Lời nói đầu
Trớc xu thế phát triển nh vũ bảo của khoa học công nghệ, của toàn cầu hoá,
đặc biệt là sự nổi lên của nền kinh tế tri thức và các nguồn lực ngày càng trở nên
khan hiếm hơn. Thì ngày nay con ngời đợc xem xét là yếu tố cơ bản, yếu tố năng
động cho sự phát triển bền vững. Chính vì vậy con ngời đợc đặt vào vị trí trung tâm,
con ngời vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, tốc độ phát
triển kinh tế của một quốc gia là do con ngời quyết định.
Việt nam là quốc gia có truyền thống nông nghiệp lâu đời, nông thôn hiện
đang chiếm hơn 70% lao động xã hội và đây là một nguồn lực lao động dồi dào, đầy
tiềm năng cho sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện thành công quá trình
CNH - HĐH (công nghiệp hoá hiện đại hoá) đất nớc. Nhng đây cũng là thách thức
lớn cho vấn đề sử dụng lao động ở nông thôn, khi mà tình trạng thất nghiệp thiếu
việc làm đang còn rất lớn và có nguy cơ ngày càng gia tăng làm kìm hảm sự phát
triển của đất nớc. Chính vì vậy mà em chọn đề tài "Sử dụng nguồn lao động ở nông
thôn" để có thể góp một phần ý kiến của mình vào việc giải quyết việc làm ở nông
thôn nớc ta hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Vĩnh Giang đã giúp đỡ em hoàn
thành đề tài này. Tuy nhiên hiểu biết của em về vấn đề còn hạn chế nên em hy vọng
thầy có thể cho em ý kiến để lần sau để em có thể hoàn thiện đề tài hơn và có thể áp
dụng nó vào giải quyết việc làm ở nông thôn quê hơng em một cách tốt hơn. Em xin
chân thành cảm ơn.
1
Phần I: Cơ sở lý luận về nguồn lao động và sử dụng
nguồn lao động ở nông thôn Việt Nam.
I. Các khái niệm cơ bản liên quan đến nguồn lao động và sử dụng
nguồn lao động ở nông thôn Việt Nam.
1. Các khái niệm cơ bản:
a) Khái niệm chung về lao động.
Lao động là hoạt động có mục đích của con ngời nhằm biến đổi các vật chất tự
nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Trong quá trình sản
xuất, con ngời sử công cụ lao động tác động lên đối tợng lao động nhằm tạo ra sản
Trớc đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung ngời lao động đợc coi là có việc
làm và đợc xã hội thừa nhận là ngới làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh,
khu vực nhà nớc và khu vực kinh tế tập thể. Trong cơ chế đó nhà nớc bố trí việc làm
cho ngời lao động.
Hiện nay, nền kinh tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, quan niệm về việc làm đã thay đổi một cách căn bản. Theo điều 13 chơng 3 Bộ
luật lao động nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 đã ban hành: "Mọi
hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đợc thừa nhận là
việc làm". Với quan niệm về việc làm nh trên sẽ làm cho nội dung của việc làm đợc
mở rộng và tạo ra khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc
làm cho nhiều ngời. Điều này đợc thể hiện trên hai góc độ:
+Thị trờng việc làm đợc mở rộng bao gồm tất cả các thành phần kinh tế, các
hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và cũng không hạn chế về mặt không gian
(trong nớc, ngoài nớc....).
3
+ Ngời lao động đợc tự do hành nghề đợc tự do liên doanh, liên kết tự do thuê
mớn lao động theo pháp luật và sự hớng dẫn của Nhà nớc để tự tạo việc làm cho
mình và thu hút thêm lao động. Để hiểu thêm về khái niệm việc làm ta cần hiểu thêm
hai khái niệm sau:
Thứ nhất: việc làm đầy đủ : theo định nghĩa việc làm đầy đủ trong cuốn sử
dụng lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam (trang 23- Nhà xuất bản sự thật),
thì việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu việc làm của bất cứ ai có khả năng lao
động trong nền kinh tế quốc dân. Hay nói cách khác việc làm đầy đủ là trạng thái mà
mỗi ngời có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìm đợc việc làm trong
thời gian ngắn.
