ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ NGA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
2012 i
LỜI CAM ĐOAN
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm,
động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài.
Thái Nguyên, tháng năm 2012
Tác giả luận văn PHẠM THỊ NGA
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ cái viết tắt và ký hiệu vi
Danh mục các bảng biểu vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
5. Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN 5
triển nguồn nhân lực 45
3.2. Thực trạng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực của huyện
Đồng Hỷ 46
3.2.1. Thực trạng số lượng nguồn nhân lực trong nông thôn 46
3.2.2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong nông thôn 51
3.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
nông thôn huyện Đồng Hỷ 63
3.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển nguồn nhân lực nông thôn huyện
Đồng Hỷ 72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên v
3.3.1. Những thành tựu đạt được 72
3.3.2. Những thách thức, tồn tại 73
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN ĐỒNG HỶ 76
4.1. Mục tiêu, quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở
huyện Đồng Hỷ 76
4.1.1. Quan điểm, phương hướng phát triển nguồn nhân lực trong nông thôn
ở huyện Đồng Hỷ 76
4.1.2. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ở huyện Đồng Hỷ 78
4.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ
phát triển nông thôn. 81
4.2.1. Giải pháp về phát triển dân số, đầu tư, nâng cao thể lực, sức khỏe
nguồn nhân lực. 81
4.2.2. Giải pháp về đầu tư cho giáo dục đào tạo. 84
4.2.3. Tăng cường phát triển lĩnh vực đào tạo nghề. 85
4.2.4. Duy trì tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiến bộ 91
06.
ĐVT
Đơn vị tính
07.
EU
Liên minh châu Âu
08.
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
09.
HĐH
Hiện đại hoá
10.
HDI
Chỉ số phát triển con người
11.
HTX
Hợp tác xã
12.
KCN
Khu công nghiệp
13.
KHCN
Khoa học công nghệ
14.
KT - XH
Kinh tế - xã hội
15.
KVNN
Khu vực nhà nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyên Đồng Hỷ năm 2011
36
Bảng 3.2. Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Đồng Hỷ
41
Bảng 3.3. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ giai
44
Bảng 3.4 Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động năm 2010
47
Bảng 3.5. Đặc điểm và quy mô lao động theo khu vực điều tra
48
Bảng 3.6: Tỷ lệ tăng dân số của huyện Đồng Hỷ
50
Bảng 3.7: Cơ cấu trình độ văn hóa của lao động nông thôn
52
Bảng 3.8. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động
53
Bảng 3.9: Lực lượng lao động của hộ
56
Bảng 3.10: Lĩnh vực việc làm của lao động trong nông hộ
56
Bảng 3.11: Thời gian làm việc trong năm của lao động nông thôn
57
Bảng 3.12. Tổng hợp nhu cầu làm thêm của các hộ điều tra
59
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: Con người
luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy
việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững. Tri thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và luôn
được tái sinh với chất lượng ngày càng cao hơn bất cứ một nguồn lực nào
khác. Lịch sử phát triển nhân loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: Nguồn
lực con người là lâu bền nhất, chủ yếu nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội
và sự nghiệp tiến bộ của nhân loại.
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới với
những thành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống
kinh tế - xã hội, đặc biệt trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, trong đó
nhân tố đóng vai trò quyết định sự biến đổi về chất dẫn tới sự ra đời của kinh
tế tri thức, chính là nguồn nhân lực (NNL) chất lượng cao.
Trước đây, trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn các nhân tố sản xuất
như số lượng đất đai, lao động, vốn được coi là quan trọng nhất, song ngày
nay quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đã góp
phần tạo lên sự thay đổi thứ tự ưu tiên. Chính nguồn nhân lực có chất lượng
cao mới là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá trình, bởi lẽ những yếu tố khác
người ta vẫn có thể thay đổi, cải tạo, khắc phục hay tạo ra nếu có đội ngũ
nhân lực được trang bị trí thức, thể lực. song tri thức chỉ xuất hiện thông qua
quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tế trong đời sống kinh tế - xã
hội; từ chính quá trình sản xuất ra sản phẩm để nuôi sống con người và làm
giàu cho xã hội. Vì vậy, để có được tốc độ phát triển cao, các quốc gia trên
thế giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chât lượng nguồn nhân lực. Ngày
nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp, công ty, các sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nông thôn của huyện
Đồng Hỷ trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài "Một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông thôn huyện Đồng Hỷ
tỉnh Thái Nguyên" để làm luận văn thạc sĩ kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
- Nghiên cứu lý luận về chất lượng nguồn nhân lực tạo cơ sở khoa học
cho phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở huyện Đồng Hỷ.
- Đề xuất các giải pháp để đào tạo và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực nhằm đáp ứng phát triển nông thôn ở huyện Đồng Hỷ đến năm 2020.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ thêm lý luận về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực
và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm rõ hơn vai trò của chất lượng
nguồn nhân lực là động lực cho quá trình CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh
tế trí thức ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở huyện Đồng Hỷ,
làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng nguồn nhân lực đó, đưa ra
những giải pháp khả thi nhằm khắc phục những hạn chế về mặt chất lượng
nguồn nhân lực.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp đào tạo, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển nông thôn ở huyện Đồng Hỷ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận nguồn nhân lực, chất lượng
nguồn nhân lực nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng. Chủ yếu tập trung
nghiên cứu làm rõ thực trạng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực, yêu cầu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1.1. Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trong nông thôn
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực
Khái niệm:
Nguồn nhân lực “là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định
của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên phạm vi một địa
phương, một ngành hoặc một vùng chia theo địa giới hành chính”.
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là nguồn lực con người của
quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào
quá trình phát triển KT-XH. Theo nghĩa hẹp có thể lượng hóa bằng một bộ
phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng
lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm.
Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực
(đang tham gia lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa
tham gia lao động), không gồm những người có khả năng lao động nhưng
không có nhu cầu làm việc. Nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong quá trình phát triển KT-XH. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay kinh tế tri
thức đang chi phối các hoạt động của nền kinh tế quốc dân thì con người trở
thành động lực trực tiếp cho mọi sự phát triển.
Các quan điểm về nguồn nhân lực:
- Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội. Vốn tư bản thuần nhất giá trị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
định lượng nhưng vốn nhân lực bao hàm cả hai giá trị định lượng, định tính
và quyết định hiệu quả lao động. Hiệu quả lao động đồng nhất khái niệm tăng
năng suất lao động xã hội, là tiền đề cải tạo xã hội. Mặt khác hiệu quả lao
động phản ánh sức khỏe, trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật, khả năng tay
nghề của lực lượng lao động. Các nhà kinh tế học khi nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế đã đặc biết chú ý đến chất lượng lao động
và vai trò của tiến bộ khoa học công nghệ. Nếu lao động chỉ đề cập đến số
lượng sẽ không mang lại tăng trưởng, chỉ có tiến bộ công nghệ được lao động
ứng dụng hiệu quả mới giải thích được sự gia tăng không ngừng.
- Xu hướng phát triển của nguồn nhân lực:
Giai đoạn hiện nay, con người không những muốn thoả mãn nhu cầu
vật chất ngày càng nhiều và đa dạng mà còn mong muốn bảo vệ môi trường
trong quá trình sản xuất, tạo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội nhanh
chóng và bền vững. Để giải quyết được yêu cầu trên thì con người có trí tuệ
mới là nhân tố quyết định thực hiện mục tiêu đó. Trong thời đại mới nhân tố
con người có tri thức ngày càng đóng vai trò quyết định hơn trong lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất. Đối với người lao động hiện tại cũng như trong
tương lai không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm sản xuất mà đồng thời phải kết
hợp với tri thức khoa học mới có thể nâng cao năng suất lao động. Chức năng
của con người đã và sẽ có những biến đổi to lớn, các thao tác trực tiếp của con
người sẽ ngày càng ít, thay vào đó là sự sáng tạo và sự điều khiển gián tiếp
vào các khâu trong quá trình sản xuất. Khoa học công nghệ là sản phẩm lao
động trí tuệ của con người, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
1.1.2. Nguồn nhân lực nông thôn, chất lượng nguồn nhân lực và các tiêu
thức xác định
nghiên cứu khoa học nông nghiệp, cán bộ y tế, văn hóa - xã hội, công nhân
các nhà máy phục vụ sản xuất nông nghiệp Do vậy, NNL nông thôn là
nguồn lao động phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn,
nó phản ánh qui mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độ gia tăng dân
số ở nông thôn qua các thời kỳ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
NNL nông thôn phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư và lao động trong
các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo, cơ cấu trình độ lao
động, cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động nông thôn và cơ cấu nguồn lao
động dự trữ ở nông thôn, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
NNL nông thôn là khái niệm phản ánh phương diện chất lượng của LLLĐ ở
nông thôn trong hiện tại và trong tương lai gần thể hiện qua hàng loạt các yếu
tố như: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; mức sống; trình độ giáo dục,
đào tạo về văn hóa và về chuyên môn nghề nghiệp; năng lực sáng tạo, khả
năng thích nghi, kỹ năng và văn hóa lao động, các khía cạnh tâm lý, đạo đức,
lối sống v.v , trong đó thể lực, trí lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng
nhất. Bên cạnh đó, nó cũng nói lên sự biến đổi và xu hướng của sự biến đổi về
số lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư và lực lượng lao động ở nông thôn.
Trong NNL nông thôn, thanh niên nông thôn là một lực lượng khá
đông đảo, chiếm trên 30% dân số và trên 50% lực lượng lao động trong nông
nghiệp. Đây là một nguồn lực vô cùng quý giá để thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Do vậy, phát triển NNL trẻ, có chính sách đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho thanh niên nông thôn và giải quyết tốt
các vấn đề xã hội ở nông thôn là một nhiệm vụ và yêu cầu cấp thiết trong quá
trình CNH, HĐH. NNL nông thôn còn bao hàm một lực lượng hết sức đông
đảo và có vai trò đặc biệt quan trọng ở nông thôn là phụ nữ nông thôn. Phụ nữ
nông thôn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gia đình và đặc biệt
phương hướng và giải pháp hợp lý, có hiệu quả nhằm nâng cao và sử dụng
nguồn tiềm năng quan trọng này. Qua việc phân tích thực trạng NNL nông
thôn và những vấn đề đang đặt ra ra đối với NNL nông thôn trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Ta thấy NNL nông thôn hiện nay có những đặc điểm sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
- Nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh.
Do dân số nước ta phần lớn sống ở nông thôn nên NNL nông thôn hiện
nay khá đông. Theo Tổng Cục Thống kê năm 2011, lực lượng lao động nông
thôn có 35.619,1 nghìn người, chiếm 73,6%; năm 2009 có 34.953,2 nghìn
người, chiếm 74,1%. Qua hai năm 2009-2011 tỷ lệ lao động ở nông thôn đã
tăng 665,9 nghìn người, nhìn chung NNL nông thôn vẫn còn lớn. Dự đoán
sau năm 2020, lao động nông thôn nước ta vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong lực
lượng lao động xã hội.
Đặc điểm này cho thấy tiềm năng nhân lực ở nông thôn nước ta rất to
lớn và dồi dào. Đây là lực lượng lao động trẻ khỏe, có khả năng tiếp thu và
nắm bắt kỹ thuật mới nhanh, năng động và sáng tạo, nếu được bồi dưỡng và
đào tạo chu đáo. Tuy nhiên, NNL chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh, cùng với
quá trình đô thị hóa và mất dần đất nông nghiệp (nhất là vùng đồng bằng đông
dân và vùng ven đô thị ) diễn ra tương đối nhanh như hiện nay, trong khi
chưa đủ điều kiện để chuyển họ sang làm ngành nghề phi nông nghiệp và dịch
vụ sẽ dẫn tới tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm tiềm tàng ở nông thôn là
rất lớn, gây sức ép lớn về giải quyết việc làm và thu nhập, xóa đói giảm nghèo
ở nông thôn, làm cho mâu thuẫn giữa khả năng tạo việc làm còn hạn chế với
nhu cầu giải quyết việc làm quá lớn vốn đã căng thẳng lại càng căng thẳng
hơn. Vì vậy vấn đề khắc phục mất cân đối cung- cầu về lao động ở nước ta
phải giải quyết bắt đầu từ nông nghiệp, nông thôn.
- Nguồn nhân lực nông thôn nước ta phân bố không đều giữa các
nay. Giải quyết tốt vấn đề di dân có tổ chức và di dân tự do hiện nay nhằm
điều chỉnh hợp lý sự phân bố lao động giữa các vùng lãnh thổ.
Sự mất cân đối về lao động giữa các vùng nếu không được giải quyết
tốt sẽ làm sâu sắc thêm khoảng cách và chênh lệch giữa các vùng, giữa nông
thôn với thành thị, giữa đồng bằng - miền núi vùng sâu, vùng xa làm ảnh
hưởng tới tốc độ phát triển kinh tế - xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
- Nguồn nhân lực nông thôn nước ta còn thu nhập thấp là phổ biến,
vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn vẫn tiếp tục đặt ra gay gắt.
Lao động ở nông thôn chủ yếu là lao động giản đơn thủ công, cơ bắp
v.v lao động thặng dư không đáng kể (do trình độ cơ giới hóa thấp, thời gian
sử dụng lao động thấp nên năng suất thấp). Thực tế cho thấy, để sản xuất ra
100kg thóc hiện nay ở nông thôn cần từ 10-20 ngày công lao động, trong khi
đó nhiều nước chỉ cần vài giờ. Năng suất lao động thấp, thiếu việc làm dẫn
đến thu nhập thấp là điều tất yếu. Hơn nữa, về mức độ thu nhập, thì sự chênh
lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa công nghiệp và nông nghiệp
ngày càng gia tăng. Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn trong xóa đói,
giảm nghèo, nhưng hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nghèo; 10,5 triệu
người (13,7% dân số) còn sống trong nghèo đói, trong đó có 1,2 triệu người
thuộc diện đói kinh niên.
Theo định nghĩa rộng hơn về đói nghèo của Ngân hàng thế giới thì
không ít hơn 20 triệu người ở nước ta (chiếm 31,4%) còn sống dưới mức thu
nhập tối thiểu. Nghèo đói vẫn là vấn đề chủ yếu của nông thôn Việt Nam, mặc
dù do những cố gắng trong chương trình xóa đói giảm nghèo của Chính phủ,
tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn đã giảm từ 66,4% năm 2007 xuống còn 30,9%
năm 2010 theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới. Người nghèo ở nông thôn
nghèo hơn rất nhiều so với người nghèo ở thành thị, bởi mức chi tiêu của họ ở
trình phân công và hợp tác lao động trong nước và quốc tế.
Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời với hàng ngàn năm lịch sử.
Trải qua biết bao biến cố thăng trầm của đất nước, những yếu tố của nền văn
hóa truyền thống đã giúp chúng ta đứng vững và đi lên, không bị đồng hóa
ngay cả khi bị xâm lược và đô hộ. Bởi vậy, cần phải coi yếu tố tinh thần gắn
với truyền thống dân tộc là một nguồn lực quan trọng để tiến hành CNH,
HĐH đất nước. Theo nghĩa rộng hơn, phải coi văn hóa, đặc biệt là văn hóa
tinh thần là một nguồn lực to lớn, vô tận trong các nguồn lực để phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
Mặt khác, với tác động của quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước sau
15 năm gắn với cơ chế thị trường, ở nông thôn nước ta đang hình thành những
người lao động có nhân cách và lối tư duy mới. Từ những người ỷ lại, kém
năng động, ít tháo vát trong sản xuất và kinh doanh trước đây, đến nay, thanh
niên nông thôn đã biết chấp nhận cạnh tranh, dám phiêu lưu mạo hiểm, biết tự
tìm cách khẳng định bản thân để tồn tại mà không bị đào thải, không bị hòa
tan. Cùng với những đổi mới về nhân cách, nhiều định hướng giá trị mới cũng
đang được hình thành. Đó là những mong muốn và nhu cầu cần được làm
việc, có thu nhập cao, nhu cầu học hỏi để vươn lên, sống có trách nhiệm, có
tình nghĩa, là những mong muốn được sống trong hòa bình, ổn định để phát
triển Chính những định hướng giá trị mới vừa mang tính hiện đại, vừa thể
hiện tính truyền thống đó đã góp phần tạo nên những con người có nhận thức
cao, có bản lĩnh vững vàng để đi vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Tuy
nhiên, bên cạnh những ưu thế ấy, như đã trình bày trên, NNL nông thôn nước
ta, còn có những hạn chế và bất cập rất lớn so với yêu cầu phát triển nền kinh
tế hàng hóa và CNH, HĐH đất nước. Đó là, hạn chế về sức khỏe với các chỉ
tiêu quan trọng nhất như thể lực, tầm vóc, tuổi thọ trung bình của người lao
động; hạn chế và bất cập về trình độ văn hóa; yếu kém về trình độ chuyên
tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng, nền kinh
tế thế giới đang biến đổi rất sâu sắc và mạnh mẽ. Đây không phải là một sự
biến đổi bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại. Nền
kinh tế chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài
người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ, (kinh tế tri thức
- knowledge economy) nói lên vai trò quyết định của tri thức và công nghệ
đối với phát triển kinh tế. Tri thức ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp của
sản xuất. Đầu tư vào tri thức con người trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng
trưởng kinh tế dài hạn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
1.1.2.4. Các tiêu thức xác định chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định thể hiện mối quan hệ
giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất
lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển
kinh tế mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội. Bởi lẽ
chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo động lực mạnh mẽ hơn với tư cách
không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh
của một xã hội. Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật theo nhóm
tuổi, theo giới tính, dân tộc là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng
nguồn nhân lực. Ngoài ra chất lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở tay nghề, tác
phong nghề nghiệp, cơ cấu chia theo các đặc trưng, thiên hướng ngành nghề.
Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực xét về mặt xã hội được thể hiện
qua một số hệ thống chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của dân cư: Sức khỏe là trạng
thái thoải mái về chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là có
bệnh tật hay không. Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong
và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần. Hiện trạng sức khỏe được đánh giá