Tiểu luận
Thực trạng và giải pháp sử
dụng lao động nông nghiệp
nông thôn khi mất đất hiện
nay tại Việt Nam
1
Họ và tên học Viên nhóm 2:
1. Lê Quang Đại
2. Đặng Đình Đạm
3. Hoàng Trọng Đông
4. Quán Vi Giang
5. Nguyễn Thị Thu Hà
6. Trần Thị Thu Hà
7. Nguyễn Huy Hải
I. Đặt vấn đề
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước. Thực hiện chủ trương này diện tích đất cho sản xuất nông
nghiệp của nhiều địa phương đã bị thu hẹp lại để dành cho phát triển
công nghiệp. Kéo theo đó có nhiều vấn đề phát sinh đặt ra cho lãnh đạo
các ngành, các cấp phải nghiên cứu và giải quyết
Thời gian vừa qua, việc làm nông thôn phụ thuộc chủ yếu vào đất
đai canh tác. Thiếu đất canh tác, ở mức độ nào đó, đồng nghĩa với việc
thiếu việc làm của lao động nông thôn và đặc biệt là lao động phi nông
nghiệp. Tình trạng thiếu việc làm hay còn gọi là thất nghiệp bộ phận, bán
thất nghiệp là đặc trưng phổ biến của lao động nông thôn. Khu vực nông
thôn chiếm khoảng 70% lực lượng lao động của cả nước, trong đó
thường xuyên có gần 30% lao động thiếu việc làm, phổ biến là thiếu
mang tính thời vụ.
Mấy năm gần đây, tình trạng nông nhàn trở thành vấn đề xã hội
nổi cộm vì đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến di
chuyển lao động nông thôn mang tính thời vụ để tìm kiếm thêm việc làm
nếu năm 1998 là 29,12% thì năm 2002 còn 24,46%. Với lực lượng lao
động ở nông thôn năm 2002 là 30,98 triệu người và thời gian chưa sử
dụng trung bình cả nước là 24,46 %, nếu quy đổi thì sẽ tương đương
đương khoảng 7,5 triệu người không có việc làm.
Cơ cấu của lao động hiện nay ở nông thôn Việt Nam vẫn thể hiện
tính thuần nông. Trong tổng số 12 triệu hộ dân ở khu vực nông thôn thì
có tới 81% làm việc trong lĩnh vực nông-lâm- thuỷ sản, chỉ có 16,1% làm
việc ở khu vực phi nông nghiệp. Trong khi đó diện tích đất cho nông
nghiệp quá chật hẹp. Với 12 triệu hộ gia đình, nhưng chỉ có 9,4 triệu ha
đất nông nghiệp. Bình quân mỗi hộ chỉ 0,7-0,8ha, mỗi lao động 0,3ha và
mỗi nhân khẩu 0,15ha. Ở Đồng bằng Bắc Bộ, con số này còn nhỏ hơn,
chỉ 360m2/khẩu. Nếu chia ra, tất cả các hoạt động ăn, ở, đi lại, sinh hoạt
hàng ngày của một người nông dân ở Bắc Bộ chỉ dựa vào 1m2 đất.
Chưa kể, nông dân - đối tượng đông nhất trong xã hội - lại ít được
đào tạo nghề nên tỷ lệ thất nghiệp ở mức báo động, trên 83% lao động
ở nông thôn chưa qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì (con số từ Bộ
LĐTB-XH), trong khi tỷ lệ này ở thành thị là 49%. 20% lao động ở nông
thôn thất nghiệp, tương đương khoảng 4,8 triệu người, cộng thêm hàng
triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động mỗi năm.
Với tốc độ đô thị hoá cùng với việc phát triển các khu công nghiệp
đang diễn ra, khi mỗi ha đất nông nghiệp bị "xà xẻo" sẽ kéo theo 13
người rơi vào cảnh không có việc làm. Điển hình, mỗi năm, Hà Tây có
28.000-30.000 lao động đổ ra thành thị kiếm sống, trong khi con số này
phải "Nam tiến" ở Quảng Nam là 46.000 người.
III. Thực trạng
3
Thực tiễn xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN) ở
nước ta trong những năm qua cũng đang đặt ra nhiều vấn đề đối với sự
phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Những người “làm KCN”
lẫn người nông dân chưa tính hết được những vấn đề phát sinh sau khi
ngành nông nghiệp chưa thể hiện rõ. Hầu hết các địa phương đều có
những chương trình, mô hình khuyến khích sự hợp tác giữa nhà nông
với doanh nghiệp trong KCN, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhưng trên thực tế sự hợp tác này còn lỏng lẻo và chưa có hiệu quả.
Các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất ra không được các doanh
nghiệp bao tiêu hết, thường xuyên trong tình trạng canh cánh nỗi lo
“được mùa mất giá”; và ngược lại các sản phẩm công nghiệp phục vụ
4
trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn thiếu. Một số vật tư nông nghiệp như
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… vẫn phụ thuộc vào hàng hoá nhập
khẩu từ nước ngoài.
Bên cạnh đó, việc phát triển các KCN ở nước ta thời gian qua mặc
dù đã sử dụng một quỹ đất khá lớn đất nông nghiệp (chủ yếu là những
nơi “đắc địa”), nhưng những tác động tích cực trở lại của các KCN đối
với sự phát triển nông nghiệp là chưa tương xứng. Hay nói cách khác,
lợi ích do phát triển KCN đem lại đối với nông nghiệp chưa xứng với chi
phí (cả trước mắt và lâu dài) mà nông nghiệp phải hy sinh để xây dựng
các KCN.
2. Tác động của việc phát triển KCN tới nông thôn
Một trong những mục tiêu quan trọng của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước là hiện đại hoá nông thôn. Trong quá trình
thực hiện mục tiêu này, các KCN đóng vai trò rất quan trọng. Các KCN ở
nước ta đã tạo nên một diện mạo nông thôn mới, mang lại văn minh đô
thị, góp phần cải thiện đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội cho khu vực
rộng lớn được đô thị hoá.
Tuy nhiên, có một thực tế là việc quy hoạch và xây dựng đồng bộ
các khu dân cư, hệ thống hạ tầng kỹ thuật-xã hội gắn với các KCN chưa
được chú trọng. Điều đó đã dẫn đến một hệ quả là các KCN đã góp
phần đô thị hoá nông thôn nhiều hơn là hiện đại hoá nông thôn. Nhiều
vấn đề xã hội nổi cộm như trật tự, an ninh, nhà ở, đời sống văn hoá…ở
người lao động ở nông thôn nước ta.
Tuy nhiên, việc phát triển các KCN tất yếu phải đi liền với việc thu
hồi đất, mà chủ yếu là đất nông nghiệp của một bộ phận nông dân. Điều
này đang đẩy hàng chục vạn nông dân rơi vào cảnh mất đất, mất việc
làm và chưa tìm được việc làm mới. Trong số hơn 1 triệu lao động được
thu hút vào làm việc trong các KCN, liệu có bao nhiêu phần trăm trong
số đó là nông dân bị thu hồi đất và con em của họ! Điều này cũng dễ
hiểu vì các doanh nghiệp KCN cần tuyển dụng lao động có trình độ, đã
được đào tạo theo từng nghề nhất định, trong khi đó phần đông nông
dân chỉ biết nghề làm ruộng, chăn nuôi ở trình độ thấp, hoặc nghề thủ
công truyền thống; chưa có tác phong làm việc công nghiệp. Đây là một
mâu thuẫn và là vấn đề xã hội phát sinh khá gay gắt hiện nay ở nông
thôn, dẫn đến những điểm “nóng” về mặt xã hội cần phải giải quyết trong
thời gian tới.
Việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất vừa mang tính chất
kinh tế vừa mang tính chất xã hội lớn, phức tạp. Nếu chỉ giải quyết được
mặt kinh tế của vấn đề mà lại làm trầm trọng thêm mặt xã hội thì hiệu
quả kinh tế sẽ rất hạn chế, nếu không muốn nói là không thành công.
Con số thống kê cho thấy, hiện nay trung bình mỗi hộ nông dân có
1,5 lao động, việc thu hồi đất nông nghiệp và đất ở trong những năm
qua đã tác động đến khoảng 950.000 lao động. Với một lượng lớn lao
động như vậy, việc giải quyết việc làm gặp vô vàn khó khăn. Hầu hết các
tỉnh đều thừa nhận, lượng lao động bị thu hồi đất nông nghiệp vào làm
tại các khu công nghiệp có thể đếm trên đầu ngón tay. Mặc dù các
doanh nghiệp cũng có đăng tuyển dụng lao động, nhưng một lượng lớn
lao động địa phương chỉ làm được một thời gian rồi lại bỏ.
Nguyên nhân một phần do các doanh nghiệp trả lương thấp (lao
động phổ thông), một phần cũng phải kể đến một số doanh nghiệp “ma”
lợi dụng sức lao động, yêu cầu người lao động thử việc 2-3 tháng với
6
đồng nhưng chỉ sau 1-2 năm lại trở thành hộ nghèo.
