Thực trạng và giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động trong quá trình ĐTH nông thôn ở huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương - Pdf 12

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Mở cửa hội nhập kinh tế và khu vực đất nước ta gặp phải nhiều thách thức, khó
khăn song nó cũng tạo cơ hội lớn cho sự phát triển. Qúa trình CNH, HĐH đất nước
diễn ra với tốc độ nhanh, đã và đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp
sang sản xuất công nghiệp. Dưới sự tác động CNH, HĐH nhanh như vậy tất yếu sẽ
đẩy mạnh quá trình ĐTH. Một khi Đô thị hoá diễn ra trước hết là ở các trung tâm
kinh tế, các khu công nghiệp sau đó lan tỏa đến khu vực khác như nông thôn.
Hiện nay, ở nước ta ĐTH diễn ra rất nhanh và mạnh mẽ, ĐTH có tác động tích
cực đến phát triển văn hoá xã hội và là kết quả tất yếu của CNH, HĐH. Lúc này cơ
sở vật chất được nâng cấp và xây dựng hiện đại tạo môi trường tốt cho tất cả các
ngành kinh tế tăng trưởng, phát triển. Do vậy ĐTH là điều kiện thuận lợi cho tất cả
thành viên trong xã hội đặc biệt là người dân nông thôn có cơ hội tiếpcận nhanh với
thị trường nên giảm được khả năng sản phẩm không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ với
giá thấp mang lại hiệu quả kém. Từ đây người nông dân tiếp xúc nền sản xuất hàng
hoá để đáp ứng yêu cầu khó khăn đặt ra trong bối cảnh kinh tế có nhiều thay đổi.
Kinh Môn là huyện đang ngày càng đổi mới tốc độ tăng trưởng các ngành công
nghiệp nhanh. Cho nên quá trình ĐTH nông thôn được diễn ra trên địa bàn huyện là
điều tất nhiên. Tuy vậy quá trình ĐTH đã làm gia tăng tình trạng thất nghiệp gây khó
khăn trong giải quyết việc làm, cùng với xu hướng giải phóng lao động khỏi nông
nghiệp, nông thôn. Một thực tế cho thấy lực lượng lao động được giải phóng khỏi
nông nghiệp lại chưa có đủ điều kiện và năng lực cần thiết để ngay lập tức chuyển
sang hoạt động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và thương mại, dịch vụ. Điều này đòi hỏi cần sớm nhận thức và hành động
trong lĩnh vực đào tạo nghề để trang bị kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cho người
lao động nhất là lao động trẻ giúp họ có đủ điều kiện lẫn năng lực cần thiết chuyển
đổi nghề nghiệp phù hợp nhất.
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề

nghiệp cho người lao động,… những tài liệu đã được công bố thông qua báo, tạp chí,
sách, thông tin internet,,..với phương pháp tìm đọc, sao chép, trích dẫn
- Thu thập tài liệu sơ cấp: Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ, người lao động sản
xuất kinh doanh, những người đã, đang và chưa chuyển đổi nghề nghiệp; cán bộ phụ
trách tình hình lao động, việc làm ở các phòng ban trong huyện. Từ đó ghi chép lại để
tính toán những chỉ tiêu phục vụ nghiên cứu đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa vào số liệu thống kê mô tả sự biến động, xu
hướng phát triển của hiện tượng kinh tế - xã hội để rút ra kết luận cần thiết phục vụ
cho nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế.
- Phương pháp phân tích kinh tế: Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu, vận dụng
các số tương đối, tuyệt đối, bình quân để tính toán các chỉ tiêu heo thời gian nhằm
làm rõ tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động, diễn biến ĐTH nông
thôn ở huyện. Ở đây phương pháp này cho thấy xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp
cho người lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ - thương mại.
- Phương pháp so sánh: So sánh các chỉ tiêu với nhau về thời gian giữa các năm trong
cùng một địa điểm để thấy rõ nội dung của một chỉ tiêu kinh tế nào đó.
4. Bố cục chuyên đề
Đề tài gồm có 3 phần : Ngoài phần mở đầu và kết luận báo cáo gồm:
Phần I- Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động
trong quá trình đô thị hoá nông thôn.
Phần II- Thực trạng chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động trong quá trình đô
thị hoá ở huyện Kinh Môn Hải Dương
Phần III- Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu chuyển đổi nghề nghiệp cho
người lao động trong quá trình đô thị hoá nông thôn ở huyện Kinh Môn tỉnh Hải
Dương.
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT

phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên
ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh
thổ, một tỉnh, một huyện hay một vùng trong tỉnh.
Như vậy, khái niệm Đô thị mang tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát
triển kinh tế xã hội. Nhưng nói chung có thể hiểu Đô thị là điểm tập trung dân cư với
quy mô lớn và mật độ cao, lao động chủ yếu là lao động phi nông nghiệp đồng thời
nó được thống nhất trên hai tiêu chuẩn cơ bản là những thành phố, thị xã, thị trấn có
dân số từ 2000 người trở lên và trong đó có trên 60% dân số phi nông nghiệp.
* Đô thị hoá
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
Thuật ngữ “Đô thị hoá” được sử dụng nhiều trên các phương tiện thông tin đại
chúng và trong sách vở, nhưng chưa có một khái niệm chung duy nhất. Bởi ĐTH
trong quá trình phát triển chứa đựng nhiều biểu hiện khác nhau. Do đó tuỳ những
mục đích nghiên cứu khác nhau và theo sự nhìn nhận của từng cá nhân tổ chức mà
người ta đưa ra những quan niệm về đô thị hoá, sau đây là một số khái niệm:
- Trên quan điểm một vùng: Đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các
hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
- Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là quá trình biến đổi về sự phân bố
các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành và phát
triển các hình thức, điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời đó là việc phát triển
các đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá các cơ sở vật chất đã có và
hình thành nên các đô thị mới.
- Theo quan điểm dân số: Đô thị hoá là quá trình đa dạng hoá về mặt kinh tế - xã
hội, dân số, địa lý dựa trên cơ sở các hình thức phân công lao động theo lãnh thổ.
Đô thị hoá cũng được hiểu là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức
sống đô thị của các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác
động đến đô thị hoá cũng thay đổi và lúc này xã hội phát triển với các điều kiện mới
tập trung nhất là sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động và kéo theo nhiều vấn đề
bất cập khác phải quan tâm giải quyết.

lao động vào sản xuất dần nhiều hơn và trình độ tay nghề của công nhân được nâng
cao nhưng cũng dẫn đến một lượng không nhỏ người lao động bị mất việc làm.
ĐTH là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy kinh tế xã hội
của cả nước. ĐTH có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân, góp phần
tháo gỡ những vấn đề khó khăn trước mắt của xã hội nhất là về lao động - việc làm.
Mặc dù nhà nước thường xuyên đưa ra các chính sách nhằm giải quyết việc làm cho
người dân nhưng tỷ lệ thất nghiệp còn khá cao. Nếu như vấn đề này không quan tâm
đúng mức, có giải pháp phù hợp thì đây sẽ là nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh mầm
mống tệ nạn xã hội vô cùng nghiêm trọng.
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
Thực chất quá trình ĐTH nông thôn ở nước ta đang diễn ra khá phân tán dẫn đến
việc di cư từ nông thôn ra thành thị còn khá nhiều, khoảng cách giữa nông thôn và
thành thị lại ngày càng xa hơn. Nhưng ĐTH nông thôn cũng đã tạo ra sự đa dạng các
ngành nghề kinh doanh, hình thành nhiều nghề mới trên địa bàn nông thôn và là cơ sở
thiết yếu trong việc khôi phục ngành nghề truyền thống, từ đó hình thành nhiều nghề
mới trên địa bàn nông thôn, tạo việc làm cho người lao động, tác động tích cực đến
thu nhập và đời sống của người dân.
Theo số liệu thống kê năm 2006, kết quả quá trình mở rộng và phát triển đô thị đã
đóng góp tỷ trọng lớn (40%) thu nhập quốc dân, 36% ngân sách nhà nước, tỷ lệ dân
cư, lao động giữa thành thị và nông thôn lần lượt là 20/80 và 23/27 Như vậy đóng
góp của đô thị vào ngân sách chiếm tỷ trọng khá cao.
1.1.1.3. Đặc trưng của Đô thị hoá
Do có mối quan hệ rất khăng khít giữa các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hoá,
không gian nên quá trình đô thị hoá ở mỗi nước diễn ra rất khác nhau, giữa các nước
phát triển đến nước đang phát triển; giữa các nước Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ.
Còn trong mỗi một xã hội với phương thức tổ chức sản xuất riêng, với trình độ phát
triển lực lượng sản xuất nhất định, nền văn hoá đặc thù thì quá trình ĐTH cũng lại
mang sắc thái riêng. Chính vì vậy trong mỗi quốc gia, mỗi một vùng, ĐTH có những
đặc điểm riêng biệt.

các khu đô thị mới, các quận, phường mới đó sẽ dẫn đến dân số và diện tích đô thị
tăng lên một cách nhanh chóng. Hiện nay người ta hay đề cập đến ĐTH nông thôn đó
không phải là quá trình biến đổi nông thôn thành đô thị mà thực chất là quá trình phát
triển nông thôn về kinh tế - xã hội, từ đó hình thành lối sống đô thị ở nông thôn. Đây
là xu hướng tăng trưởng ĐTH theo hướng bền vững.
- ĐTH gắn liền sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị và nông thôn trên
cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng và dịch vụ. Hiện đại hoá,
nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trình thường xuyên, không thể thiếu của
quá trình tăng trưởng và phát triển. Do vậy quá trình ĐTH làm mở rộng địa bàn đô
thị, tăng cường kết cấu hạ tầng đô thị, kinh tế phát triển nâng cao đời sống nhân dân
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
đô thị. Tuy nhiên, quá trình này cũng đòi hỏi phải điều tiết, tận dụng tối đa những
tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hoá trong mọi lĩnh
vực. Như vậy, ĐTH không thể tách rời chế độ kinh tế - xã hội.
Phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình ĐTH phụ thuộc vào trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Ở các nước phát triển, đặc
trưng ĐTH là sự phát triển các nhân tố chiều sâu. ĐTH nâng cao đời sống, việc làm
và công bằng xã hội, xóa dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Đối với nước
đang phát triển, như Việt Nam, ĐTH đặc trưng cho sự bùng nổ dân số, còn việc phát
triển công nghiệp, công bằng, việc làm… lại tỏ ra yếu kém. Sự phát triển chênh lệch
về kinh tế - xã hội mất cân đối và độc quyền xảy ra làm cho mâu thuẫn giữa thành thị
và nông thôn trở nên sâu sắc.
1.1.2. Tính tất yếu của đô thị hoá.
Thực tiễn hiện nay trên thế giới cho thấy những nước có nền kinh tế phát triển
đều trải qua quá trình CNH đất nước. Đó là quá trình hình thành và phát triển hệ
thống cơ sở vật chất của các ngành kinh tế quốc dân mà trước hết là các ngành công
nghiệp, đồng thời đó cũng là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trên phạm vi cả nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế, yêu cầu nâng cao đời sống mọi mặt của dân cư. Cho nên CNH sẽ dẫn tới sự biến

thị.
Qua sự phân tích trên cho thấy, quá trình ĐTH diễn ra là một tất yếu khách quan
đối với mỗi nước, dù là nước đang phát triển hay nước đã phát triển.
1.1.3. Tác động của đô thị hoá đến lao động - việc làm
Qúa trình ĐTH dù diễn ra theo hình thức mở rộng quy mô diện tích đô thị hay
nâng cao trình độ các đô thị hiện có đều dẫn đến những tác động không nhỏ đối với
người lao động và việc làm. ĐTH làm chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm từ khu
vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ; từ khu vực kinh tế nhà nước
sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đây là dòng dịch chuyển lao động, việc làm
tất yếu trong quá trình ĐTH. Do đó cần phải đánh giá những ảnh hưởng của ĐTH
đến lao động, việc làm để phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực.
1.1.3.1. Tác động đến người lao động
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
ĐTH mở rộng diện tích đô thị làm giảm quỹ đất canh tác nông nghiệp để phục vụ
cho việc phát triển đô thị; phát triển cơ sở hạ tầng; xây dựng và phát triển các khu
công nghiệp, dịch vụ; các công trình công cộng; các khu dân cư mới. Điều này khiến
cho một bộ phận người nông dân không còn đất để sản xuất, vì vậy họ phải chuyển
sang hoạt động phi nông nghiệp. Cho nên dẫn tới tình trạng dư thừa lao động đặc biệt
là lao động nông nghiệp gây ra khó khăn trong giải quyết việc làm. Bởi vì trình độ
lao động nông nghiệp rất thấp, lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, trong khi
các khu đô thị hoá lại chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ nên số lao động nông nghiệp khi tham gia chưa thể đáp ứng ngay
được yêu cầu của các ngành này.
ĐTH còn góp phần nâng cao giá trị do lao động tạo ra. Vì cùng với quá trình ĐTH
thì quá trình CNH, HĐH cũng phát triển mạnh mẽ do đó các thành tựu về khoa học
kỹ thuật ngày càng tiên tiến hiện đại hơn sẽ được áp dụng rộng rãi vào đời sống sản
xuất nhờ thế năng suất lao động cũng như trình độ người lao động tăng lên. Đồng
thời ở các vùng đô thị sự phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng
giúp cho con người có nhiều điều kiện thuận lợi để học tập, trao đổi thông tin nâng

thiện cuộc sống. Tuy nhiên điều này dẫn đến sự chênh lệch giữa nông thôn và thành
thị càng lớn, tạo ra sức hấp dẫn người dân từ nông thôn đến thành thị và tất nhiên sẽ
tạo ra một làn sóng di dân gây nên tình trạng quá tải, bùng nổ dân số. Hiện tượng này
khiến cho trong một thời gian ngắn số người không có việc làm lớn, tỷ lệ thất nghiệp
tại các đô thị cao, tạo sức ép giải quyết việc làm và làm cho sự chênh lệch trong thu
nhập là điều không thể tránh khỏi. Nông nghiệp là ngành có thu nhập thấp, lao động
nặng nhọc. Chính vì vậy sức hấp dẫn của nông nghiệp ngày càng giảm sút. Đó là tác
động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp cần phải lưu ý nhiều trong quá trình ĐTH.
Khi tập quá sinh hoạt, lối sống, phương thức kiếm sống thay đổi đã kéo theo các
nhu cầu về giáo dục, y tế tăng lên. Song điều đó cũng lại làm cho vấn đề an ninh, tệ
nạn xã hội và khoảng cách giàu nghèo trở nên khó kiểm soát hơn trong quá trình
ĐTH. Điều đó đòi hỏi phải có sự quan tâm, lưu ý, có những giải pháp phối hợp tổng
thể thường xuyên ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và nhiều thành phần kinh tế trong xã
hội để vấn đề nan giải này được giải quyết tốt nhất.
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
1.2. Sự cần thiết phải chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động trong quá
trình đô thị hoá nông thôn
1.2.1. Chuyển đổi nghề nghiệp
Theo tác giả E.A.Klimov
(1)
thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao
động vật chất và tinh thần của cong người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội
(do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo ra cho con người khả năng sử dụng
lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát
triển”.
Nghề hay nghề nghiệp, Đại từ điển tiếng Việt
(2)
,
1

phải chuyển đổi từ nghề này sang nghề khác để thích hợp với xu hướng hay yêu cầu
phát triển nói chung của xã hội.
Do tình hình các nghề và việc làm ngày nay thường xuyên thay đổi nên việc
chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động đang là vấn đề được sự quan tâm chú ý
của xã hội.
Từ sự nhìn nhận trên, có thể hiểu chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động là
việc người lao động xem xét, lựa chọn lại nghề nghiệp của mình sao cho phù hợp
hơn với đặc điểm, khả năng của bản thân và với yêu cầu đang thay đổi của xã hội.
1.2.2. Sự cần thiết phải chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động
Một điều rõ ràng mà chúng ta nhận thấy là quá trình ĐTH, CNH và HĐH diễn
ra đã dẫn đến rất nhiều thay đổi ngay cả trong cuộc sống đời thường hàng ngày của
mỗi người. Qúa trình này có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đồng thời
cũng tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động. Vì vậy nếu xét dưới góc độ cá nhân
người lao động, quá trình ĐTH sẽ khiến cho công việc, nghề nghiệp của họ có những
thay đổi. Người lao động ở mọi trình độ đào tạo luôn mong muốn có một công việc
ổn định phù hợp với khả năng lao động và có thu nhập đáp ứng nhu cầu tiêu dùng,
mức sống chung cho chính bản thân và cả gia đình họ. Thế nhưng do quá trình đô thị
hóa mà người lao động nông thôn nhất là lao động nông nghiệp phải chuyển đổi nghề
nghiệp thì mới có thể kiếm sống để tồn tại được.
Đồng thời, khi kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của tất cả các ngành sản
xuất kinh doanh, làm cho các ngành này được nâng cấp đổi mới để đáp ứng thị
trường cả trong nước và ngoài nước. Vì vậy nguồn nhân lực trong các ngành, lĩnh
vực này đòi hỏi phải được đào tạo nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu yêu cầu. Do
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
đó chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động là điều cần thiết giúp người lao động
có được ngành nghề khác theo xu hướng tất yếu.
Đặc biệt ở nông thôn quá trình ĐTH đang diễn ra làm người nông dân bị mất một
phần ruộng đất canh tác, họ rơi vào tình trạng thất nghiệp, không có việc làm. Cho
nên việc chuyển đổi nghề nghiệp cho bộ phận người lao động này là rất cần thiết

