẫn khung về mức phụ cấp để thực hiện thống nhất
trong cả nước.
- Hai là, cần sớm ban hành tiêu chuẩn cụ thể đối với đội ngũ cán bộ, công
chức xã, phường, thị trấn và thực hiện việc chuẩn hóa, phấn đấu đến năm 2015
đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở nói chung phải đạt chuẩn. Nếu không đạt
chuẩn thì nhất thiết phải thay thế. Có chế độ phụ cấp đối với cấp ủy viên cơ sở
và chính sách thu hút đối với cán bộ công tác ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng