SỬ DỤNG NGUỒN LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 28

BÀI TIỂU LUẬN
SỬ DỤNG NGUỒN LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trước xu thế phát triển như vũ bảo của khoa học công nghệ, của toàn cầu hoá, đặc
biệt là sự nổi lên của nền kinh tế tri thức và các nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm
hơn. Thì ngày nay con người được xem xét là yếu tố cơ bản, yếu tố năng động cho sự
phát triển bền vững. Chính vì vậy con người được đặt vào vị trí trung tâm, con người
vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, tốc độ phát triển kinh tế
của một quốc gia là do con người quyết định.
Việt nam là quốc gia có truyền thống nông nghiệp lâu đời, nông thôn hiện đang
chiếm hơn 70% lao động xã hội và đây là một nguồn lực lao động dồi dào, đầy tiềm
năng cho sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện thành công quá trình CNH –
HĐH (công nghiệp hoá hiện đại hoá) đất nước. Nhưng đây cũng là thách thức lớn cho
vấn đề sử dụng lao động ở nông thôn, khi mà tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm đang
còn rất lớn và có nguy cơ ngày càng gia tăng làm kìm hảm sự phát triển của đất nước.
Chính vì vậy mà nhóm em chọn đề tài: “Sử dụng nguồn lao động ở nông thôn, thực
trạng và giải pháp” để có thể góp một phần ý kiến của mình vào việc giải quyết việc
làm ở nông thôn nước ta hiện nay.
B. NỘI DUNG:
I. Một số khái niệm:
1.1. Khái niệm nguồn nhân lực:
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế
như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn
lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tài
nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con
người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể
đạt được sự phát triển như mong muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc hội
nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn

lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm
nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc
làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu:
Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã
hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo
của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần
phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
1.2. Phân loại nguồn nhân lực:
Có nhiều cách phân loại khác nhau:
Phân loại nguồn nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động có: lao động trong
lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đang rất phổ biến ở nước ta hiện nay, nhưng
khi chuyển sang nền kinh tế tri thức phân loại lao động theo tiếp cận công việc nghề
nghiệp của người lao động sẽ phù hợp hơn. Lực lượng lao động được chia ra: lao động
thông tin và lao động phi thông tin.
+ Lao động thông tin lại được chia ra 2 loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu.
Lao động dữ liệu (thư ký, kỹ thuật viên...) làm việc chủ yếu với thông tin đã được mã
hoá, trong khi đó lao động tri thức phải đương đầu với việc sản sinh ra ý tưởng hay
chuẩn bị cho việc mã hoá thông tin. Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này.
+ Lao động phi thông tin được chia ra lao động sản xuất hàng hoá và lao động cung
cấp dịch vụ. Lao động phi thông tin dễ dàng được mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật,
công nghệ.
Như vậy, có thể phân loại lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động
quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hoá. Mỗi
loại lao động này có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm. Nồng độ tri
thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của
lực lượng lao động trí thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu ở nước ta, tỷ lệ lao
động phi thông tin còn rất cao trong cơ cấu lực lượng lao động, do đó hàng hoá có tỷ lệ
3
trí tuệ thấp. Muốn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cần tăng nhanh tỷ lệ

tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đối
với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH - HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri
thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất
lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH -
HĐH đất nước và phát triển bền vững. Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất
lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt
hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước nhằm
phát triển bền vững
Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là
nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn.
II. Thực trang nguồn nhân lực nông thôn nước ta khi bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa – hiện đại hóa:
2.1. Số lượng Nguồn nhân lực nông thôn:
Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vực nông thôn, tính đến
ngày 1/7/2002, dân số cả nước là 79,93 triệu người, thì dân số nông thôn là 60,05 triệu
người (75,13%). Số người trong độ tuổi lao động là 35,44 triệu, khoảng 59% dân số,
trong đó 30,9 triệu người tham gia vào lực lượng lao động (LLLĐ). Tốc độ tăng dân số
bình quân hơn 10 năm qua là 1,7%, mức tăng trung bình của số người trong độ tuổi lao
động là 2,6% năm.
Ở khu vực nông thôn, do tỷ lệ sinh cao trong thập niên 80 nên hiện nay số người
bước vào tuổi lao động là khá lớn, khoảng 1,2-1,3 triệu người, và là nơi đang tập trung
một số lượng lớn lực lượng lao động của cả nước và với tốc độ tăng khoảng hơn 2,5%
năm. Nhưng thời gian trung bình chưa sử dụng của cả nước vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao,
năm 1998 là 29,12%, năm 2002 còn 24,46. Với LLLĐ ở nông thôn năm 2002 là 30,98
triệu người và thời gian chưa sử dụng trung bình cả nước là 24,46 %, nếu quy đổi thì sẽ
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status