Không chỉ nguy cơ thất nghiệp, nghèo đói đe dọa người nông dân
bị mất đất sản xuất mà nó còn kéo theo nhiều hệ lụy khác. Chẳng hạn
vấn đề an ninh nông thôn cũng bị xáo trộn đáng kể khi có một lượng lớn
người thất nghiệp tại địa phương, cùng với một lượng lớn lao động từ
các nơi khác đổ về
IV. Một số giải pháp và kết luận
1 - Đào tạo, dạy nghề cho lao động mất việc làm do chuyển đổi mục
đích sử dụng đất để thu hút họ vào các khu công nghiệp, khu chế
xuất hoặc du nhập nghề mới ở địa phương bị thu hồi đất.
7
Nhu cầu sử dụng lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất
rất lớn, nên việc đào tạo, dạy nghề cho lao động mất việc làm là hướng
trọng điểm.Trước hết, cần chú trọng phát triển mở rộng dạy bổ túc văn
hóa cho lao động trẻ, khỏe dưới 35 tuổi để họ có đủ trình độ vào các lớp
đào tạo tập trung theo học những nghề mà khu công nghiệp, khu chế
xuất cần tuyển dụng.
Mô hình tạo việc làm thông qua du nhập ngành nghề thủ công và
hình thành, phát triển làng nghề được các địa phương Hải Dương và
Vĩnh Phúc, Hà Tây rất chú trọng. Các nghề thu hút được nhiều người
vào làm việc như: dệt chiếu, mây tre đan, gốm sứ, chế biến thực phẩm,
sản xuất đồ gỗ, hàng thêu, thảm Những nghề này thu nhập còn thấp
nhưng dễ học và quy mô sản xuất có thể mở rộng, sản phẩm được mua,
bán trao đổi với số lượng lớn trên thị trường trong nước và cả quốc tế,
đem lại nguồn lợi cho người lao động và tăng thu nhập ngân sách địa
phương.
Lao động nông thôn rất cần được đào tạo, dạy nghề, họ cần có
trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức để đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế của đất nước. Vì vậy, chiến lược phát triển nguồn nhân lực,
đầu tư giáo dục cho học sinh nông thôn ngay từ nhỏ là rất cần thiết. Các
hoạt, cũng có thể do chương trình chưa bám sát nhu cầu thực tế của
người muốn học và một phần do khả năng tiếp thu hạn chế của người
được học.
Tình trạng này tiếp diễn sẽ hạn chế đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật
và chuyển giao công nghệ thích hợp vào phát triển sản xuất ở nông
thôn. Vì vậy, rất cần những cán bộ kỹ thuật kiên trì bám sát cơ sở,
hướng dẫn chỉ bảo kỹ thuật theo cách cầm tay chỉ việc và hướng dẫn
đầu bờ trong thời gian dài, giúp họ tin tưởng và tuân thủ hướng dẫn kỹ
thuật đã được dạy, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số
2 - Thu hút lao động mất việc làm vào các khu công nghiệp, khu
chế xuất và khuyến khích các hộ gia đình dành tiền nhận đền bù
vào việc học nghề tạo việc làm
Việc thu hút lao động mất việc làm do bị thu hồi đất vào các khu
công nghiệp phụ thuộc vào các quy định cụ thể ràng buộc với các chủ
dự án sử dụng đất để họ cam kết sử dụng lao động tại chỗ. Các chính
sách thu hút lao động vào khu công nghiệp cần được nhanh chóng sửa
đổi cho phù hợp. Có cơ chế hỗ trợ cho các trung tâm dạy nghề tại địa
phương để đào tạo nghề có địa chỉ và đạt chất lượng cao. Đối với các
hộ bị thu hồi đất, tiền đền bù là tài sản quý giá nên cần phải được tuyên
truyền, hướng dẫn họ sử dụng hợp lý. Chính quyền các cấp cần giúp đối
tượng này lựa chọn ngành nghề đào tạo mà các khu công nghiệp đang
cần tuyển dụng lao động. Cùng với hỗ trợ tiền đào tạo từ ngân sách địa
phương, nên khuyến khích các hộ sử dụng tiền được đền bù để cho con
em họ, học nghề, học ngoại ngữ và tạo điều kiện cho họ đi lao động
xuất khẩu, khuyến khích lao động xuất khẩu gửi tiền về đầu tư vào sản
xuất kinh doanh, tạo việc làm.
3 - Với đối tượng người lao động tuổi từ trên 35, khó có khả năng
chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất, Nhà nước cần có chính
sách dành cấp một phần đất trong hoặc sát với khu công nghiệp để
tổ chức các hoạt động dịch vụ
thuật, loại hình nghề nghiệp, sức khỏe và giới tính cần tuyển dụng từ đó
đặt ra yêu cầu về tài chính từ ngân sách địa phương hỗ trợ đào tạo
chuyển đổi nghề cho lao động mất việc làm.