Thứ hai: thiếu việc làm: đợc hiểu là không tạo đợc điều kiện cho ngời lao
động sử dụng hết thời gian lao động của mình.
- Khái niệm tạo việc làm.
Tạo việc làm cho ngời lao động là phát huy sử dụng tiềm năng sẳn có của từng
đơn vị, từng địa phơng và của từng ngời lao động nhằm tạo ra những công việc hợp lý
là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò của nguồn lao động nói
chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế đất nớc.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nớc ta đang thực hiện CNH - HĐH đất
nớc trong đó CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn đợc đặc biệt quan tâm. Vì vậy lao
động nông thôn có vai trò hết sức quan trọng nó đợc thể hiện qua các mặt sau:
a. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành
trong nền kinh tế quốc dân.
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nguồn lực trong nông
nghiệp có số lợng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động xã hội. Song,
5
cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông
nghiệp vận động theo xu hớng giảm xuống cả tơng đối và tuyệt đối. Quá trình biến
đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn sau:
- Giai đoạn đầu: diễn ra khi đất nớc bắt đầu công nghiệp hoá, nông nghiệp
chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất lao động nông nghiệp đợc giải phóng trở
nên d thừa và đợc các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất- dịch vụ.
Nhng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn
tốc độ thu hút lao động d thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động
nông nghiệp mới giảm tơng đối, số lợng lao động tuyệt đối còn tăng lên. Giai đoạn
này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế của đất nớc
quyết định. Chúng ta có thể nhìn thấy hiện tợng này ở Việt Nam hiện nay đó là hiện
tợng có nhiều nông dân bỏ ruộng và đi làm các việc phi nông nghiệp khác hoặc đi
làm thuê với thu nhập cao hơn là làm nông nghiệp.
- Giai đoạn thứ hai: nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao động
nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao. Số lao động
dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã đợc ngành khác thu hút hết. Vì thế giai đoạn này
số lợng lao động ở nông thôn giảm cả tơng đối và tuyệt đối. Chúng ta đang trong quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và chủ trơng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông
thôn, hi vọng sẽ nâng cao đợc năng suất lao động ở nông thôn, từ đó sẽ từng bớc rút
phẩm mà ngời lao động nông thôn làm ra. Trong thời kỳ CNH - HĐH thì phát triển
công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
nông nghiệp.
d. Lao động nông thôn là thị trờng tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác.
Lao động nông thôn là thị trờng tiêu thụ sản phẩm rộng lớn của các ngành khác và
của chính bản thân ngành nông nghiệp. Tại thời điểm 01/07/2003, lực lợng lao động
của cả nớc là 42.128.343 ngời. Trong đố, khu vực nông thôn có 31.941.500 lao động
chiếm 75,82% lợc lợng lao động toàn quốc. Đến thời điểm 01/7/2004, lực lợng lao
7
động cả nớc có 43,255 triệu lao động tăng gần 2.7%so với thời điểm 01/07/2003.
Trong đó lực lợng lao động nông thôn có 32,706 triệu ngời, chiếm 75,6% lực lợng
lao động cả nớc. Với dân số trên 30 triệu thì có thể nói nông thôn là một thị trờng
tiêu thụ rộng lớn cần phải đợc khai thác triệt để.
3. Đặc điểm của nguồn lao động ở nông thôn
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các
ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao động
ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt sau:
a. Lao động nông thôn mang tính thời vụ.
Đây là đặc điểm dặc thù không thể xáo bỏ đợc của lao động nông thôn.
Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tợng của sản xuấ nông nghiệp là cây
trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và
tái sản xuất kinh tế đan xen nhau.
Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự
nhiên khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trởng và phát triển khác nhau. Tính
thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xáo bỏ đợc trong quá trình sản xuất
chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Từ đó
đặt ra vấ đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất, đặc biệt là
vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng.
b. Nguồn lao động nông thôn tăng về số lợng.
Dân số đợc coi là yếu tố cơ bản quyết định số lợng lao động: qui mô và cơ cấu
Sức khoẻ của ngời lao động nó liên quan đến lợng calo tối thiểu cung cấp cho
cơ thể mỗi ngày, môi trớng sống, môi trờng làm việc,vv.... Nhìn chung lao động nớc
ta do thu nhập thấp nên dẫn đến các nhu cầu thiết yếu hàng ngày cha đáp ứng đợc
9
một cách đầy đủ. Vì vậy, sức khẻo của nguồn lao động cả nớc nói chung và của nông
thôn nói riêng là cha tốt.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến nguồn lao động ở nông thôn
1. Các nhân tố ảnh hởng đến số lợng lao động
a. Dân số.
Dân số đợc coi là yếu tố cơ bản quyết định số lợng lao động : qui mô và cơ cấu
của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô và cơ cấu của nguồn lao động. Các yếu
tố cơ bản ảnh hởng đến sự biến động của dân số là: phong tục, tập quán của từng nớc,
trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chính sách của từng nớc đối với
vấn đề khuyến khích hoặc hạn chế sinh đẻ. Từ đó nó ảnh hởng đến qui mô của dân
số, đến nguồn lao động. Tình hình tăng dân số trên thế giới hiện nay có sự khác nhau
giữa các nớc. Nhìn chung các nớc phát triển có mức sống cao thì tỷ lệ tăng dân số
thấp: ngợc lại ở những nớc kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số cao. Tỷ lệ tăng dân số
của thế giới hiện nay là 1,8%, ở các nớc Châu á là 2 - 3% và các nớc Châu Phi là 3 -
4%. Còn ở Việt Nam con số này là 1.47% ( năm 2003) và 1.44% ( năm 2004). Hiện
nay 3/4 dân số sống ở các nớc đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh trong khi đó
phát triển kinh tế tăng chậm, làm cho mức sống của dân c không tăng lên đợc và tạo
ra áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm. Do đó kế hoạch hoá dân số đi đôi với
phát triển kinh tế là vấn đề quan tâm của các nớc đang phát triển trong đó có Việt
Nam chúng ta. Đặc biệt ở nông thôn hiện nay tỷ lệ tăng dân số vẫn cao hơn thành thị
và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 ở nông thôn cao gấp đôi so với thành thị ( 24% so với
13%)
b.Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động.
Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động là phần trăm của dân số trong độ tuổi lao
động tham gia lực lợng lao động trong tổng số nguồn nhân lực. Nhân tố cơ bản tác
động đến tỷ lệ tham gia lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Nhng do
khoảng từ 55.000-80.000 ngời di c, chiếm khoảng 40-45% trong tổng số dân tăng lên
hàng năm của thành phố này. Điều đó đã dẫn tới số lao động ở nông thôn bị giảm sút
đồng thời lao động ở thành thị tăng nhanh. Mặt khác, do không có trính độ chuyên
môn kỹ thuật nên số lao động này cũng chỉ làm những công việc nặng nhọc, bán
hàng rong ở thành phố nên thu nhập không cao nhng cũng giải quyết đợc vấn đề việc
làm trong lúc nông nhàn. tuy nhiên việc lao động nông thôn ra thành phố đông nên
đó cũng chính là gánh nặng cho thành phố về các vấn đề nh môi trờng, an ninh trật
tự. Do đó vấn đề đặt ra là phải tạo việc làm cho ngời lao động nông thôn ngay trên
chính quê hơng của họ, giải quyết việc làm theo xu hớng "ly nông bất ly hơng" tạo
việc làm để tăng thu nhập ngay trên chính quê hơng của họ bằng nhiều biện pháp nh-
: Đa dạng hoá cây trồng vật nuôI, cho ngời nghèo vay vốn với lãi suất u đãi vv
e. Dòng di chuyển lao động ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Đây là hiện tợng những ngời lao động ở nông thôn đi xuất khẩu lao động, đó
là một trong những hớng đi của một số ít ngời chứ không phải là đa số, bởi vì những
ngời có khả năng xuất khẩu lao động ở nông thôn là rất ít và những yêu cầu của nơc
nhập khẩu lao động là khá cao nên dòng di chuyển này rất ít ảnh hởng đến sản xuất
nông nghiệp.