cao trình độ, khả năng thích ứng, khả năng hoà nhập,… vào thị trường lao động.
Điều này dẫn đến một bộ phận người lao động có năng lực, nhạy bén với thời cuộc sẽ
tìm kiếm việc làm để chuyển đổi nghề nghiệp của bản thân.
Bên cạnh đó sự phát triển kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế, tỷ trọng công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ cũng biến đổi theo nên đặt ra nhu cầu về lực lượng lao
động mới ở cả số lượng lẫn chất lượng. Thể hiện ra bên ngoài là sự xuất hiện của
nhiều doanh nghiệp, khu công nghiệp,… với thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên
tiến. Do đó tạo ra khối lượng lớn về việc làm nhất là việc làm phi nông nghiệp, nó
đòi hỏi người lao động phải có một trình độ, khả năng nhất định nào đó. Xã hội càng
phát triển càng được ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật thì rất cần những
người lao động giỏi, có trình độ tay nghề cao. Chính vì vậy để hội nhập nền kinh tế
mới phát triển, tiếp cận và theo kịp sự phát triển của nhân loại phải có một đội ngũ
những người lao động giỏi cả về khả năng, trình độ và chuyên môn.
1.3.2. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Một trong đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế hiện đại là tốc độ phát triển công
nghệ và sự đổi mới kiến thức của người lao động diễn ra nhanh chóng. Cho nên,
người lao động phải tiếp tục học tập và được đào tạo suốt cuộc đời lao động của
mình để theo kịp với tiến bộ đó. Đồng thời, cách mạng khoa học công nghệ dẫn đến
sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới tác động không nhỏ đến đào chuyển đổi nghề
nghiệp cho người lao động.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay đang đặt ra những yêu cầu cao về trí
tuệ của người lao động. Những nghề mới ra đời làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu
hút thêm nhiều lao động nhưng lại khiến cho người lao động có những quyết định
mới trong công việc. Người lao động không thể dậm chân tại chỗ mà phải biết tìm
tòi, học hỏi để theo kịp tốc độ phát triển chóng mặt của thế giới.
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
Tất cả điều đó ảnh hưởng đến người lao động đặc biệt đối với số lượng lớn người
lao động đang không có việc làm hay việc làm không phù hợp. Và như thế nó có tác
động đến chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động.

xuất và quan hệ sản xuất sẽ quyết định đến tốc độ và hướng phát triển của ĐTH. Sở
dĩ ở những nơi có ĐTH sớm, tốc độ nhanh là do yếu tố con người quyết định.
Qúa trình ĐTH cùng với việc làm tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi cơ cấu
kinh tế và tăng việc làm. Trước hết là cơ cấu ngành nghề phải chuyển đổi sao cho
phù hợp cơ cấu ngành nghề của kinh tế đô thị. Do đó việc này làm ảnh hưởng đến
chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động. Với bản thân mỗi người cần cân nhắc
trong hoạt động chọn nghề. Bởi vì muốn làm nghề gì trước hết tự bản thân mỗi người
phải xác định xem có thích hợp nó hay không. Nếu như không thích hợp, không có
khả năng thì không nên chọn vì rằng chúng ta không thể thay đổi nghề nghiệp một
cách dễ dàng được. Hơn nữa, con người cũng không thể thích là chuyển đổi sang
nghề khác ngay được
Như vậy, chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động trong quá trình ĐTH nông
thôn dù ít hay nhiều đều bị ảnh hưởng của chính bản thân mỗi người lao động. Nếu
như người lao động quyết định và tìm mọi cách thực hiện thì việc chuyển sang một
nghề mới sẽ có thể diễn ra, còn nếu họ không muốn và không buộc phải chuyển đổi
thì dù thế nào đi chăng nữa việc chuyển đổi nghề nghiệp không tiến hành được.
Trên đây đã trình bày một số nhân tố chủ yếu tác động đến việc chuyển đổi nghề
nghiệp cho người lao động. Song trong thực tế ở từng thời điểm khác nhau sẽ có
những nhân tố thuận lợi và nhân tố hạn chế cản trở sự chuyển đổi. Đối với nhân tố
thuận lợi cần khai thác, nhưng đối với nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để
khắc phục trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn. Vấn đề mấu chốt
của việc chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động là tìm ra hướng chuyển đổi phù
hợp đối với từng người, từng đối tượng lao động.
1.4. Xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động trong quá trình đô
thị hoá nông thôn.
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
Qúa trình ĐTH cùng CNH, HĐH đã làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi và đồng thời
với đó là quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động. Đây thực chất là quá trình giảm dần
lao động nông nghiệp, tăng lao động các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có