Mạng lưới đào tạo nghề phải được phân bố đều, thủ tục hành
chính thuận lợi. Cơ sở đào tạo nghề phải đáp ứng được qui mô đào tạo,
loại hình chất lượng nghề đào tạo để sau khi tốt nghiệp, học viên có thể
tìm được việc làm ngay trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Chú
trọng nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng cách thu hút đội ngũ các
nhà chuyên môn - kỹ thuật, nhà khoa học của các trường, viện nghiên
cứu, trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ đóng trên địa bàn để
mời tham gia đào tạo nhân lực lao động chất lượng cao.
Ngoài việc thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo
mới cần phải hình thành cơ chế, hình thức thích hợp đào tạo lại, đào tạo
nâng cao kiến thức, tay nghề thường xuyên cho người lao động. Mạng
lưới đào tạo lại, đào tạo nâng cao phải đáp ứng phổ biến, thuận lợi cho
nhu cầu của tất cả những người lao động có thể tham gia học tâp. Đào
10
tạo lại, đào tạo nâng cao phải bao trùm ở tất cả các cấp trình độ: trên đại
học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và sơ cấp, công nhân
kỹ thuật.
Lập quỹ đào tạo nghề, thực hiện xã hội hóa việc huy động các
nguồn quỹ từ: ngân sách nhà nước trung ương và địa phương, đóng
góp của các doanh nghiệp, đóng góp của các chủ dự án sử dụng đất và
sự đóng góp của các tổ chức xã hội, Hiệp hội nghề nghiệp, của Chính
phủ và tổ chức quốc tế
6. Quan tâm tới môi trường làm việc
Môi trường và điều kiện làm việc hiện nay của lao động nông
nghiệp nông thôn hiện nay đang là vấn đề cần phải bàn đến. Đã có
nhiều lao động bị bệnh nghề nghiệp, nhiều người bị tai nạn lao động từ
môi trường và điều kiện làm việc này bởi vi phạm vệ sinh an toàn. Ô
đó mà nâng cao đời sống và thu nhập của người lao động. Thời gian tới
cần đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa và phát triển mạnh các khu kinh tế vệ
tinh và các làng nghề nhằm thu hút lao động nông thôn tại chỗ, tạo sự
liên kết kinh tế giữa các khu công nghiệp với nông thôn, giữa sản xuất
công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ, đặc biệt khai thác mỗi liên kết
kinh tế giữa các thành phố lớn với các khu vực phụ cận.
Chính sách khuyến công, khuyến nông đang được triển khai thực
hiện song cần đầu tư nhiều hơn cả về cán bộ kỹ thuật lẫn đầu tư vật
chất để công tác chuyển giao kỹ thuật tới người nông dân đạt hiệu quả
cao nhất. bên cạnh đó, cần có chính sách qui hoạch hợp lý về cây, con
giống và tạo được các thị trường nông sản hàng hóa có giá trị trên khắp
khu vực nông thôn. Đối với vùng sâu, vùng xa Nhà nước nên có chính
sách thu mua hợp lý, tránh tình trạng thay đổi cây trồng, vật nuôi một
cách tự phát, ảnh hưởng trực tiêp tới đời sống của người lao động. Đặc
biệt, đối với thị trường cây công nghiệp và cây ăn quả thất thường như
cà phê, hồ tiêu, vải, … Thay đổi các loại cây trồng không nằm trong qui
hoạch sẽ làm tổn thất vốn liếng đầu tư, vừa làm thị trường bất ổn và gây
méo mó về giá cả.
Kinh tế Việt nam phát triển theo hướng kinh tế thị trường, các sản
phẩm đưa ra đều phải có khả năng cạnh tranh thì mới có chỗ đứng trong
thị trường. Sản phẩm nông nghiệp không phải là ngoại lệ, nó cần được
nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị của sản phẩm, bên cạnh đó các
TT hàng hóa, TT đất đai, TT vốn, TT lao động và TT tín dụng cần phát
triển đồng bộ. Các thị trường này một mặt phải hoà nhập với thị trường
trong nước, mặt khác phải hướng vào xuất khẩu để hoà nhập với thị
trường ngoài nước (đặc biệt là thị trường hàng hoá). Thiếu một trong
các thị trường này kinh tế nông thôn phát triển sẽ kém hiệu quả, ảnh
hưởng tới chuyển dịch cơ cấu lao động.
CNH nông thôn là chủ trương xây dựng nông thôn Việt nam phát
triển bền vững và thu hẹp khoảng cách khác biệt giữa nông thôn-thành