2. Những nhân tố ảnh hởng đến chất lợng lao động ở nông thôn.
Số lợng lao động mới phản ánh đợc một mặt sự đóng góp của lao động vào
phát triển kinh tế. Mặt khác, cần đợc xem xét đến chất lợng nguồn lao động, đó là
yếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn. Chất lợng lao động có thể đợc nâng
cao nhờ giáo dục, đào tạo, nhờ sức khỏe của ngời lao động, nhờ bố trí điều kiện lao
động tốt hơn.
- Giáo dục đợc coi là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng
của con ngời theo nhiều nghĩa khác nhau. Yêu cầu chung đối với giáo dục là rất lớn,
nhất là đối với giáo dục phổ thông, con ngời ở mọi nơi đều tin rằng giáo dục rất có
12
ích cho bản thân mình và con cháu họ. Bằng trực giác, mọi ngời có thể thấy mối
quan hệ giữa giáo dục và mức thu nhập. Mặc dù không phải tất cả những ngời, ví dụ
nh đã tốt nghiệp hết cấp III có thu nhập cao hơn những ngời mới tốt nghiệp cấp I, nh-
khá thành công và có thể đợc coi là bài học kinh nghiệm quý báu cho các nớc đang
phát triển khác.
Theo số liệu của Bộ bảo trợ xã hội của Trung Quốc, trong 10 tháng đầu năm
2004 trên lãnh thổ Trung Quốc đã giải quyết việc làm cho 7,74 triệu lao động ở
thành phố, hoàn thành 86% chỉ tiêu cả năm đặt ra là 9 triệu ngời. Tính hết quý
III/2004, số ngời đăng ký thất nghiệp ở các thành phố của Trung Quốc là 8,21 triệu
ngời, tỷ lệ thất nghiệp là 4,2%, thấp hơn 0,1% so với cuối năm 2003. Hiện nay, cơ
chế mới về tạo việc làm bao gồm các hình thức: Ngời lao động tự tạo việc làm, thị tr-
ờng điều tiết việc làm, chính quyền xúc tiến việc làm... đã bắt đầu hình thành tại
Trung Quốc.
Là một nớc đông dân nhất thế giới, Trung Quốc có lợi thế với nguồn lao động
dồi dào, giá rẻ. Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, lực lợng lao
động đợc sử dụng phảI có những tiêu chuẩn nhất định về giáo dục và tay nghề, đặc
biệt là nhu cầu của các công ty nớc ngoài đối với nguồn lao động nội địa có chuyên
môn nhng ít tốn kém. Do vậy, thông qua các hình thức giáo dục, đào tạo, Trung
Quốc đã thực hiện cấp chứng nhận đủ tiêu chuẩn nghề nghiệp nhằm xây dựng một
đội ngũ lao động có trình độ học vấn, tay nghề cao. Hiện nay, tại các thành phố của
Trung Quốc, hơn 80% số ngời tìm đợc việc làm mới đã tốt nghiệp trung học phổ
thông trở lên hoặc đã qua đào tạo dạy nghề, 45 triệu ngời đợc cấp chứng nhận đủ tiêu
chuẩn nghề nghiệp.
Nhận thức rõ về tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, Chính phủ Trung Quốc
đã đặt mục tiêu giải quyết việc làm cho ngời lao động là một trong những nhiệm vụ
cấp bách nhất.
14
Các biện pháp cụ thể xác định nhằm thực hiện có hiệu qủa nhiệm vụ này là:
a. Đa mục tiêu giải quyết việc làm vào trong kế hoạch và chiến lợc phát triển
kinh tế trong các kế hoạch và chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc; Cải
cách kinh tế theo hớng phát triển nhanh khu vực dịch vụ, khuyến khích phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ; phát triển khu vực kinh tế phi nhà nớc; thực hiện chính
sách tài chính tích cực để tăng độ co giãn của cấu về lao động.
việc và sinh hoạt (thí dụ: u đãi về nhà ở, u tiên mua cổ phiếu, đợc cử đi học tập và tu
nghiệp ở nớc ngoài). Trung Quốc coi đây là một biện pháp giữ chân và thu các nhân
tài ở trong và ngoài nớc.
e. Tăng cờng công tác tào đạo và đào tạo lại ngời lao động. Đứng trớc năm vấn
đề nan giải về trình độ chuyên môn và tay nghề lao động thấp, và sự bất hợp lý trong
kết cấu kỹ năng lao động, chính Phủ Trung Quốc đã đề ra nhiều chính sách bằng
cách huy động cả sức dân vào công tác đào tạo nguồn nhân lực. Trong những năm
gần đây, Trung Quốc đã cho phép thành lập một số lợng lớn các trờng đại học và tr-
ờng dạy nghề dân lập, các lớp đào tạo sinh viên có thu học phí (đáp ứng 50% nhu cầu
chi phí đào tạo cao đẳng của Trung Quốc).
f. cải cách chính sách tiền công tiền lơng hoặc tiền công lao động.
Chính sách tiền công tiền lơng lao động của Trung Quốc có thể đợc tóm gọn
trong tám từ sau: "u tiên hiệu quả, chiếu cố công bằng". Yếu tố hiệu quả trên thị tr-
ờng lao động dợc đặt lên hàng đầu. Yếu tố công bằng trong trả công lao động ở giai
đoạn này chỉ đợc đặt trong hàng "chiếu cố công bằng" trong thời điểm hiện nay,
Trung Quốc cũng đã phải áp dụng những biện pháp vừa cụ thể, vừa kiên quyết sau:
- Tăng cờng việc thu thuế thu nhập cá nhân.
- Hoàn thiện chế độ trợ cấp xã hội và mở rộng phạm vi dịch vụ của hệ thống
an sinh xã hội.
16
- Yêu cầu chính quyền địa phơng, nhất là chính quyền thành phố lớn phải xây
dựng hệ thống an sinh xã hôi của địa phơng mình để mọi ngời đều đợc hởng mức
sống tối thiểu.
- Trung Quốc không áp dụng quy định về mức lơng tối thiểu.
g. Nâng cao hiệu quả của các "Trung tâm tái tạo việc làm" cho lao động dôi d
của các doanh nghiệp nhà nớc ở Trung Quốc.
Thực trạng giải quyết việc làm ở Trung Quốc thời gian qua có thể gợi cho
chúng ta một số kinh nghiệm sau:
- Phải có sự thống nhất nhận thức về việc làm, tầm quan trọng của việc làm
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, có công ăn việc làm là cái gốc của dân sinh.
lớn (75,82%). Do đó, để thực hiện tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn thì
việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng theo ngành nghề tạo ra nhiều việc làm để
thu hút lao động ở nông thôn đang là vấn đề bức xúc cần đợc giải quyết. Phân bố lực
lợng lao động nông thôn theo 8 vùng lãnh thổ nh sau:
- Vùng Đồng bằng Sông Hồng: 7.619.657 ngời, chiếm 23,86% lực lợng lao
động nông thôn cả nớc.
- Vùng Đông Bắc : 4.117.596 ngời chiếm 12,86% lực lợng lao động của cả n-
ớc.
- Vùng Tây Bắc: 1.156.402 ngời chiếm 3,62% lao động của cả nớc.
- Vùng Bắc trung Bộ: 4.425.112 ngời chiếm 13,85% lực lợng lao động của cả
nớc.
- Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ : 2.531.119 ngời chiếm 7,91%.
18