ĐTH là điều kiện để cho những kỹ thuật tiến bộ được đưa vào sản xuất nên đòi hỏi
một lực lượng lao động có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cao. Do đó tự nó sẽ
hướng một bộ phận lớn dân số vào chuyển đổi nghề nghiệp. Xu hướng này phần nào
làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trước mắt và tạo ra nguồn lao động chất lượng tốt thoả
mãn đòi hỏi của nền sản xuất phát triển trong tương lai. Vì vậy, chuyển đổi nghề
nghiệp cho người lao động tập trung vào nghề có hàm lượng tri thức và khoa học
công nghệ cao hơn.
Ngoài ra ĐTH cùng với CNH và HĐH là quá trình tạo ra cuộc cách mạng về phân
công lao động xã hội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo thêm nhiều ngành nghề
mới ở nông thôn. Đồng thời nhà nước và các tổ chức xã hội có điều kiện giúp đỡ
nông dân về vốn, kỹ thuật công nghệ để tự tổ chức ngành nghề, tự tạo thêm nhiều
việc làm khác. Với việc tạo thêm nhiều ngành nghề, nhiều khu vực công nghiệp trung
tâm, những khu công nghiệp và dịch vụ ngay tại khu vực nông thôn này là nơi thu hút
nhiều lao động vào làm việc, giải quyết vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp.
Như vậy có thể thấy tác động tích cực của ĐTH đến việc chuyển đổi nghề
nghiệp cho người lao động qua quy mô số lượng nghề nghiệp tăng, cơ hội lựa chọn
nghề cũng nhiều hơn và dễ dàng hơn trước.
1.5.2. Tác động tiêu cực
ĐTH, CNH - HĐH trong nền kinh tế thị trường tất yếu tồn tại một bộ phận không
có việc làm dẫn đến tình trạng thất nghiệp xảy ra và người thiếu việc làm này chủ yếu
là lực lượng lao động trong nông nghiệp. Ngoài ra ĐTH còn rút bớt lượng lớn lao
động nông nghiệp chuyển sang cụm, khu công nghiệp, các làng nghề. Điều này dẫn
đến việc chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động gặp khó khăn bởi yêu cầu của
công việc mới đòi hỏi khắt khe với nhiều tiêu chuẩn mà không dễ gì ai cũng có thể
đáp ứng được.
Khi quá trình ĐTH tiếp cận đến các vùng nông thôn làm một phần diện tích đất
nông nghiệp biến thành đất đô thị nên người nông dân không còn đất để sản xuất, vì
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
vậy buộc họ phải tự tìm cho mình những công việc khác để kiếm sống. Cho nên,

được những thành công nhất định. Họ đã nhận ra rằng các cơ quan chính phủ không
thể giải quyết được mà không cần phải xã hội hoá công tác tạo việc làm tại các đô thị.
Chính vì vậy, tại các đô thị Trung Quốc đã lập ra nhiều trung tâm xúc tiến việc làm
tại các phường. Các trung tâm này hoạt động dưới sự giúp đỡ và giám sát chặt chẽ
của chính quyền các đô thị.
Mặt khác, quá trình ĐTH, CNH và HĐH diễn ra nhanh làm diện tích đất canh tác
ngày càng bị thu hẹp dẫn tới hàng triệu lao động nông thôn không có việc làm và
thiếu việc làm ở mức nghiêm trọng. Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc rất
coi trọng công tác đào tạo nghề, dạy nghề phát triển nguồn nhân lực cho nông thôn để
tạo việc làm cho lao động nông thôn ngay tại địa phương. Chính phủ có chính sách
khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề, dạy nghề tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn
kỹ thuật cho khu vực ĐTH để tạo điều kiện cho lao động nông thôn chuyển sang làm
việc tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các cụm kinh tế
mở,…Vì vậy đào tạo cho lao động nông thôn để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động
trong các ngành mới ở các vùng ĐTH nhanh được chính phủ và chính quyền các địa
phương rất quan tâm.
Lực lượng lao động nông thôn dư thừa đã gây nhiều khó khăn trong công tác giải
quyết việc làm cho người lao động. Trung Quốc đã tìm các biện pháp nhằm giảm sức
ép về việc làm đô thị, đó là:
- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút việc làm, giảm sức ép đô thị. Nhờ
thúc đẩy phát triển các xí nghiệp (doanh nghiệp) địa phương nên Trung Quốc đã giải
quyết một phần việc làm cho người lao động. Các chính sách khuyến khích đầu tư
của nhà nước đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương, tạo ra rất
nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn. Khuyến khích xây dựng
các doanh nghiệp địa phương là một trong những giải pháp quan trọng của Trung
Quốc nhằm giải quyết việc làm nông thôn góp phần giúp người lao động chuyển đổi
nghề nghiệp thuận lợi.
- Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vaò các
thành phố lớn: Sự phát triển các đô thị nhỏ ở vùng nông thôn cùng với CNH nông
Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45

Bïi Hång Hoa N«ng nghiÖp 45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa NN&PTNT
nghề cho người lao động ở nông thôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
Ở Singapo mặc dù là nước nhỏ, đa số lao động hoạt động trong ngành dịch vụ
nhưng chính phủ đã tích cực triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực, xây
dựng quỹ phát triển kỹ năng (SDF) và chương trình tái phát triển kỹ năng (SRP) để
đào tạo, nâng cao kỹ năng cho người lao động. Đặc biệt, người lao động nông thôn
được nâng cao trình độ và nhận được chứng chỉ nghề, khi cần thiết họ có thể chuyển
đổi nghề nghiệp hoặc tìm việc trên thị trường lao động.
Một số nước ASEAN như Thái Lan, Singapo có dịch vụ du lịch rất phát triển kể
cả ở nông thôn (du lịch sinh thái, văn hoá,...), trong đó vai trò của công ty du lịch rất
quan trọng đối với đào tạo nghiệp vụ du lịch cho lao động nông thôn, đảm bảo phát
triển và thực hiện các dịch vụ này mang tính văn minh và hiệu quả. Đối với một số
vùng ngoại ô thủ đô của nhiều nước ASEAN, phần lớn lao động nông thôn đã chuyển
sang các hoạt động dịch vụ.
Trong chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nông thôn, chính phủ các nước
Philipin, Thái Lan,…rất chú trọng đào tạo nghề phục vụ cho xuất khẩu lao động.
Hàng năm, xuất khẩu lao động đã giải quyết được hàng trăm nghìn việc làm cho lao
động nông thôn của các nước này, tạo điều kiện cho quá trình ĐTH được thuận lợi,
đặc biệt ở vùng ngoại ô các thành phố lớn và các thành phố mới xây dựng, thành phố
đang phát triển quy mô. Đồng thời khi trở về nước nhờ tay nghề được nâng cao, tư
duy kinh tế rộng mở hơn và có một số vốn trong tay nên khả năng tạo việc làm và tìm
việc làm của những người lao động này là rất lớn.
1.6.2. Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam
* Bài học ở thành phố Đà Nẵng
Tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng biến đổi Đà Nẵng trở thành một thành phố
trẻ, năng động với 7 quận, huyện chứa gần 800 ngàn dân, trong đó, 86,2% cư dân đô
thị sống trong các khu phố văn minh. Một trong những thành công lớn nhất của Đà
Nẵng là đẩy mạnh hiện đại hóa, đô thị hóa gắn liền với giải quyết tốt các vấn đề xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status